Truyện kì ảo Việt Nam trong đời sống văn học đương đại


Bùi Thanh Truyền

1. Truyện thần linh, quái dị là một bộ phận gắn liền với sự sinh thành của lịch sử văn học Việt Nam và cũng là khu vực hứng chịu nhiều nhất những ba động của thời đại. Thời phong kiến, với quan niệm “kính quỷ thần nhi viễn chi”, đây là vùng “cấm địa” đối với những môn đệ của cửa Khổng sân Trình. Từ sau năm 1945 đến 1985, trước những yêu cầu bức thiết của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và củng cố chính quyền, xây dựng đất nước, nền văn học, nhất là văn xuôi của ta, thiên về tính chất “ nệ thực”, “vụ thực”, tài liệu và sự việc có thực là cơ sở của hầu hết các sáng tác tự sự vì thế dòng truyện này cũng vắng bóng trên văn đàn, thậm chí có lúc còn bị xem là “sản phẩm của một giai đoạn lạc hậu, non kém về nhận thức”, “làm sống lại trong đầu óc người đọc bình thường những quan điểm phản khoa học lỗi thời” nên “chưa phải là những sách đáng đặt vào tay tất cả mọi người…”(1).

Từ sau 1986 đến nay, do chủ trương đổi mới trong công tác lãnh đạo, quản lí văn học nghệ thuật của Đảng, sự dân chủ trong giao lưu văn hóa, sự đa dạng trong nhu cầu và thị hiếu người đọc, những thay đổi căn bản trong quan niệm văn học của nhà văn… đã tạo bầu sinh quyển thuận lợi cho sự tái xuất hiện của loại truyện này. Cùng với nhiều tuyển tập truyện ngắn kì ảo nổi tiếng thế giới (Những truyện ngắn quái dị, Nxb. Văn học, H, 1997; Truyện kinh dị Việt Nam và thế giới (3 tập), Nxb. Văn hóa thông tin, H, 1999; Truyện kì ảo thế giới (6 tập), Nxb. Văn học – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, H, 2000), các tuyển tập truyện kì ảo Việt Nam những năm gần đây như Đêm bướm ma (Nxb. Văn học, H, 1998), Hồn hoa trở lại (Nxb. Hội Nhà văn, H, 2003), Truyện không nên đọc vào lúc giao thừa (Nxb. Văn học, H, 2003), Hồn hoa đêm tháp cổ (Nxb. Hội Nhà văn, H, 2005)… đã góp phần phong phú hóa đời sống văn học để văn chương trở về với dòng chảy tự nhiên, tất yếu của nó.

2. Phần lớn những người có công sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu các tuyển tập nói trên là những tác giả có nhiều duyên nợ với truyện kì ảo. Có thể đó là những cây bút đã thành danh trước 1975, thậm chí từ thời Tiền chiến như Tchya Đái Đức Tuấn, Lâm Ngữ Minh… số còn lại là những người viết trẻ, đa phần trưởng thành trong thời hậu chiến và sau đổi mới như Lê Minh Khuê, Tạ Duy Anh, Ngô Tự Lập, Hồ Anh Thái, Lưu Sơn Minh… Sự trân trọng, gắn bó, thêm vào đó là cái “gu” đối với truyện kì ảo là nhân tố quan trọng khiến họ vượt qua những rào cản, e ngại ban đầu để tập hợp những bông hoa lạ này dành tặng độc giả. Tâm nguyện của những người bắc nhịp cầu văn học ở đây không gì khác hơn là tiếp nối mong muốn mà nhóm biên soạn cuốn truyện ngắn Edgar Poe đã nêu ra hơn mười năm trước đó nhằm góp phần thay đổi diện mạo văn học nước nhà: “Xuất bản tập sách nhỏ của Edgar Poe không chỉ đơn thuần giới thiệu khuôn mặt văn học – cho dù đó là gương mặt của một nhà văn lớn – mà xa hơn nữa, trong quá trình đổi mới tư duy, phải chăng cần tránh lối suy nghĩ đơn giản, một chiều, cần tiếp cận với những gì phức tạp hơn, đa dạng hơn”(2).

Dạo qua khu vườn đầy những kì hoa dị thảo này chúng ta sẽ bắt gặp không ít những bất ngờ, thú vị. Từ Lê Thánh Tông, Nguyễn Dữ, Vũ Phương Đề đến Ma Văn Kháng, Đoàn Lê, Nguyễn Minh Dậu, Nguyễn Ngọc Thuần… hành trình văn xuôi kì ảo Việt Nam có thể phân thành bốn chặng (thế kỉ XV, XVI – cuối thế kỉ XIX, từ đầu thế kỉ XX – 1945, từ 1945-1985, từ 1986 đến nay) và không ngừng làm cuộc viễn du qua không gian, thời gian dẫu có những biến thái, những thăng trầm nhất định. Chất “ma tuý” của truyện kì ảo là thứ “chẳng đặng đừng” đối với nhiều thế hệ văn nhân, từ những người thấm đẫm nguyên lí Nho gia như Nguyễn Dữ, Phạm Đình Hổ, Lê Qúy Đôn, Nguyễn Thượng Hiền, những trí thức Tây học như Nhất Linh, Thanh Tịnh, Đỗ Huy Nhiệm đến những người được trang bị kĩ càng bằng vốn lí luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, lại hằng ngày tiếp xúc với nền khoa học kĩ thuật hiện đại hôm nay như Bảo Ninh, Lê Minh Khuê, Phạm Ngọc Tiến, Ngô Tự Lập, Hồ Anh Thái… Sức sống bền bỉ và độ hấp dẫn không cưỡng nổi của nó là sự khiêu khích và thách đố đối với những quan niệm cực đoan và tư duy duy lí trói buộc, máy móc hóa con người.

Sự thích thú sẽ không ngừng gia tăng nếu độc giả nán lại ở từng khu vực của vườn hoa đa hương sắc ấy. Với văn xuôi trung đại, bất chấp sự kìm kẹp của hệ tư tưởng Nho giáo, hạt kì ảo vẫn nảy mầm mạnh mẽ mà kẻ “làm vườn” lại là chính những đại diện ưu tú của Nho gia. Nguyên nhân của sự “trái khoáy” này một phần là do những cảm xúc nghệ thuật mạnh mẽ mà yếu tố kì ảo mang lại cho người viết. Bởi trong thực tế, văn học chính thống chủ yếu nhấn mạnh tác dụng giáo hóa còn những tác phẩm văn học kì ảo lại gia tăng về phương diện thẩm mĩ, nghệ thuật. Nó biểu hiện ý thức “trước thư lập ngôn” của tác giả. Bằng cách khai thác tối đa thế mạnh từ đặc trưng của sự hòa phối hai thuộc tính ảo – thực theo nguyên lí “cực ảo cực chân”, những sáng tác ngôn từ của họ xứng đáng được gọi là những “kì văn”. Mặt khác, cũng không loại trừ sự gặp gỡ giữa yếu tố kì ảo trong sáng tác văn học với những chủ trương chính trị tích cực của Nho giáo. Với đặc trưng nhận thức và phản ánh cuộc sống bằng những yếu tố thần kì, linh dị, kì ảo dễ dàng giúp tầng lớp nho sĩ  vốn chịu không ít những kìm tỏa bức bối của “tam cương ngũ thường” tìm được con đường để giải tỏa những ẩn ức dồn nén đồng thời thông qua đó bộc lộ những suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời. Đến như Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) thì chẳng qua cũng chỉ là mượn cái kì để nói cái thực mà thôi. Và cái thực ấy lại quan hệ một cách máu thịt với nhân tâm thế đạo:

Than ôi cái giống ma quỷ, tuy từ xưa không phải cái nạn đáng lo cho người thiên hạ, nhưng kẻ thất phu đa dục thì thường khi mắc phải (…) Không nên lấy cớ huyễn thuật mà cho là chuyện nhảm, bảo rằng dị đoan mà dìm mất cái hay, ngõ hầu mới hợp cái ý nghĩa người quân tử trung hậu đối với người khác (Chuyện cây gạo).

Suy cho cùng, động cơ sáng tác kì ảo của nguyễn Dữ, Phạm Đình Hổ, Vũ Trinh, Tùng Niên, Phạm Đình Dục… cũng không ra ngoài phạm vi “tải đạo ngôn chí” của văn chương chính thống. Chỉ có điều, “họ tải đạo bằng con đường khác – con đường nhỏ (tiểu đạo), và đã thoáng nói đến những cái chí khác – những ước muốn bị coi là cấm kị, cả sự bất đắc chí… mà dù có cố gắng “chính thống hóa” nó đến mấy chăng nữa cũng vẫn nổi lên như một giấc mộng đẹp, một nỗi khắc khoải chân thành”(3).

Đến thời cận hiện đại, giữa cái “chợ giời” văn chương, người ta thấy nổi lên một “mảng độc” những cây bút kì ảo với phong cách tài hoa, độc đáo: Thế Lữ, Tchya Đái Đức Tuấn, Đỗ Huy Nhiệm, Nguyễn Tuân… Sự xuất hiện của đội ngũ này đã làm sinh động đời sống văn học lúc bấy giờ. Tác phẩm của họ đã trở thành những món “khoái khẩu” đối với cái dạ dày “ăn tạp” của độc giả thành thị thích săn tìm cái lạ. Với bút pháp “truyền kì đời mới”(4), cả một quần thể những ma trành, ma khách, ma Mường, hùm tinh, ma tinh hoa, ma báo oán, ma tài tử… gắn với những truyền thuyết rùng rợn của truyền kì dân gian như quan ôn bắt lính, chuột tha lá phủ mặt, ngậm ngải tìm trầm… khiến truyện mang đậm dư vị “Liêu Trai”, kích thích cao độ tâm lí hiếu kì của người đọc mọi thời đại. Bất ngờ hơn nữa là sự đa phong cách của người cầm bút. Độc giả từng biết đến Nhất Linh với những tiểu thuyết tình cảm lãng mạn chủ trương cổ vũ cái mới, giờ thêm một Nhất Linh rờn rợn, mơ màng, nửa hư nửa thực trong những truyện ngắn Lan rừng, Bóng người trong sương mù… Và Nam Cao, trước khi thức ngộ được thiên chức nghệ thuật chính là “tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than” cũng từng “xuất xưởng” những truyện ngắn mang tính chất “mê tín dị đoan” như Ma đưa, Chú Khì –  người đánh tổ tôm vô hình… Điều này có tác dụng không nhỏ trong việc mở rộng kiến văn của độc giả trên con đường khám phá tiến trình vận động của chủ nghĩa hiện thực Nam Cao.

Có lẽ giai đoạn thứ ba là khu vực cỗi cằn, hiu hắt nhất của văn xuôi kì ảo. Ngoài một số truyện ở miền Nam trước 1975 sử dụng yếu tố kì ảo như một tấm bình phong hữu hiệu để một mặt dễ qua được mũi kéo kiểm duyệt của chế độ Mĩ ngụy, mặt khác giúp người viết bộc lộ những tâm sự yêu nước thầm kín của mình như Bút máu (Vũ Hạnh), Cõi âm nơi quán Cây Dương (Bình Nguyên Lộc), Cái đèn lồng, Bóng ma nhà mệ Hoát, Đám cưới hai u hồn ở chùa Dâu (Vũ Bằng)… một thời gian dài, đến gần một nửa thế kỉ, loại truyện kì ảo dường như bị lãng quên trong trí nhớ mọi người. Với bộ phận văn học cách mạng, thảng hoặc đôi khi, nó cũng hạ cánh ghé thăm một vài tri kỉ và cuộc “kì ngộ” đó được xem như là những cú “vấp ngã” của người viết (trường hợp Con nai đen của Nguyễn Đình Thi là một ví dụ), hoặc phải chịu sự ghẻ lạnh, sự “thủy chung nửa vời” của chính tác giả (trường hợp “giải ảo” bằng kiến thức khoa học, bằng lí trí và sức mạnh của con người khi kết thúc Chùa Đàn của Nguyễn Tuân chẳng hạn). Đây là một thiệt thòi của truyện kì ảo nhưng cũng là minh chứng cho sự uyển chuyển và sức sống tiềm tàng của bộ phận văn học giàu truyền thống này.

Những tưởng các nhà văn hiện đại Việt Nam sẽ hoàn toàn cắt đứt với truyền thống, bị trói buộc bởi các thể loại văn học mới, những phương thức phản ánh cuộc sống mới do nhu cầu của thực tiễn, nhưng chính bề dày truyền thống đã giúp con tàu ngầm văn xuôi kì ảo có đủ năng lượng để âm thầm sự tiếp nối quá khứ, chỉ chờ có điều kiện thuận lợi là tăng tốc mạnh mẽ.

Từ năm 1986 đến nay có thể ví như khu vực hồi sinh rầm rộ, đầy sức sống của văn xuôi kì ảo; biểu hiện rõ nhất là sự vượt trội cả về số lượng tác giả lẫn tác phẩm. Trong số 73 cây bút hiện diện trong 5 tuyển tập nêu trên, đội ngũ đương đại góp mặt hơn một nửa (49 tác giả, chiếm  67%). Con số kỉ lục này là bằng chứng thuyết phục về sự bùng phát mạnh mẽ của truyện kì ảo những năm gần đây. Tất cả đội ngũ này đều được nhu cầu đổi mới đập cửa. Phần lớn họ thuộc thế hệ nhà văn – nói như Hoàng Ngọc Hiến – “không hề bị vướng mắc bởi cái nhìn sử thi”(5). Và theo cách nhận xét của Diệp Minh Tuyền, Bão Vũ, thì đây là những cây bút “gặp thời”; bởi nếu như không có đổi mới chưa chắc đã có sự hiện diện một cách đường hoàng, nhiều khi khá ồn ào, dồn dập của họ trên văn đàn. Trẻ trung, giàu nhiệt huyết đổi mới, thích và cần cái lạ… đó là những cơ duyên sớm xe kết họ với yếu tố kì ảo, xem đó như là thủ pháp nghệ thuật đắc địa để khám phá những biểu hiện đa dạng, phức tạp của cuộc sống và tâm hồn con người. Với một lối viết đầy ngẫu hứng sáng tạo, đan xen tài tình giữa hư và thực, chi tiết gạn lọc, cô đúc, nhiều độc thoại nội tâm xen lẫn dòng ý thức, kết cấu lắp ghép, đồng hiện không thời gian… đã hiện diện nhiều, sử dụng các môtíp kì ảo của dân tộc và thế giới như điềm triệu, báo oán, lời nguyền, biến dạng, phân thân, kí giao kèo với quỷ sứ, đặc biệt là sự dũng cảm tiềm nhập vào những đề tài nhạy cảm vốn được xem là “cấm kị” trước đây như mặt trái của chiến tranh, cải cách ruộng đất, đời sống tâm linh… truyện kì ảo đã phả một luồng gió mới vào đời sống văn học đương đại. Sự nở rộ của lớp nhà văn này, theo như nhận xét của Trần Quốc Vượng, “có thể diễn giải như một cơn lốc giải tỏa những khát vọng sáng tạo bị dồn nén từ lâu. Các nghệ sĩ trẻ đang tìm kiếm bản sắc riêng của mình dựa trên những trải nghiệm cá nhân và cách nhìn riêng biệt, càng ngày càng tỏ ra tự tin và táo bạo trong công việc sáng tạo (…), họ ráng làm một cuộc hôn phối giữa truyền thống và hiện đại”(6).   

Công bằng mà nói, trong sự lên ngôi của truyện kì ảo hôm nay, ngoài sự cởi mở, dân chủ của đời sống, nó còn được hậu thuẫn bởi những thay đổi trong nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của công chúng văn học. Trước sự tác động của các phương tiện truyền thông hiện đại, nhu cầu thông tin đã không còn bức thiết nữa, tất yếu giải trí sẽ là một trong những nhu cầu được người đọc ưu tiên chú trọng một khi đến với tác phẩm văn học. Tuy nhiên, đó không phải là cốt lõi của sức hấp dẫn mà truyện kì ảo mang đến cho họ. Những chiêm nghiệm về tình đời, tình người khi gấp lại các tuyển tập này mới chính là giá trị nghệ thuật đích thực của nó. Nhìn chung các truyện kì ảo gần đây phần lớn được chú ý ở hai bình diện: Cường độ của sự tưởng tượng ẩn dụ và những ý nghĩa mang tính nhân sinh sâu sắc. Nghĩa là, đằng sau sự lung linh hư ảo vẫn là những vấn đề “nổi cộm” của thực tại. Đó là hai lí do chủ yếu mang lại những rung động thẩm mĩ đích thực ở độc giả. Tác phẩm không còn là trò giải trí hạ đẳng, rẻ tiền gây ra bởi những chuyện li kì, huyễn hoặc nhằm mục đích câu khách và nghệ thuật sử dụng yếu tố kì trong truyện không đơn thuần làm cho câu chuyện li kì hóa mà tác dụng chủ yếu của nó là phục vụ cho sự nhận thức về cuộc sống, về xã hội của người đọc. Với sự năng động, nhạy bén trong phản ánh hiện thực, bộ phận văn học này là minh chứng sống động cho sự đổi mới trong tư duy, tính dân chủ trong quản lí, lãnh đạo văn hóa, văn học của Đảng. Nó cũng là một trong những nhân tố đa dạng hóa tư duy nghệ thuật và phong phú hóa các phương pháp tiếp cận hiện thực cũng như phương thức thể hiện của văn xuôi đương đại, phần nào khiến cho cuộc sống đa dạng, phức tạp đã không bị thể hiện một cách giản đơn, một chiều. Chính điều này đã góp phần mang lại sự sinh động, nhiều màu vẻ cùng sức quyến rũ, nhân bản của văn học đương đại đồng thời thể hiện niềm khát khao, mong mỏi mãnh liệt của người viết trong việc cải tạo, xây dựng cuộc sống, giúp con người nhận thức được chính mình và thế giới.

3. Dĩ nhiên, ngoài những tác động tích cực trên đây, người đọc cũng còn không ít băn khoăn khi đến với những tuyển tập này. Vấn đề trước hết nằm ở tính chất “vừa thừa lại vừa thiếu” của chúng. Sau tuyển tập Đêm bướm ma (tuyển chọn cùng Ngô Tự Lập) gây được sự chú ý rộng rãi trong dư luận (đến nay đã một lần tái bản), Lưu Sơn Minh tiếp tục trình làng Truyện không nên đọc vào lúc giao thừa như là hậu đáp sự ái mộ của độc giả. So với tuyển tập trước, tuyển tập lần này có nhiều truyện mới, nhiều gương mặt mới như Tùng Niên, Lê Qúy Đôn, Nguyễn Thượng Hiền, Nam Cao, Đỗ Huy Nhiệm, Vũ Bằng, Bình Nguyên Lộc… Thế nhưng vẫn còn đến 17 trên tổng số 57 truyện lấy lại từ tuyển tập cũ, chiếm đến gần một phần ba cả về dung lượng lẫn số truyện. Nhiều truyện của Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ là hoàn toàn “tái bản” từ Đêm bướm ma; trong khi cả hai tác giả này còn có nhiều sáng tác có giá trị nghệ thuật cao (Nguyễn Dữ với 20 truyện trong Truyền kì mạn lụcThánh Tông di thảo cũng có tới 19 truyện). Việc để “lọt lưới” nhiều tác phẩm kì ảo khác của văn học trung đại trong Truyền kì tân phả, Tân truyền kì lục, Vân nang tiểu sử lục, Việt Nam kì phùng sự lục… cũng là một thiệt thòi cho người đọc. Cầm hai tập sách khá “nặng” – cả về trọng lượng lẫn… giá tiền, lại cùng chung một phần ba “huyết thống” như vậy, người đọc bình thường sẽ không khỏi ngần ngại, còn những kẻ trót bị “ám” bởi loại truyện này cũng không khỏi bùi ngùi… “bỏ thương vương nợ”. Lại nữa, do xuất phát từ quan niệm có phần cực đoan rằng “đa phần những truyện về sau này (tức sau đổi mới – BTT) toàn mượn chuyện ma nói chuyện người, đọc đến đấy thực chẳng còn như cái thú đọc Bồ Tùng Linh trong tiếng rì rầm của mưa phùn ngoài vách nữa”(7) nên tác giả đã ngoại vi hóa tất cả các sáng tác kì ảo đương đại, kể cả những đứa con “khôi ngô tuấn tú” của chính mình. Việc làm này dễ gây cho người đọc sự ngộ nhận hoặc có cái nhìn phiến diện về lịch trình biến diễn của truyện kì ảo dân tộc. Mỗi tác phẩm ra đời đều mang trong mình không khí thời đại nuôi dưỡng nó; chỉ mải mê với những truyện “mang đầy khí vị Liêu Trai” của một thời xưa cũ mà thờ ơ với những câu chuyện kì lạ, hư huyễn ngồn ngộn hơi thở của cuộc sống và con người hiện đại cũng là điều bất cập vậy.

Tình hình cũng không hoàn toàn khả quan đối với Hồn hoa trở lại Hồn hoa đêm tháp cổ. Trong hai tuyển tập này, chủ tâm của các nhóm tuyển chọn là giới thiệu những sáng tác kì ảo của các tác giả đương đại. Thế nhưng con số 39 truyện ngắn của 37 tác giả thì quả là khiêm tốn. Người đọc vẫn chưa tìm thấy ở đây (cũng như trong Đêm bướm ma) những sáng tác của một số cây bút có tên tuổi hiện nay như Hà Khánh Linh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Quế Hương, Phan Văn Minh, Thái Bá Tân…

Việc giải thích các điển tích, tên tác giả, lời bình sau mỗi truyện kì ảo trung đại cũng là vấn đề cần quan tâm khi tuyển chọn nhằm tạo sự thuận lợi trong tiếp nhận của người đọc. Những truyện còn nghi vấn về tác giả thì để “khuyết danh” hoặc “chưa rõ tác giả là tốt hơn cả (trường hợp Bài kí một giấc mộng Tinh chuột trong Đêm bướm maTruyện không nên đọc vào lúc giao thừa là một ví dụ). Chất lượng của các truyện được tuyển chọn cũng nên cân nhắc kĩ. Trong tình trạng “giảm giá” của văn hóa đọc như hiện nay, những truyện “đơn thuần mang tính chất giải trí”, hoặc tù mù, bí hiểm, đánh đố người đọc… sẽ dễ khiến người ta dị ứng, thậm chí có những đánh giá bất lợi. Riêng đối với những sáng tác kì ảo sau đổi mới, ngoài tiêu chí đầu tiên là truyện phải có sự hiện diện của yếu tố kì ảo; nó là nhân tố quan trọng mang lại những giá trị thẩm mĩ đích thực cho tác phẩm chứ không nhằm mục đích kích thích nhu cầu chuộng lạ đơn thuần của người đọc, cần chú trọng đến những tiêu chí khác, ví như: phải hướng vào thực tại sôi động đồng thời phải là những sáng tác in đậm dấu ấn hiện đại từ đề tài, nhân vật đến cốt truyện, ngôn ngữ, kết cấu…

Trở lên là những suy nghĩ qua một số tuyển tập truyện kì ảo ViệtNamđặt trong tương quan chung với văn học sau đổi mới. Có thể xem đây như là một sự kì vọng của người viết về một tuyển tập xứng tầm với truyện kì ảo ViệtNamđể độc giả có được cái nhìn khách quan và toàn diện về sức sống và vị thế của nó trong văn học dân tộc.

_____________

(1) Trần Thanh Mại: Những câu chuyện thần linh ma quái (Nhân đọc hai cuốn Việt điện u linh Lĩnh nam chích quái). Nghiên cứu Văn học, số 2-1961, tr.22.

(2) Edgar Allan Poe: Truyện kinh dị. Nxb. Lao động – Hội Văn học nghệ thuật QuảngNam – Đà Nẵng, 1989, tr.6.

(3) Bùi Thị Thiên Thai: Truyện kì ảo hiện đại – dư ba của truyện truyền kì truyền thống (Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ Văn). Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, tr.21.

(4) Vũ Thanh: Dư ba của truyện truyền kì, chí dị trong văn học Việt Nam hiện đại (trong Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học). Viện Văn học, H, 1999, tr.660.

(5) Nhiều tác giả: Nguyễn Huy Thiệp – Tác phẩm và dư luận. Nxb. Trẻ – Tạp chí Sông Hương, 1989, tr.105.

(6) Lê Ngọc Trà (tập hợp và giới thiệu): Văn hóa Việt Nam – đặc trưng và cách tiếp cận. Nxb. Giáo dục, H, 2001, tr.328.

(7) Lưu Sơn Minh (tuyển chọn): Truyện không nên đọc vào lúc giao thừa. Nxb. Văn học, H, 2003, tr.5.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 12- 2005. Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply