Trương Chính (1916 –2004)


Tên thật là Bùi Trương Chính. Các bút danh: Trương Chính, Nhất Chi Mai, Nhất Văn…. Sinh ngày 16 tháng 7 năm 1916. Quê quán: huyện Can Lộc, Hà Tĩnh.

Cầm bút viết văn từ năm 20 tuổi (1936), bằng những bài phê bình văn học, lúc đầu không đăng báo, sau tập hợp lại thành sáchDưới mắt tôi(1939). Tác giả tuy còn trẻ vẫn mạnh dạn  đưa ra những nhận xét thẳng thắn (đôi khi thái quá) về những cái được và những chỗ còn yếu kém của một số tác giả tiểu thuyết đương thời. Vì lối viết quá bạo, không kiêng dè khi nhìn nhận sở trường, sở đoản của các cây bút có tiếng trong làng văn, do áp lực từ nhiều phía, tác phẩm bị ghẻ lạnh, không gây được dư luận sôi nổi.

Năm 1941, ông cho xuất bản cuốn sách thứ hai, nhan đề Những bông hoa dại, bình luận về dân ca, ca dao truyền thống của Việt Nam – trước đó đã được đăng tải trên báo địa phương. Với hai tác phẩm nói trên, ông đã được Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (quyển III, 1942) xếp vào hàng ngũ  những nhà phê bình còn thưa vắng của văn học Việt Nam hiện đại.

Sau Cách mạng tháng Tám, mấy năm đầu, ông lên Việt Bắc làm việc ở Bộ Giao thông – Công chính, nên tạm dừng việc viết lách. Mãi từ sau 1952, khi ông chuyển sang nghành giáo dục, đảm nhiệm việc dịch sách và biên soạn sách giáo khoa văn học, ông lại có dịp cầm bút trở lại. Là thành viên của nhóm  Lê Quý Đôn, ông là đồng tác giả bộ Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam(3 tập, 1957). Ông cũng là đồng tác giả cuốn Giáo trình Lịch sử văn học TrungQuốc (1961 -1987).

Do học tập mà thông thạo chữ Hán và tiếng Trung Quốc, ông dịch thành công một số tác phẩm văn học Trung Quốc hiện đại  hoặc tiểu thuyết của Bắc Á, Châu Âu ra tiếng Việt, qua bản tiếng Trung Quốc.

Tâm huyết theo đuổi nghiệp phê bình, nghiên cứu, giờ đây ông tập trung viết các bài phê bình, khảo luận công phu về các tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam thời trung đại (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ…). Ông xem các áng văn thơ tiêu biểu của họ là hương hoa của đất nước mà đời nay cần phải trân trọng, tìm hiểu, học lấy các phần tinh túy trong tư tưởng nghệ thuật và bút pháp điêu luyện của người xưa. Qua các tiểu luận, ông đặc biệt chú ý nhấn mạnh việc cần nghiên cứu so sánh về mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại , về các nguồn ảnh hưởng đáng kể từ bên ngoài đối với nền văn học dân tộc nước ta trong thời quá khứ cũng như trong hiện tại.

Ông cũng dành bút lực để viết về các tác giả tiêu biểu của trào lưu văn học cách mạng, văn học hiện thực phê phán… trong văn học hiện đại Việt Nam (Nguyễn Ái Quốc, Hải Triều, Đặng Thái Mai, Hoài Thanh, Ngô Tất Tố…), Nhiều người trong số này được ông viết thành chùm bài, từng bài đi sâu vào một vài khía cạnh hoặc xem xét đời văn của họ dưới các góc độ tiếp cận khác nhau xung quanh tư duy nghệ thuật, chủ đề tư tưởng, bút pháp và phong cách. Những bài viết nói trên được công bố rải rác trên báo chí, sau tập hợp thành sách, như: Hương hoa đất nước (1979),  Tuyển tập Trương Chính,  tập I, tập II (1956).

Tính cho đến lúc qua đời ở tuổi 88 (2004), trong gần 70 năm cầm bút viết phê bình, nghiên cứu và dịch thuật, Trương Chính đã để lại hàng nghìn trang in thành sách. Thuộc thế hệ tiên khu mở đường cho nền phê bình văn học non trẻ của văn học Việt Nam hiện đại ,  dần dà với thời gian và kinh

lịch, cây bút phê bình Trương Chính ngày một mở rộng diện khảo sát, bút lực thêm già dặn, uyển chuyển, đằm sâu. Ông vẫn giữ được sự say mê, nhưng mực thước, sáng sủa, súc tích và lão thực trong một văn phong truyền cảm ,thâm hậu.

Nhà nước Việt Nam đã trao tặng Trương Chính Giải thưởng  Nhà nước về văn học, nghệ thuật ( 2001).

 

Nguồn: Nguyễn Ngọc Thiện, Lý luận phê bình và đời sống văn chương. Nxb. Hội Nhà văn,2010. Bản vi  tínhCopyright © 2013 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply