Truyện ngắn “Lolita” (Heinz Von Likhberg)


Tờ Tin tức Frankfurt có đăng bài báo của nhà nghiên cứu văn học người Đức Mikhail Maar về Nabokov (“Nabokov đã biết gì?”, 3/2004), trong đó kể lại, vào khoảng năm 1916, 40 năm trước sự ra đời tiểu thuyết Lolita của Nabokov, “nhà văn Berlin ngày nay bị lãng quên” Heinz Von Likhberg đã công bố câu chuyện Lolita, tác phẩm được coi là “phác thảo cho tiểu thuyết nổi tiếng thế giới”. Bài báo của M.Maar đã gây ra chấn động lớn, khiến cho hầu như tất cả những người trước kia không đọc Likhberg, thì nay, ai cũng đọc tác phẩm này, và họ đều nhận ra, qua cốt truyện, ý tưởng chính tiểu thuyết của Nabokov có nét tương đồng với câu chuyện của Likhberg.

Heinz Von Likhberg (1890 – 1951) là nhà báo, nhà văn người Đức. Ông xuất thân từ dòng dõi quý tộc Heinz Von Eshveg. Năm 1916 ông cho xuất bản tập truyện ngắn Die verfluchte Gioconda (tạm dịch Giocondo bị nguyền rủa). Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, ông phục vụ trong quân đội, trở thành nhà báo. Ông đã từng bị bắt trong trại tù binh Anh. Sau khi trở về từ trại tù binh, ông mất vì bệnh tật. Lolita là một trong những tác phẩm (in trong Giocondo bị nguyền rủa) được biết đến của ông.

Dưới đây Phê bình văn học trân trọng giới thiệu tác phẩm của Heinz Von Likhberg

*

LOLITA

Heinz Von Likhberg 

Trong suốt cuộc trò chuyện có ai đó đã nhắc đến cái tên E.T.A.Hoffman và những câu chuyện đầy nhạc tính của ông. Nữ bá tước Beata, vị nữ chủ nhân trẻ trung của chúng tôi, đặt quả cam mà cô chuẩn bị gọt vỏ xuống và nói với nhà thơ trẻ “Anh có tin rằng – những câu chuyện của ông ta – và tôi họa hoằn mới đọc chúng – có thể giữ cho tôi tỉnh táo trong cả đêm dài dằng dặc không? Lí trí của tôi nói với tôi điều đó thật là tuyệt diệu, và còn nhiều hơn thế nữa…”

“Có lẽ không chỉ là tuyệt diệu thôi đâu, nữ bá tước thân mến của tôi.”

Nhà ngoại giao mỉm cười một cách khoái trá “Các bạn có nghĩ rằng những điều lạ lùng đã thực sự xảy đến với Hoffman không?”

“Nhưng đó chính xác là điều mà tôi nghĩ”, nhà thơ phản ứng lại. “Chúng đã xảy đến với ông ấy. Dĩ nhiên tôi không cho rằng ông ấy nhìn thấy chúng bằng chính đôi mắt của mình. Nhưng bởi vì là nhà thơ nên ông trải nghiệm đầy thăng hoa tất cả mọi thứ mà ông viết ra”. Có lẽ tôi nên nói rằng ông ấy chỉ viết những gì mà ông ấy bắt gặp trong tâm hồn mình. Sự thực là tôi muốn nói rằng đó là sự khác biệt giữa nhà thơ và nhà văn. Tâm hồn nhà thơ trải nghiệm những điều kỳ diệu như nó vốn có”.

Sự im lặng đã bị phá tan trong căn phòng lộng lẫy, xa hoa được trang hoàng theo phong cách quý tộc của nữ bá tước.

“Anh hoàn toàn đúng”, vị giáo sư nói, với dáng vẻ trẻ trung của một người đàn ông nhạy cảm. “Các vị sẽ cho phép tôi kể câu chuyện đã trực tiếp xảy ra với tôi nhiều năm trước chứ? Cho đến ngày hôm nay tôi vẫn chưa chắc chắn rằng nó đã thực sự xảy ra với tôi hay là tôi đã mơ thấy nó. Câu chuyện cũng không dài lắm đâu”.

“Hãy kể cho chúng tôi đi nào,” nữ chủ nhân của chúng tôi nói.

Và giáo sư bắt đầu câu chuyện của mình:

“Cho đến những năm cuối cùng của thế kỷ trước, cách đây hơn 20 năm, tôi đang học tại một thị trấn cổ kính ở miền Nam nước Đức. Tôi đã sống ở đó, như ở nhà của mình, trong một con phố hẹp đầy ắp những ngôi nhà phủ kín bụi thời gian. Không xa căn phòng của tôi là quán rượu – một trong những nơi kỳ quặc nhất mà tôi từng thấy. Tôi đến đó thường vào những buổi trưa cuối thu khi tôi tạm nghỉ giải lao trong một ngày làm việc từ sáng sớm tới sẩm tối.

Quán rượu chỉ có 1 phòng, trông khá ọp ẹp với rui nhà tối sầm. Gần cửa sổ đối diện với đường phố yên vị hai cái bàn đã được lau chùi và vài cái ghế cũ kỹ. Chỗ trong cùng của cái góc tối nơi đặt lò gạch có ba cái bàn nhỏ và hai cái ghế tựa được bọc vải màu sắc sặc sỡ. Một trong số chúng được phủ một tấm khăn lụa (mantilla) loại mà phụ nữ hay quàng ở Tây Ban Nha vào những ngày lễ trang trọng. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một người khách nào khác ngoài tôi và tôi thỉnh thoảng vẫn tự nhủ liệu đây có thực sự là một nơi được lập ra vì mục đích thương mại? Thỉnh thoảng cánh cửa chính vốn đã 7 lần đổ sẽ bị khóa và các cửa chớp bị đóng. Tôi không bao giờ hỏi về điều này, nhưng trí tò mò của tôi gắn chặt đôi mắt của nó vào những người chủ sở hữu cái quán rượu kỳ quặc này.

Tên của họ là Aloys và Anton Walzer và cơ thể họ mang dấu ấn đậm nét của tuổi tác. Họ trông cao khác thường và rất gầy. Cả hai đều hói nhưng đều đeo những bộ râu màu hơi đỏ xộc xệch. Tôi chưa bao giờ thấy họ mặc thứ gì khác ngoài quần ống túm màu vàng và những chiếc áo jacket đen bao giờ cũng treo hờ hững trên người họ. Họ chắc chắn phải là anh em sinh đôi bởi vì nhìn bề ngoài không thể phân biệt được họ, và phải mất một lúc khá lâu trước khi tôi có thể nhận ra giọng nói hơi trầm hơn một chút của Anton.

Ngay khi tôi bước vào quán rượu, một cốc rượu Tây Ban Nha ngọt tuyệt diệu sẽ được dọn sẵn trên bàn gần lò sưởi cho tôi với một nụ cười thân thiện. Aloys sẽ đẩy cái ghế lại gần tôi trong khi Anton  đứng nghiêng quay lưng lại với cửa sổ. Họ nhả những làn khói thơm trên những cái tẩu của họ, hình ảnh bạn có thể nhìn thấy trên những bức tranh Flemish cổ. Có một cái gì đó khiến tôi cảm nhận rằng họ đang chờ đợi một điều gì đó.

Tôi sẽ luôn nói rằng ấn tượng họ để lại trong tôi là sự kỳ quặc, nhưng đó chắc chắn không phải là từ chính xác bởi vì kỳ quặc luôn hàm chứa trong nó một điều gì đó hài hước. Còn ấn tượng được gợi lên trong tôi bởi anh em Walzer là một ấn tượng buồn và khắc khổ khó có thể diễn tả – hầu như là bi kịch. Không có dấu hiệu hay dáng vẻ nào của phụ nữ ở nơi này và tôi chắc chắn rằng tôi không bao giờ nhìn thấy một người phụ nữ nào ở đây.

Mùa đông đến với những hoàng hôn sớm và những đêm dài, tôi nhận thấy rằng những chuyến viếng thăm của tôi tới cái hầm rượu mù mịt đã gần như trở thành một việc cần thiết hàng ngày. Khi những người chủ biết về tôi nhiều hơn, từ đó về sau họ nói chuyện với tôi ít hơn. Nhưng họ dường như đã đánh mất cảm giác của mình về thời gian và họ luôn luôn nói về những thứ đã xảy ra từ rất lâu trong quá khứ và giọng nói của họ đặc một thứ âm thanh khô khốc, khò khè.

Tôi kể với họ về những chuyến đi của tôi và bất cứ khi nào tôi đề cập đến mảnh đất miền Nam, thì một ánh ranh mãnh[1] sẽ lóe lên trong mắt họ, đôi mắt mà bình thường rất buồn bã và luôn chờ đợi một cái gì đó. Họ hầu như chỉ sống trong một loại trí nhớ. Tôi không bao giờ rời đi mà không có ý nghĩ rằng một cái gì đó thật khủng khiếp sẽ xảy ra  ngay khi tôi rời đi, nhưng tôi đã buộc chính tôi phải cười vào những ý nghĩ như vậy.

Một buổi tối đã khá muộn khi đi ngang qua nơi này tôi chợt nghe thấy từ sau khung cửa sổ đóng chặt vang lên âm thanh của tiếng violon, âm thanh ấy đáng yêu đến mức tôi đã đứng chôn chân tại chỗ vì bị mê hoặc. Ngày hôm sau, khi tôi hỏi hai anh em về điều đó, họ chỉ mỉm cười và cúi đầu.

Vài tuần đã trôi qua, và tôi lại đi ngang qua hầm rượu lúc đêm đã khuya, thậm chí muộn hơn lần cuối cùng tôi đi qua nơi này. Từ sau cánh cửa khép chặt, tôi nghe thấy một tiếng khóc sầu muộn và sau đó là một chuỗi những lời cãi cọ và chửi rủa ghê gớm đến mức sự khiếp sợ vượt quá tầm kiểm soát của lí trí của tôi. Không nghi ngờ gì nữa, tiếng la hét đến từ bên trong cái hầm rượu cũ không phải của hai người đàn ông ốm yếu mà tôi biết – đó là những tiếng kêu thét gầm vang của một cơn thịnh nộ. Nó giống như hai người đàn ông khỏe mạnh đang trong một cuộc vật lộn tơi bời. Tiếng kêu la trở nên to hơn cùng lúc cơn thịnh nộ lên đến mức đỉnh điểm khi những quả thụi được họ giáng xuống mặt bàn.

Sau đó tôi nghe thấy tiếng cười  lanh lảnh như bạc của một người phụ nữ, và ngay lập tức những âm thanh bị chọc tức ấy vút lên trong một cơn điên cuồng ầm ỹ. Tôi đứng tại chỗ như hóa đá. Điều tôi không bao giờ dám làm là mở cửa và nhìn xem chuyện gì đang diễn ra.

Tiếng kêu của người đàn bà, vừa như một tiếng khóc đơn độc, nhưng lại vừa như hàm chứa một nỗi thống khổ ghê gớm, đến nỗi tôi không bao giờ có thể quên được nó. Sau đó thì mọi thứ lại vẫn tiếp diễn như như chưa bao giờ có chuyện gì xảy ra.

Ngày hôm sau khi tôi đến hầm rượu, Anton đặt ở chỗ của tôi một ly rượu trên bàn như thường lệ với một cái cười thân thiện, và mọi thứ đều ở nguyên trật tự của nó đến mức tôi bắt đầu tự hỏi liệu tất cả tấn bi kịch kia có thực sự không phải là một giấc mơ, và tôi thực sự quá xấu hổ để hỏi.

Một buổi trưa cuối mùa đông tôi nói với hai anh em rằng tôi sẽ không đến đây nữa vì tôi đang chuẩn bị cắt đặt cho chuyến đi Tây Ban Nha trong những ngày sắp tới.

Tin này của tôi đã gây ra một hiệu ứng kì lạ đối với Anton và Aloys, và khuôn mặt khó nhọc của họ tái nhợt đi trong giây lát và hai cặp mắt của họ nhìn dán vào sàn nhà như tìm kiếm một cái gì đó. Họ đi ra ngoài và tôi có thể nghe thấy họ thì thầm gì đó với nhau.

Sau một lúc Anton trở lại và hỏi tôi với một thái độ kích động rằng liệu tôi có đến Alicante nếu có cơ hội không và khi tôi trả lời có, ông ta đã quay đi và trở lại chỗ người em trai của mình. Sau đó cả hai đều trở lại, và ứng xử như chưa có chuyện gì xảy ra.

Khi đóng gói đồ đạc tôi không còn nhớ gì về hai anh em họ, nhưng đêm đó tôi đã có một giấc mơ lộn xộn và phức tạp có liên quan tới ngôi nhà nhỏ xiêu vẹo màu cá hồi tại một đường phố bị lãng quên ở bến cảng Alicante.

Trên đường đi đến ga tàu hỏa vào ngày hôm sau, tôi rất ngạc nhiên khi nhìn thấy trong ánh sáng ban ngày Anton và Aloys đã đóng cửa im ỉm hầm rượu của họ.

Trong suốt chuyến đi tôi đã dễ dàng lãng quên tất cả việc học và những cuộc phiêu lưu nhỏ ở miền Nam nước Đức.  Đi đường dễ làm cho người ta quên.

Tôi đã trải qua một vài ngày ở Paris để đi thăm một vài người bạn và ngắm Louvre. Một buổi tối tôi trở về mệt mỏi từ một quán rượu ở Latin Quarter, nơi tôi đến để nghe một nhà thơ nổi tiếng, một người mà những người bạn của tôi có nghe nói đến. Ông ta ăn mặc như một ca sĩ mù thời trung cổ – người đã hát rất hay với một giọng hát giản dị và âu sầu. Ông ta có một cô con gái đáng yêu – người hỗ trợ bố một cách khéo léo bằng violon.

Một lát sau cô bé chơi solo một đoạn nhạc, và tôi ngay lập tức nhận ra giai điệu mà một lần tôi đã nghe được từ ngôi nhà của anh em Walzer. Sau đó tôi xác định được đấy chính là nhạc đệm cho điệu nhảy gavotte được sáng tác bởi Lully, từ thời Luis XIV.

Một vài ngày sau tôi đã dừng chân ở Lisbon và đầu tháng hai đã qua Madrid trên đường đi Alicante.

Trong tim tôi luôn có một tình cảm đặc biệt dành cho miền Nam nói chung, cho Tây Ban Nha đầu tiên và trước nhất. Bạn cảm thấy hầu hết sức lực ở đấy, và mọi kinh nghiệm dường như được đề cao. Mặt trời làm nóng vạn vật và giải phóng sinh lực của chúng. Con người, giống như rượu vang, đều mạnh khỏe, nồng nhiệt và ngọt ngào, nhưng dễ nổi đóa và trở nên nguy hiểm khi bị kích động. Về sau, tôi tin rằng những người miền Nam ít nhiều đều có chất Don Quixote trong máu của họ.

Thực sự thì, tôi chẳng có việc riêng tư gì để làm ở Alicante cả, nhưng tôi đã trải qua những đêm rất đỗi ngọt ngào tại đây, khi mà mặt trăng treo trên lâu đài của Santa Barbara và bỏ lại nơi nó ẩn náu một khoảng tranh tối tranh sáng đầy huyền bí. Vào một trong những đêm như thế này trái tim của người Đức lại vang lên giai điệu của chủ nghĩa lãng mạn.

Cái nhìn đầu tiên của tôi về thị trấn mang những ký ức về anh em Walzer và những thói quen kỳ lạ của họ ồ ạt quay trở về hiển hiện trong tôi. Tôi biết có thể đó là sự nhận thức muộn màng hay là sự tưởng tượng, nhưng hình như con la của tôi miễn cưỡng quay trở lại lâu đài Algorfe khi tôi lái nó theo hướng bến cảng. Tại một trong những con phố cũ nơi những thủy thủ sống tôi tìm thấy nơi mà tôi đã tìm kiếm.

Quán trọ của Severo Ancosta là một tòa nhà nhỏ uốn lượn với ban công lớn, ghim vào giữa những tòa nhà khác giống như nó. Người chủ nhà trọ, thân thiện và hay nói, dành cho tôi một căn phòng với tầm nhìn ra biển tuyệt đẹp, và tôi đã trông đợi được thưởng thức một tuần của sự yên tĩnh tuyệt đối. Và sự yên tĩnh đó còn kéo dài cho đến khi tôi nhìn thấy con gái của Severo, Lolita.

Theo tiêu chuẩn của những người miền Bắc chúng tôi thì đó là một cô gái còn rất trẻ, với đôi mắt mơ màng và mái tóc hơi đỏ. Cơ thể cô bé là thân thể mảnh mai và mềm mại của một đứa trẻ và giọng nói thì dầy và trầm. Nhưng có một cái gì đó ở cô bé hơn là vẻ đẹp bên ngoài đã cuốn hút tôi –một điều bí ẩn kỳ lạ đã ám ảnh tôi trong những đêm trăng sáng.

Thỉnh thoảng khi vào phòng tôi dọn dẹp, cô bé thường tạm dừng công việc của mình, đôi môi đỏ cười mím lại thành một đường kẻ hẹp, và cô bé sẽ nhìn chằm chằm vào mặt trời một cách sợ hãi. Sức chịu đựng của cô bé là sức chịu đựng của nữ diễn viên bi kịch Iphigenia. Tôi sẽ ôm cô bé trong vòng tay tôi và cảm nhận sự cấp bách của việc phải bảo vệ cô bé khỏi những mối nguy hiểm không tên đang rình rập.

Đó là những ngày khi đôi mắt to ngượng ngùng của cô bé trao cho tôi một câu hỏi không lời, và ở đó là những buổi tối khi tôi nhìn cô bé đột nhiên nấc lên những tiếng khóc thổn thức.

Tôi đã ngừng hết những ý nghĩ về chuyến đi. Tôi đã bị mê hoặc bởi miền Nam và bởi Lolita.

Bắt đầu những ngày vàng nóng bức và những đêm bạc ảm đạm.

Và sau đó, một lần, một việc có thật khó quên, tưởng như một giấc mơ không có thật đã đến với tôi khi Lolita ngồi trên ban công phòng tôi, hát rất ngọt ngào, như mọi khi cô bé vẫn thường làm. Nhưng lần này cô bé đến với tôi với những bước ngập ngừng, cây ghita dựng đứng đập đập trên sàn nhà. Và trong khi đôi mắt của cô bé ngóng ra tìm kiếm hình ảnh lung linh của vầng trăng trên mặt nước, giống như một đứa trẻ nhõng nhẽo cô bé run rẩy vòng đôi cánh tay bé nhỏ quanh cổ tôi, ngả mái đầu xinh xinh trên ngực tôi và bắt đầu khóc thổn thức. Những giọt nước mắt thì long lanh trên mắt cô bé, nhưng cái miệng ngọt ngào của cô bé lại đang cười.

Và điều kỳ diệu đã đến. “Ông thật mạnh mẽ”, cô bé thì thầm.

Ngày và đêm nối tiếp nhau đến và đi… người đẹp của tôi giữ bí mật của mình trong một bài ca của sự trầm lặng đáng khâm phục.

Những ngày đã trôi sang những tuần và tôi nhận ra rằng đã đến lúc tiếp tục những chuyến đi của tôi. Không có bất kỳ nhiệm vụ nào giữ chân tôi, nhưng tình yêu mãnh liệt và nguy hiểm của Lolita đã bắt đầu làm cho tôi sợ hãi. Khi tôi nói với cô bé về điều đó, cô bé đã gửi cho tôi một cái nhìn đầy ngụ ý và lặng lẽ gật đầu. Đột nhiên cô bé nắm chặt lấy tay tôi và cắn tôi một cái rất đau. Hai mươi lăm năm qua cũng không thể xóa đi dấu vết tình yêu của vết cắn cô bé để lại trên tay tôi.

Vào lúc đó tôi đã có thể nói về sự biến mất của Lolita trong ngôi nhà. Tôi chỉ nhìn thấy cô bé thêm một lần nữa.

Tối hôm đó tôi đã nói một cách nghiêm túc với Severo về con gái của ông ấy. “Hãy đến đây, thưa ngài”, “Tôi có một vài thứ để chỉ cho ông, nó sẽ giải thích cho ông mọi chuyện”. Ông ta đã dẫn tôi vào trong căn phòng được chia tách từ căn phòng của tôi bởi một cánh cửa. Tôi đã đứng chết lặng vì ngạc nhiên.

Trong căn phòng đơn giản chỉ có duy nhất một cái bàn nhỏ và ba cái ghế tựa. Nhưng chúng giống hệt, hoặc gần như hệt, những chiếc ghế trong quán rượu của anh em nhà Walzer. Và tôi ngay lập tức nhận ra rằng ngôi nhà của Severo Ancosta chính là ngôi nhà mà tôi đã từng mơ vào 1 đêm trong chuyến đi của tôi.

Có một bức hình của Lolita trên tường, bức hình ấy hoàn hảo đến nỗi tôi đã lại gần để ngắm nhìn nó kỹ hơn.

“Ông đang nghĩ đây là bức hình của Lolita”, Severo cười lớn, “nhưng đó là Lola, bà của bà Lolita. Đã hơn 100 năm kể từ khi bà ấy bị giết chết trong trận chiến giữa hai người tình của bà”.

Chúng tôi ngồi xuống và Severo trong sự ứng xử thân ái của ông ta đã kể câu chuyện này. Ông ta kể với tôi về Lola, người phụ nữ đẹp nhất thị trấn trong thời bà sống, đẹp đến nỗi rất nhiều người đàn ông đã chết vì tình yêu của bà. Một thời gian ngắn sau khi sinh con gái, bà đã bị giết bởi hai người tình, những kẻ bị bà làm cho phát điên.

Và từ đó một tai họa xuất hiện trong gia đình. Tất cả những người phụ nữ sinh con gái đều phát điên trong một tuần sau khi sinh. Và tất cả họ đều đẹp – đẹp như Lolita.

Vợ tôi cũng đã chết theo cách đấy”, ông ta thì thầm, giọng trở nên rất nghiêm trọng, “và con gái tôi rồi cũng sẽ chết theo cách giống như vậy thôi”.

Tôi đang vất vả tìm ra một lời an ủi để nói với ông ta, vì chính bản thân tôi đã bị nỗi sợ hãi về Lolita bé nhỏ của tôi lấn lướt.

Tối hôm đó khi tôi bước vào căn phòng của tôi, tôi đã tìm thấy một bông hoa nhỏ màu đỏ mà tôi không thể tin được là nó đã ở trên gối của tôi. Món quà tạm biệt của Lolita, tôi nghĩ thế và nhặt nó lên. Chỉ ngay sau đó tôi nhận thấy bông hoa đã chuyển sang màu trắng, màu đỏ chính là máu của Lolita. Giống như tình yêu của cô bé.

Đêm ấy tôi không thể ngủ được. Hàng nghìn giấc mơ cứ đeo đuổi tôi. Đột nhiên, chúng dừng lại lúc nửa đêm, khi tôi nhìn thấy một điều gì đó rất kinh khủng. Cánh cửa phòng kế bên đã bị mở, và có 3 người đang ngồi ở chiếc bàn giữa căn phòng. Phía bên phải và bên trái là hai gã đàn ông trẻ tuổi, khỏe mạnh, tóc vàng và ngồi giữa họ là Lolita. Không, không thể là Lolita nhưng lại đúng là Lola – hay đó thực sự là Lolita?

Trên bàn có ba cốc rượu vang đỏ. Cô gái cười thành tiếng rất to, một cách rất tự do, và có một nét láo xược gì đó trên khóe miệng của cô ta. Hai người đàn ông cầm violon lên và bắt đầu chơi. Tôi cảm thấy máu trong tĩnh mạch đập nhanh hơn – tôi nhận ra giai điệu – điệu nhạc nhảy gavotte từ thời của ban nhạc The Sun King. Khi giai điệu kết thúc, người phụ nữ uống hết sạch cốc của cô ta và bật lên một tràng cười vang và sáng như bạc.

Người đàn ông trẻ tuổi đang ngồi đối diện với tôi đặt cây violon của anh ta lên bàn. “Bây giờ, hãy nói cho chúng tôi biết, em chọn ai trong chúng tôi?”

Cô gái cười to, “người đẹp trai nhất – nhưng cả hai anh đều đẹp trai. Các anh có vẻ đẹp lạnh lùng của người nước ngoài mà ở đây chúng tôi không cần đến”.

Rồi một trong hai người còn lại la lên rất to, “anh ta hoặc tôi, hãy nói cho chúng tôi biết, cô em, hoặc hãy để Chúa chọn…”

“Cả hai anh đều yêu tôi”, cô gái nói. “Nếu tình yêu của các anh đủ lớn, hãy chiến đấu vì tôi và tôi sẽ nhờ thần Virgin gửi đến dấu hiệu để biết ai là người yêu tôi nhất. Các anh có đồng ý không?”

“Được” cả hai đều đồng ý và trừng trừng nhìn vào nhau.

“Tôi sẽ yêu người nào khỏe nhất”.

Vì thế họ cởi áo khoác và cơ bắp của họ nổi lên cuồn cuộn. Nhưng họ được nhận ra rằng họ đều khỏe như nhau.

“Tôi sẽ yêu người nào cao nhất”. Đôi mắt của họ long lên.

Và những người đàn ông dường như cao hơn lên, cổ của họ dài ra và dầy thêm, và ống tay áo của họ xắn lên đến tận khuỷu. Khuôn mặt của họ trở nên xấu xí và méo mó, đến nỗi tôi sợ rằng xương của họ sắp sửa gẫy. Nhưng tôi có cảm tưởng tóc của một người xù hơn tóc của người kia.

Quả đấm đầu tiên của họ giáng xuống bàn, các cây violon văng ra và sau đó là đến những lời nguyền rủa.

“Tôi sẽ yêu người già nhất”.

Mái tóc của họ xẹp xuống, những nếp nhăn hằn sâu và lan rộng hơn trên khuôn mặt, những đôi bàn tay trở nên run rẩy, yếu đuối và đầu gối rung rung như khi chúng cố gắng nâng đỡ cơ thể cao to của họ. Cái nhìn bị đầu độc của họ trở nên mệt mỏi và tiếng gầm vì cơn thịnh nộ đã trở thành những tiếng rền rĩ.

“Bởi Chúa, con đàn bà”, một trong hai người gào lên, “hãy nói một lần nữa hoặc cô sẽ bị tống xuống địa ngục, cô và cả cái vẻ đẹp đáng nguyền rủa của cô”.

Cô ta để lại tiếng cười trên bàn, và khóc với đôi mắt đẫm lệ, “Tôi sẽ yêu, đúng thế, tôi sẽ yêu người có bộ râu dài nhất và xấu nhất!”

Mái tóc dài màu đỏ bị giật ra khỏi khuôn mặt của những người đàn ông, và họ quyết tử với nhau một cách điên cuồng giống những con vật tru lên vì giận dữ và tuyệt vọng. Với những quả đấm giơ cao, họ đối đầu với nhau. Sau đó thì người phụ nữ cố gắng chạy trốn.

Nhưng đúng lúc ấy, hai người đàn ông tấn công người phụ nữ và cô ta bị bóp cổ giữa những ngón tay dài, xương xẩu của họ.

Tôi đã không thể rời khỏi đám cơ bắp ấy, xương sống của tôi lạnh toát và tôi cố ép mắt mình cụp xuống. Khi lại mở mắt ra, tôi thấy hai người đàn ông ở trong căn phòng bên cạnh, những người đang nhìn chằm chằm vào kết quả của cơn thịnh nộ của họ chính là Anton và Aloys Walzer. Tôi chết ngất tại chỗ.

Khi tôi tỉnh dậy ánh mặt trời đã len lỏi khắp phòng tôi, và cánh cửa sang phòng bên cạnh đã đóng lại. Tôi xông tới để mở cửa và tìm kiếm mọi thứ như thể chúng vẫn còn tồn tại như trước đó. Nhưng tôi nhớ là lớp bụi dày tôi nhìn thấy trước đó trên đồ gỗ đã được phủi đi. Và tôi có thể ngửi thấy hơi rượu còn phảng phất trong không khí.

Vài giờ sau tôi bước ra ngoài phố và tìm thấy Severo nhợt nhạt và đau khổ đang đi về phía tôi. Có những giọt nước mắt trên mắt ông ta.

“Lolita đã chết đêm qua rồi”, ông ta nói một cách yếu ớt.

Tôi không biết làm thế nào để giải thích những từ ngữ đang ám ảnh tôi, nhưng tôi có thể chắc chắn là tôi sẽ mắc tội xúc phạm nếu tôi nói ra. Người tình bé nhỏ Lolita của tôi nằm trên chiếc giường hẹp của cô bé, đôi mắt mở rộng. Những giọt nước mắt đọng lại trên môi dưới của cô bé và mái tóc vàng hoe, thơm phức giờ rối tung.

Tôi không biết cô bé đã chết như thế nào. Tôi đã không đủ can đảm để hỏi. Có một vết cắt nhỏ màu nâu trên cánh tay trái của cô bé – nhưng chắc chắn vết này không thể giết chết cô bé được. Cô bé đã để lại một bông hoa đỏ màu trắng – cho tôi.

Tôi vuốt đôi mắt mềm mại và đặt mái đầu của tôi vào trong đôi tay giá lạnh của cô bé – tôi không biết tôi đã như thế trong bao lâu nữa.

Thực ra Severo đã đến và nhắc tôi rằng tàu hơi nước đưa tôi đến Marseilles sẽ rời bến trong một giờ nữa. Vì thế tôi đã ra đi.

Khi tàu đã khá xa cây cột chống tôi mới nhận thấy dáng hình của Santa Barbara, và có 1 điều lạ lùng xảy đến với tôi đó là ở góc lâu đài tôi có thể nhìn thấy thân thể thiên thần bé nhỏ đáng yêu của tôi đang nằm sóng xoài trên nền đất. Trái tim tôi chưa bao giờ cảm thấy khát khao và thương cảm như bây giờ và tôi cầu khẩn những ngọn tháp “hãy mang đến cho cô ấy tình yêu của tôi, hãy mang đến cho cô ấy tình yêu của tôi trước khi cô ấy ra đi – và ra đi mãi mãi.”

Nhưng tôi đã đưa tâm hồn của Lolita đi cùng với tôi.

Một vài năm sau đó tôi đã trở lại thị trấn già nua miền Nam nước Đức. Trong quán rượu cũ kỹ của nhà Walzer, bây giờ sống ở đó là một phụ nữ già xấu xí làm nghề thu hái ngũ cốc. Tôi đã hỏi người phụ nữ về hai anh em và nhận được câu trả lời rằng họ được tìm thấy đã chết ở trong ghế có tay tựa gần bếp lò vào buổi sáng sau đêm xảy ra cái chết của Lolita. Khi chết họ đều mỉm cười.”

Giáo sư, người mà đôi mắt nhìn chằm chằm nhưng thực ra không hề nhìn thấy gì cả trên đĩa thức ăn của ông khi nói, đang tìm kiếm thứ gì đó. Nữ bá tước Beata mở to đôi mắt của mình: “Ông đích thực là nhà thơ”, bà ấy nói và chiếc vòng trên cổ tay thanh nhã của bà rung lên leng keng khi bà đưa bàn tay mình cho ông ta.

Hường Đỗ dịch từ bản tiếng Anh của Carolyn Kunin



[1] Theo lời kể của Irina Lvovna Galinskaya trong bài Tiếp cận vấn đề về cội nguồn tiểu thuyết Lolita (К вопросу о генезисе романа Лолита) trong cuốn Vladimir Nabokov: những cách đọc đương đại (Владимир Набоков: современные прочтения), là “tia nhìn sợ hãi”.

Nguồn: Bản người dịch gửi Phê bình văn học.Copyright © 2012-2014 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply