Từ – một chủng loại còn ít được biết tới


Trần Ngọc Vương – Đinh Thanh Hiếu

I- ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghiên cứu văn học truyền thống theo góc nhìn thể loại trong vòng mười năm trở lại đây đã có những bước tiến đáng kể. Nếu như giữa những năm tám mươi của thế kỉ XX trở về trước, bạn đọc muốn tìm hiểu một cách có hệ thống các thể loại văn học từng có trong lịch sử văn học Việt Nam thì đều phải tạm bằng lòng với những mô tả vắn tắt và riêng lẻ trong các bộ sách lịch sử văn học. Nói riêng về thơ truyền thống thì cuốn Thơ ca Việt Nam – hình thức và thể loại từng đóng vai trò cẩm nang trong một thời gian khá dài, tuy những nhà chuyên môn vẫn biết là không đầy đủ.

Căn cứ vào thực tế văn học sử, cần phải chia toàn khối các thể loại từng tồn tại trong văn học Việt Nam trước hết theo tiêu chí ngoại nhập hay nội sinh, “vốn tự có” hay “vốn đi vay”. So với văn học viết Trung Quốc thì nền văn học viết của ta ra đời muộn, và cả một thời gian rất dài đã mô phỏng hệ thống thể loại của văn học Trung Quốc, trước khi tạo lập được các thể loại thuần túy dân tộc. Quy trình và thành tựu nghiên cứu văn học ở ta diễn ra theo chiều hướng hầu như ngược lại: các thể loại văn học mang bản sắc dân tộc đã được đi sâu nghiên cứu trước (truyện Nôm, ngâm khúc, hát nói và phần nào đó là tuồng), rồi tới các thể loại gốc Trung Quốc nhưng đã được Việt hóa từ rất sớm (thơ Nôm, phú Nôm…). Mãi tới gần đây, một số thể loại thuần Hán văn hoặc về cơ bản tồn tại trong dạng thức Hán văn mới được tiến hành khảo sát có quy mô. Tuy vậy, thành tựu trong đường hướng này chưa nhiều, số lượng công việc cần làm còn rất lớn (có thể nêu một số tác giả của một số luận án tiến sĩ và công trình có độ tin cậy khá cao như các công trình tập thể Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, công trình Văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam của PGS. Nguyễn Đăng Na hay luận án về thể loại phú của TS. Phạm Tuấn Vũ…).

Một góc nhìn khác, cũng là cực kì quan trọng để tiến tới việc nhìn nhận lôgich và quy luật phát triển của văn học Việt Nam trong chiều sâu, đó là việc phải khảo sát hệ thống các thể loại này theo tiêu chí hành chức của chúng. Tôi không bàn ở đây nội dung các khái niệm “văn học chức năng” hay “văn học phi chức năng”, mà bàn đến tọa độ mà các thể loại đó chiếm giữ trong các liên hệ quy chiếu với “tính văn học”, hay dùng một từ chung hơn, “tính nghệ thuật”. Điều dễ nhận thấy và dễ đồng ý là trong toàn bộ các thể loại từng tồn tại của văn học truyền thống, thì có những thể loại hiện hữu ở trung tâm của loại hoạt động sáng tạo nghệ thuật, mà có những thể loại nằm ở vùng biên, thậm chí có những thể loại được gọi là “văn” nhưng chẳng can dự gì đến khu vực được định danh là “văn học mang tính nghệ thuật”. Mượn cách hình dung của nhà thi học hiện đại nổi tiếng người Đức Kate Hamburger, thì loại diễn ngôn có tính nghệ thuật cần phân biệt mạch lạc và mạnh mẽ với các loại diễn ngôn thuộc về lịch sử, thuộc về lí luận hay thuộc về thực dụng.

Có một thực tế là không chỉ độc giả bình thường mà ngay cả người nghiên cứu cũng chưa chú ý đúng mức tới những quy phạm dùng để phân biệt như vậy. Văn chương cử tử và văn chương quan dụng có tính nghệ thuật tới đâu là câu hỏi chưa được trả lời cụ thể. Sự tồn tại mang tính chủ đạo và lấn át của chúng đối với đời sống tinh thần nói chung và đời sống văn học nói riêng trong quá khứ khiến cho cả giới nghiên cứu thời hiện đại cũng bộc lộ một phản xạ mang tính tập nhiễm xã hội: chúng được tự động coi là đối tượng.

Khi lật các bộ văn học sử, cả ở Trung Quốc lẫn ở ta, thì nhóm tác phẩm thực chất thuộc về văn chương cử tử hay văn chương quan dụng thường được khảo tả kĩ nhất, dù người khảo tả lại đinh ninh rằng đang yên ổn trong cầu trường nghiên cứu nghệ thuật. Dù chưa đầy đủ, nhưng nếu coi những thành tựu chủ yếu trong lịch sử văn học Trung Quốc nhìn dưới góc độ thể loại là Sở tao, Hán phú, Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc, Minh – Thanh tiểu thuyết cùng với một số thể loại không khuôn định thời thịnh như truyền kì, tản văn… thì dễ nhận ra rằng thi, phú là những thể loại được chú mục hơn, còn tiểu thuyết được nghiên cứu nhiều vì lí do khác.

Tôi nghĩ rằng các học giả Trung Quốc vài thập niên gần đây đã nhận ra tình trạng ít nhiều là lệch lạc ấy. Bộ phận “mĩ văn” khổng lồ của họ là từ. Có thể nói thế này: được gọi là từ nhân gần nghĩa với “nghệ sĩ” hơn nhiều so với được gọi là “thi nhân”. Ai có đi học thì đều làm thơ, đều ít nhiều có kĩ năng làm thơ, nhưng “tác từ”, “điền từ” là chuyện khác, ở đẳng cấp khác.

Điều rất rõ, nên có thể coi là những nhận xét ban đầu mang tính chất ấn tượng chủ nghĩa, rằng từ (词?) không phải là văn học chức năng, nó không thuộc khoa cử, cũng không phải quan dụng, rằng ở ta, so với việc dịch thơ Trung Quốc, thì việc dịch từ có thể coi là quá ít thành tựu. Đương nhiên là vì khó. Nhưng có khó với đại chúng mới cần tới sự tồn tại của giới chuyên môn. Để làm rõ hơn ý tưởng này, chúng tôi muốn mời độc giả “sơ nhập” vào đặc trưng của thể loại.

II- LƯỢC SỬ “TỪ” Ở TRUNG QUỐC

Từ (词) là tên gọi giản lược của khúc tử từ (曲子词). Khúc tử từ là ca từ căn cứ vào khúc điệu nhất định (gọi là từ bài) mà sáng tác ra để phối hợp vào diễn xướng. Nó vốn là một thể thơ hợp vào nhạc.

Về ý nghĩa của chữ từ (词), Thuyết văn giải tự có thuyết giải: “Từ, ý nội nhi ngôn ngoại dã” (Từ, ý bên trong mà thể hiện ra bên ngoài). Trong Thuyết văn giải tự chú, Đoàn Ngọc Tài đời Thanh có giải thích: “Từ (词) và từ (辞) khác hẳn nhau… Từ (辞) là thiên chương, còn từ (词) là ý ở trong mà thể hiện ra lời ở ngoài… Tích góp chữ nghĩa tạo nên thiên, chương; tích góp từ (词) mà tạo nên từ (辞)”. Như vậy, nguyên thủy, từ (词) chỉ mang ý nghĩa là “từ ngữ”, “từ vựng”. Ý nghĩa này dần chuyển biến theo hướng mang ý nghĩa văn học có lẽ sớm nhất là Sở từ. Ở trong Sở từ, từ (辞) và từ (词) đôi chỗ dùng thông. Đến đời Hán, ngoài thi nhân (诗人) còn có từ nhân (词人), chỉ những nhà làm từ phú theo hướng Sở từ. Đến Tề, Lương, nhà văn gọi là từ nhân (辞人), cũng có khi gọi là từ nhân (词人), như trong Văn tuyển tự, Tiêu Thống dùng chữ “từ nhân tài tử”(]词人才子) để chỉ các nhà văn. Còn từ (词) liên hệ với ca từ thì bắt đầu từ Nhạc phủ. Thiên Nhạc chí trong Tống thư có ghi Đoản ca hànhtừ (词) của Vũ Đế, Yên ca hànhtừ (词) của Văn Đế… Tóm lại, đến thời Lục triều, từ (词) có xu hướng thiên về ca từ. Từ đời Đường trở về sau, từ (词) dần phát triển thành thể loại văn học riêng, vì vốn có đặc trưng phối vào nhạc nên nó được đưa vào tên các khúc từ. Vì vậy tên đầy đủ của nó là Khúc tử từ. Khúc biểu thị nhạc, từ biểu thị lời. Đến đời Tống, từ (词) là một thể loại văn học độc lập. Ngoài tên gọi từ, nó còn nhiều tên khác như Nhạc phủ, trường đoản cú, nhạc chương, ca khúc, thi dư

Từ ra đời liên quan mật thiết với mối giao lưu âm nhạc của Trung Hoa với ngoại vực và sự dung hợp các yếu tố Nhã nhạc với Tục nhạc. Trong sách Mộng Khê bút đàm, Thẩm Quát có viết: “Từ năm Thiên Bảo thứ 13 đời Đường (754), bắt đầu ban chiếu hợp tấu chính nhạc (pháp khúc) với “Hồ bộ”, từ đó nhạc tấu sai hẳn với phép cổ. Nhạc của tiên vương là Nhã nhạc, nhạc mới của đời trước là Thanh nhạc, nhạc hợp với Hồ bộ là Yến nhạc”. Nhã nhạc là nhạc thời Tiên Tần, thanh nhạc còn gọi là thanh thương khúc là nhạc thời Ngụy Tấn, Lục triều; Yến nhạc là nhạc từ Tùy Đường về sau, lấy Hồ nhạc, trước hết là nhạc truyền từ Tây Vực vào, làm chủ, kết hợp với thanh nhạc Trung nguyên truyền thống và ca khúc dân gian. Xét từ góc độ lịch sử văn học, âm nhạc, thì ca từ phối hợp với Nhã nhạc Kinh thi, với thanh nhạcNhạc phủ, với Yến nhạc Khúc tử từ.

Sách Nhạc phủ dư luận của Tống Tường Phượng có nói: “Dùng văn viết ra là từ, dùng thanh so vào là khúc”, đã chỉ rõ được đặc điểm văn học âm nhạc của từ. Nhưng từ không giống như Kinh thiNhạc phủ. Kinh thi Nhạc phủ có lời trước rồi sau mới phối vào khúc điệu còn từ  thì căn cứ vào nhạc điệu có sẵn mà viết lời, nên sáng tác từ còn gọi là “điền từ”, tức là căn cứ vào quy định của từ điệu – “điệu hữu định cú, cú hữu định tự, tự hữu định thanh” (điệu có số câu nhất định, câu có số chữ nhất định, chữ có thanh nhất định) mà điền lời vào thôi.

Đặc trưng cơ bản của Yến nhạc là “nhạc trên tiệc rượu”. Ngoài tên bản nhạc, do đặc trưng phối hợp vào nhạc để diễn xướng nên về hình thức, từ phải tuân thủ theo điệu. Có rất nhiều từ điệu, trong mỗi điệu lại bao gồm mấy thể như điệu Trúc chi từ có thể 14 chữ và 28 chữ, lại phân chia bằng trắc… Theo thống kê trong Ngự chế từ phả, từ có tất cả 826 điệu 2306 thể. Nhưng theo liệt kê của Trung Quốc từ học đại từ điển thì có tới 2069 điệu. Mỗi điệu số chữ cũng rất khác nhau, điệu ngắn nhất như Trúc chi từ có 14 chữ, điệu dài nhất như Oanh đề tự có 240 chữ. Căn cứ vào độ dài ngắn khác nhau mà từ điệu chia ra: lệnh, dẫn, cận, mạn. Tống Tường Phượng trong Nhạc phủ dư luận có viết: “Từ trước có Tiểu lệnh, sau Tiểu lệnh được kéo dài ra, gọi là dẫn, như Dương quang dẫn, Giang thành mai hoa dẫn, cũng lại gọi là cận, như Chúc Anh Đài cận, Tố trung tình cận… là vì âm điệu gần nhau nên kéo ra; kéo dài nữa ra gọi là mạn – mạn nghĩa là dài, như Mộc lan hoa mạn, Trường đình oán mạn, Bái tinh nguyệt mạn… tất cả đều bắt đầu từ Lệnh”. Mao Tiên Thư đời Thanh, trong sách Điền từ danh giải thì phân biệt: “Năm mươi tám chữ trở xuống gọi là Tiểu Lệnh, năm mươi chín chữ đến chín mươi chữ thì gọi là Trung Lệnh, chín mươi mốt chữ trở lên là Trường điệu”.

Kết cấu của từ có Đơn điệu, Song điệu, Tam điệu, Tứ điệuĐơn điệu còn gọi là đơn phiến, chỉ có một đoạn. Song điệu chia ra hai đoạn, gọi là Thượng, Hạ phiến. Từ đa số là song điệu. Tam điệu, Tứ điệu quá dài, không thích hợp trong diễn xướng nên chiếm số lượng rất ít. Và vì từ dùng trong diễn xướng nên đặc biệt yêu cầu hợp vận luật bằng-trắc, thanh luật quy định rất nghiêm ngặt. Nữ từ nhân Lý Thanh Chiếu đời Tống có viết: “Thơ văn chia bằng trắc mà Ca từ chia ngũ âm, lại chia ngũ thanh, lại chia lục luật, lại chia trong, đục, nặng, nhẹ”. Các câu trong từ cũng so le không đều, mỗi câu từ 1 đến 10 chữ. Về mặt nội dung, theo quan niệm truyền thống, “Thơ để nói chí, Từ để tả tình”, mà tả tình chủ yếu là “tư tình nhi nữ”. Nói chung, do từ khởi từ tiệc rượu, dùng cho ca kĩ diễn xướng để đưa rượu làm vui, cho nên nội dung phần nhiều là những lời thướt tha, diễm lệ. Thẩm Tường Long trong Luận từ tùy bút có viết: “Bàn học vấn, thuật công đức có thể đưa vào từ được không? như bài Bắc chinh của Thiếu Lăng (Đỗ Phủ), bài Vịnh trống đá của Xương Lê (Hàn Dũ) có thể dùng từ được không?” cho thấy ở một số nội dung, không thể sử dụng từ để thể hiện. Vương Quốc Duy đã khái quát: “Từ có thể thể hiện những điều mà thơ không thể thể hiện được nhưng không thể hiện được hết những điều mà thơ thể hiện được”. Từ sở trường thể hiện tình một cách uyển chuyển, hàm súc. “Về mặt tình, có chỗ văn không thể thấu đạt, thơ không thể nói tỏ mà chỉ có ở trong Trường đoản cú (Từ) có thể hình dung một cách uyển chuyển, hàm súc” (Tra Lễ – Đồng cổ thư đường từ thoại).

Tổng tập từ của văn nhân đầu tiên là Hoa gian tập. Âu Dương Quýnh nói về tính chất của Hoa gian tập, gọi là “thi khách khúc tử từ”, có ý phân biệt với “khúc tử từ” dân gian. Việc phát hiện ra từ ở Đôn Hoàng đã cho thấy lịch trình phát triển của từ từ dân gian đến văn nhân.

Từ Đôn Hoàng hiện đã tìm thấy và chỉnh lí được khoảng 500 bài, chủ yếu là tác phẩm từ dân gian. Nội dung từ Đôn Hoàng tương đối rộng, đặc biệt là miêu tả tình cảm của chinh nhân thương nhớ quê nhà, nỗi khổ trong chiến loạn, ca nhân, kĩ nữ…, phong cách phác thực. Một trong những tập từ Đôn Hoàng là Vân dao tập, 30 bài, phong cách chất phác, có Tiểu lệnh, có Trường điệu. Trong 30 bài sử dụng 13 từ điệu, trong đó có 12 từ điệu thấy trong Giáo phường ký, cho thấy các nhạc khúc đương thời lưu hành biến chuyển thành từ điệu. Từ Trung Đường về sau, các văn nhân có làm từ đã tiến hành “nhã hóa” từ dân gian. Sách Mộng Khê bút đàm – quyển 5 có viết: “Người đời Đường dùng từ điền vào khúc… Vào khoảng niên hiệu Trinh Nguyên, Nguyên Hòa, người làm từ đã nhiều” – nhưng thực tế văn nhân thời Trung Đường chỉ thỉnh thoảng làm vài bài từ – tương truyền hai bài Bồ tát man Ức Tần Nga của Lý Bạch được tôn là “Bách đại từ khúc chi tổ” (tổ của từ khúc trăm đời), nhưng còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng về văn bản, tác giả. Từ của văn nhân thực tế bắt đầu hưng thịnh từ Vãn Đường, Ngũ Đại, đại biểu là Hoa gian tập. Nội dung từ thời Đường, Ngũ Đại phản ánh tình cảm tinh tế của sĩ đại phu, văn nhân, nội dung không phong phú như từ Đôn Hoàng.

Ôn Đình Quân là đại biểu từ gia trong Hoa gian tập. Ông tinh thông âm luật, “có thể theo âm đàn hát, viết lời diễm lệ”, có cống hiến quan trọng trong việc quy phạm hóa từ. Và cũng bắt đầu từ Ôn Đình Quân mới có văn nhân chuyên tâm dồn sức viết từ. Từ của Ôn Đình Quân cực thướt tha diễm lệ. Tập từ của ông mang tên Hương thuyên tập với ý “phấn hương tha thướt”. “Thướt tha diễm lệ” là đặc trưng của phong thái từ Hoa gian, có phần kế thừa “cung thể” Tề – Lương. Tác giả lớn thứ hai trong Hoa gian tập là Vi Trang. Ông dùng bút pháp giản phác, đạm bạc miêu tả chân tình. Văn nhân dùng từ làm công cụ tả tình, khiến từ dần thoát li âm nhạc có thể sớm nhất là Vi Trang.

Hoa gian tập có địa vị cực cao trong lịch sử thể từ. Trần Chấn Tôn trong Thực Trai thư lục đề giải – quyển 21 xưng tụng tác phẩm này là “cận thế y thanh điền từ chi tổ”. Về mặt hình thức, các tác phẩm trong Hoa gian tập có xu hướng quy phạm hoá về mặt cách luật, quy phạm bằng trắc trong mỗi điệu từ đi vào nghiêm ngặt, có cống hiến lớn cho sự phát triển từ luật. Đối với lịch sử thể từ, Hoa gian tập được xem là mẫu mực. Từ của văn nhân hưng thịnh vào Vãn Đường, Ngũ Đại có địa vực chủ yếu ở miền Nam, đặc biệt là Nam Đường và Tây Thục. Từ Tây Thục chủ yếu theo phái Vi Trang, đại biểu là Triệu Sùng Tộ, phong cách từ diễm lệ “chạm châu khắc ngọc, tỉa lá xén hoa”… Từ Nam Đường tiêu biểu có Phùng Diên Dĩ và Lý Dực. Từ họ Phùng uyển chuyển, hàm súc, “mở phong khí cho Bắc Tống” (Nhân gian từ thoại). Lý Dực là Hậu chủ Nam Đường, sau khi bị bắt về Tống, quốc phá gia vong, tình cảnh bi thương thể hiện ra từ, đoạn tuyệt hẳn phong cách diễm lệ, dùng thủ pháp trực tả, thể hiện tình cảm bi sầu thê thảm, đạt đến trình độ khá cao.

Đời Tống là thời kì từ đạt đến toàn thịnh. Toàn Tống từ do Đường Khúc Chương biên tập thu được hơn 20 ngàn bài của hơn 1400 tác giả, với nhiều phái, nhiều phong cách, trở thành “Văn học của một thời đại” (Vương Quốc Duy) sánh cùng Sở tao, Hán phú, Đường thi, Nguyên khúc

Tống từ có thể chia ra hai giai đoạn: Bắc Tống và Nam Tống. Từ thời đầu Bắc Tống kế thừa nhiều ở từ đời Đường, Ngũ Đại, từ Nam Tống thì thuần Tống điệu. Từ Bắc Tống coi trọng cả điệu dài và điệu ngắn, các điệu đều có tác phẩm hay, từ Nam Tống nghiêng về trường điệu. Từ Bắc Tống phần nhiều dùng trong ca xướng, thanh điệu uyển chuyển. Từ Nam Tống phần nhiều dùng trong thù phụng, thể chế nhã chính. Đó là một số nét khái quát nhất.

Các tác giả từ tiêu biểu thời đầu Bắc Tống có Yến Thù, Trương Tiên, Liễu Vĩnh… về cơ bản vẫn kế thừa phong cách diễm lệ lụa là hương phấn đời trước, sở trường điệu ngắn, vịnh cảnh, tả tình, ngôn ngữ thanh tân hoa mĩ. Liễu Vĩnh là tác gia từ có cống hiến quan trọng, đặc biệt trong việc phát triển từ điệu dài (mạn từ). Tập từ Nhạc chương của ông có hơn 200 bài thì hơn 100 bài là trường điệu. Ngay cả những Tiểu lệnh trong Giáo phường khúc Đôn Hoàng khúc đến ông cũng thường diễn thành trường điệu, như điệu Trường tương tư vốn có 36 chữ, ông kéo dài thành 103 chữ; điệu Lãng đào sa vốn có 54 chữ, ông kéo thành 144 chữ… Việc phát triển từ trường điệu có ý nghĩa lớn trong việc đề cao khả năng biểu hiện của từ. Về mặt ngôn ngữ, Liễu Vĩnh cũng đưa vào từ nhiều yếu tố dân gian, thông tục, “tục hoá” từ, từng bị Lý Thanh Chiếu chê là “từ ngữ trần tục”. Trên thực tế, từ Liễu Vĩnh đã kết hợp một cách hài hoà giữa yếu tố nhã với yếu tố tục, được ưa chuộng rộng rãi.

Tác gia từ lớn giai đoạn giữa Bắc Tống là Tô Thức (Tô Đông Pha). Ông chủ yếu khai thác nội dung tư tưởng của từ, khiến cho từ (vô ý bất khả nhập, vô sự bất khả ngôn” (không có ý gì mà không thể đưa vào, không có việc gì mà không thể nói). Cống hiến chủ yếu của Tô Thức là sáng tạo ra phong cách hào phóng và khoáng đạt trong từ. Như bài từ như Niệm nô kiều, Xích Bích hoài cổ: “Đại giang đông khứ…” chứa đựng cả non sông, lịch sử, nhân vật vào một chốn, được xem là “thiên cổ tuyệt xướng” của từ phái hào phóng. Người đương thời gọi thủ pháp điền từ của Tô Thức là “dĩ thi vi từ” (dùng thơ làm từ). Sách Hậu sơn thi thoại viết: “Tử Chiêm dùng thơ làm từ”. Sách Bích Khê mạn chí – quyển 2 của Vương Chước nói từ của Đông Pha là “thơ ở trong Trường đoản cú”. “Dĩ thi nhập từ” là lấy phong cách hùng hồn, phiêu dật của thơ và cách thức đưa sinh hoạt, cảnh vật vào thơ thời thịnh Đường vào làm từ khác hẳn với phong cách từ của Án Thù, Âu Dương Tu, Liễu Vĩnh, thoát ra khỏi phong cách thướt tha diễm lệ vốn có của từ.

Cuối Bắc Tống có một số đại tác gia làm Từ như Triều Bổ Chi, Hoàng Đình Kiên, đặc biệt là Tần Quán và Chu Bang Ngạn. Từ của Tần Quán tinh mĩ, thanh tân, diễm lệ, hợp âm luật. Từ của Chu Bang Ngạn sở trường về phô bày, chú ý kết cấu bố cục, trọng điển nhã, hoa mĩ, có xu hướng “phú hoá” đối với từ.

Tác gia từ tiêu biểu đầu Nam Tống có Trương Nguyên Cán, Trương Hiếu Tường, Chu Đôn Nho và đặc biệt là nữ từ nhân Lý Thanh Chiếu. Những tác gia này ở trong giai đoạn thời Bắc-Nam Tống. Thời Bắc Tống, họ lại viết từ hoa mĩ, diễm lệ. Sau khi đất nước bị xâm lược, quốc đô dời xuống phương Nam, trước cảnh loạn li, các từ gia phần nhiều gửi gắm tình cảm ái quốc, bi phẫn vào từ như từ của Lý Thanh Chiếu mang nhiều “chí khí trượng phu”, qua miêu tả cái sầu của bản thân mà gửi gắm nỗi niềm bi thương cố quốc. Từ của bà kết hợp được phong cách thanh tân chất phác với ngôn ngữ tinh mĩ điển nhã, có sức truyền cảm rất lớn.

Giữa Nam Tống là thời cực thịnh của từ, đặc biệt phát triển các phái từ ái quốc và hào phóng, xuất hiện đại từ nhân Tân Khí Tật. Tân Khí Tật còn để lại cho đến nay 629 bài từ, là tác giả viết từ nhiều nhất ở đời Tống, nổi tiếng là “hào khí từ”, kết hợp một cách tuyệt diệu nội dung yêu nước nồng nàn với phong cách hào phóng, trở nên tác gia kiệt xuất bậc nhất, có thể sánh với thơ yêu nước của Lục Du.

Cuối Nam Tống xuất hiện hai phái từ lớn mang phong cách khác nhau: phái tao nhã do Khương Quỳ khởi xướng, Ngô Văn Anh, Vương Nghi Tôn, Trương Viên kế tục… Tân phái kế thừa từ của Tân Khí Tật với các từ gia như Lưu Khắc Trang, Lưu Thần Ông, Văn Thiên Tường… Tao nhã phái phần nhiều mang nội dung trữ tình, đặc biệt là tình cảm ai oán, cách viết trọng kĩ xảo, âm luật, rèn dũa câu chữ. Tân phái chủ yếu là mô tả cảnh chiến tranh và tâm trạng vong quốc, phong cách hào phóng. Cả hai phái đều có thành tựu, nhưng không có kế thừa và phát triển nên đến đây, Tống từ bắt đầu đi vào suy vi. Xét về lịch sử từ thể thì thực sự cũng đã qua thời cực thịnh.

Thời Kim, Nguyên, Minh, từ đi vào suy vi, cho dù số lượng tác phẩm vẫn rất lớn. Toàn Kim Nguyên từ thu lục 7293 bài của 282 tác gia. Toàn Minh từ thu lục 18 ngàn bài của 1300 tác giả, xấp xỉ Toàn Tống từ. Biểu hiện suy vi chủ yếu ở chỗ số tác gia từ có thành tựu rất hiếm, cũng ít xuất hiện các lưu phái và phong cách đặc sắc.

Thời Kim có một số tác gia từ như Ngô Kích, Sái Tùng Niên, Triệu Bỉnh Văn, đặc biệt là Nguyên Hiến Vấn với phong cách từ khoáng đãng thanh tân, tạo ảnh hưởng khá lớn.

Từ Đàm đời Nguyên chủ yếu chịu ảnh hưởng của Nguyên Hiến Vấn. Có một số tác gia có thành tựu như Gia Luật Sơ Tài, Lưu Bỉnh Trung, Bạch Phác, Cừu Viễn, Lưu Nhân, Trương Chử, Hứa Hữu Nhâm…, chịu ảnh hưởng hoặc Khương Quỳ, hoặc Tô Thức, Tân Khí Tật, phần nhiều mang phong cách hào phóng.

Thời Minh không có những từ gia lớn hay những tác gia chuyên từ nhưng có thành tựu nhất định về nghiên cứu. Từ học, biên soạn Từ phả, Từ vận như Thi dư đồ phả của Trương Diên, Hội văn Đường từ vận của Hồ Văn Hoán, Từ thể minh biện của Từ Sư Tăng, Từ phẩm của Dương Thận… Các tác gia từ đáng kể có Dương Cơ, Cao Khải, Lưu Cơ, Dương Thận, Vương Thế Trinh, Thang Hiển Tổ, Nhiếp Đại Niên, Trần Tử Long, Hạ Hoàn Thuần…

Thời Thanh là thời trung hưng của từ, biểu hiện ở số tác gia, tác phẩm tăng mạnh. Toàn Thanh từ biên soạn thời Thuận Trị, Khang Hy đã thu được hơn 50 ngàn bài của hơn 2000 tác giả. Theo các nhà nghiên cứu ước đoán, tổng lượng từ đời Thanh khoảng hơn 200 ngàn bài với hơn 10 ngàn tác giả. Việc nghiên cứu từ học phát triển cực thịnh. Về cách luật, có Từ luật của Vạn Thụ, Khâm định từ phả của Vương Địch Thanh; về bình luận có Nghệ khái của Lưu Hy Tái, Bạch Vũ trai từ thoại của Trần Đình Tráo, Nhân gian từ thoại của Vương Quốc Duy…; tuyển tập có Từ tổng của Chu Di Tôn, Cường thôn tuỳ thư của Chu Tổ Mưu…

Tác gia nổi tiếng đầu Thanh có Trần Duy Tung, Chu Di Tôn, Nạp Lan Tính Đức. Trần Duy Tung là đại biểu của Dương tiễn phái, còn để lại 1800 bài từ, phong cách hào sảng theo Tân Khí Tật. Chu Di Tôn là đại biểu từ gia của Chiết Tây phái, chủ yếu theo phong cách cao nhã của Khương Quỳ, Trương Viêm. Từ của Nạp Lan Tính Đức tình cảm u uất, phong cách thanh tân theo Tần Quán, Lý Dực.

Giữa Thanh hưng khởi từ phái Thường Châu với các đại biểu Trương Huệ Ngôn, Chu Tế, nhấn mạnh kí thác “ý nội ngôn ngoại”. Cuối Thanh, trước tình cảnh đất nước nội ưu ngoại hoạn, từ mang nội dung ưu quốc, ái dân, bi thảm, mẫn thế phát triển mạnh. Những tác gia nổi tiếng như Vương Bằng Vận, Văn Đình Thức, Huống Chu Di, Chu Tổ Mưu tổ chức thành Tuyên Nam từ xã, chuyên sáng tác từ thể hiện nỗi niềm cảm thương thế sự. Các nữ tác giả từ đời Thanh cũng phát triển mạnh với số lượng lớn, có một số tác giả đáng chú ý như Ngô Tảo, Cố Xuyên, đặc biệt là Thu Cận – chiến sĩ cách mạng dân tộc dân chủ cuối Thanh. Từ của bà tráng chí hào hùng, mãnh liệt, xứng đáng là “nữ trung anh kiệt” của các từ gia.

Thời cận, hiện đại vẫn xuất hiện nhiều tác gia từ có thành tựu, mới mẻ cả về nội dung, ngôn từ và phong cách. Trong đó Mao Trạch Đông, tuy sáng tác từ không nhiều nhưng với thành tựu đặc biệt, đã có vị trí xứng đáng trong từ sử.

III- NHỮNG ĐỀ NGHỊ VỀ VIỆC NGHIÊN CỨU “TỪ” Ở VIỆT NAM

Lược thuật lại một số bước phát triển và những tên tuổi lớn, những thành tựu cơ bản của chủng loại từ ở Trung Quốc, chúng tôi muốn trở lại lưu ý các nhà nghiên cứu lịch sử văn học một số nét theo chúng tôi là quan trọng:

Từ ở Trung Quốc có một lịch sử phát triển đã vài nghìn năm. Tuy nhiên, giai đoạn thịnh phát nhất của chủng loại này lại diễn ra muộn, và điều quan trọng hơn, là do sự chế ước của những đặc điểm nội dung, từ chưa bao giờ được xếp vào “danh mục” của các thể loại sử dụng trong môi trường quan phương hay khoa cử. Từ không được / không bị điển phạm hóa, nghĩa là cũng không được / không bị đại chúng hóa.

– Như vậy, trong khuôn khổ của quan niệm chính thống, chưa bao giờ chủng loại văn học này được chính thể chuyên chế lẫn Nho giáo với tư cách nền “văn chương nhà nước” trọng thị, tuy cũng chưa bao giờ nó bị chính thức tẩy chay hay bị trù dập.

– Chính vì thế, nó trở nên là một lãnh địa thủ đắc một số những điều kiện nhất định cho một sự phát triển tự do. Nhiều cái mới, cái không chính thống – điều kiện tiên quyết của sáng tạo nghệ thuật – sẽ từ đấy mà xuất hiện.

– Trong thực tế, chính với những điều kiện như vậy mà từ đã có thể là nơi tập hợp của những tên tuổi có những thành tựu sáng tạo nghệ thuật đích thực, những danh sĩ chứ không phải là những nhà khoa bảng của chế độ, của nền học vấn quan phương. Nói khác đi, nó có điều kiện hơn nhiều những thể-chủng loại văn chương khác để tự trở thành bộ phận văn học mang tính nghệ thuật đích thực.

– Ra đời, lưu hành, phát triển trong môi trường cung đình rồi môi trường thị dân ở các đô thị lớn của chế độ chuyên chế, từ cũng là một sản phẩm đặc biệt của sự giao lưu văn hóa, văn học giữa các miền, các địa vực văn hóa vốn rất xa nhau thuộc đế chế Trung Hoa xưa rộng lớn và đa tạp. Đó cũng là sản phẩm nghệ thuật mang tính hội hợp, thống hợp nhiều ngành nghệ thuật khác nhau: văn học, âm nhạc (cả dân nhạc lẫn âm nhạc bác học), tửu nghệ, nghệ thuật diễn xướng (liên quan trực tiếp, thậm chí trở thành một bộ phận của nghệ thuật sân khấu). Không bị/ được quy phạm hóa, cử tử hóa, nó nảy nở đa tạp, xum xuê, thậm chí rườm rà; nhưng mặt khác, lại mang tính đặc thù dân tộc và vùng văn hóa rất đậm nét, đến mức nếu không có sự tương đồng về văn hóa sâu sắc thì không thể thưởng thức hay mô phỏng được.

– Chắc chắn rằng sự thịnh phát của từ gắn với sự trưởng thành của loại hình nhà nho thứ ba-nhà nho tài tử. Những thuộc tính của loại hình nhà nho thứ ba đó lẫn những điều kiện và môi trường tòng thuộc đều dễ dàng tìm thấy khi tìm hiểu chủng loại văn chương này.

– Trong các công trình nghiên cứu văn học sử của chính các tác giả Trung Quốc hiện đại trước đây (có thể nói là cho đến tận những năm 80 của thế kỷ XX), từ chưa phải là đối tượng để quan tâm nghiên cứu. Điều đó cũng kéo theo sự trống vắng trong việc nghiên cứu từ ở các nước có quan tâm hay có duyên nợ với văn học Trung Quốc, trong đó dĩ nhiên có Việt Nam.

– Việc thiếu vắng những công trình dịch thuật, nghiên cứu về từ đã dần dần làm lộ ra những sự khuyết thiếu không nhỏ của chúng ta trong nhận thức và trình bày lịch sử văn học, cả lịch sử văn học Trung Quốc lẫn lịch sử văn học Việt Nam.

Nếu theo dõi văn học Việt Nam ở “tọa độ gần” sẽ nhận thấy rằng, ngay từ thời điểm hình thành nền văn học viết, từ đã là thể loại được sử dụng một cách khá nhuần nhuyễn. Tình trạng tư liệu hiện thời chưa cho phép chúng ta nói gì nhiều về mặt số lượng, nhưng chỉ căn cứ trên những gì còn sót lại đến ngày hôm nay, có thể nói rằng các tác giả Việt Nam vào các thế kỷ X – XI, không hề cảm thấy mình ngoài cuộc với chủng loại văn học giàu tính nghệ thuật và đòi hỏi sự sành điệu “nghề chơi cũng lắm công phu” ấy. Việc một nhà sư, cho dù là ở cương vị Quốc sư, như Khuông Việt đại sư, xướng họa, thù tạc với sứ thần Trung Hoa bằng những tác phẩm văn chương có ngôn từ chau chuốt, diễm lệ là bằng chứng hiển nhiên về khả năng và trình độ nhập cuộc của văn học viết Việt Nam thời ấy. Bài từ Vương lang quy của đại sư Khuông Việt xứng đáng là một giai phẩm, với từ điệu là một trong những từ điệu nổi tiếng (Nguyễn lang quy), với sự phong phú, tao nhã trong sắc thái ngôn từ khiến nhiều bậc cao nhân đời nối đời xưng tụng, và với tính hàm súc cao độ trong ý tưởng, tiềm ẩn niềm tự hào dân tộc lịch lãm cùng bản lĩnh chính trị vững vàng. Chắc chắn với một trình độ từ nghệ như thế hiệu quả ngoại giao của cuộc xướng họa là điều không cần phải nghi ngờ. Rủi thay, cho đến nay chúng ta chưa lần trở lại được chuỗi tác phẩm từ mà tôi tin một cách tiên thiên rằng hấp dẫn, chưa dựng lại được phả hệ các từ gia trên suốt cả ba-bốn thế kỷ tiếp theo. Phải đợi đến Nguyễn Húc với Cưu đài tập đầu thể kỷ XV mới có cơ hội gặp một tác giả từ đích thực.

Từ sau Nguyễn Húc, mạch những tác giả văn học trong văn học Việt Nam có sáng tác từ nổi lên mạch lạc hơn các thế kỷ trước. Rõ ràng không phải là vô cớ mà một số lượng lớn các bài từ lại được “độn” vào trong các sáng tác không mang tính chính thống, nhất là trong các tác phẩm văn xuôi nghệ thuật. Tuy nhiên từ thời điểm sau cuộc kháng chiến chống xâm lược nhà Minh thắng lợi, sự giao lưu văn hóa, văn học giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra chỉ còn theo lối quan phương, hoàn toàn không còn tính chất “đại trà”, tính chất đời thường (quotidien), khiến chữ Hán khá nhanh chóng biến thành bán tử ngữ. Việc tiếp thu văn học Trung Quốc trên tất cả các bình diện bị thu hẹp lại – như một tất yếu – và có nhiều phương diện hầu như còn là chấm dứt hẳn. Một chủng loại văn chương, rộng hơn, chủng loại nghệ thuật mang quá nhiều “phụ liệu” đậm đặc tính “bản xứ” như từ, dĩ nhiên trở nên ngày càng xa lạ, khó dùng, khó chế tác. Tuy nhiên, từ vẫn còn được tiếp tục sáng tác trong văn học Việt Nam, và tên tuổi của những từ gia nổi tiếng vẫn được xưng tụng: Nguyễn Khản, Nguyễn Du, Phạm Thái, Nguyễn Hữu Chỉnh, Tùng Thiện Vương, Miên Thẩm… Một trong những tác giả cuối cùng để lại những bài từ toàn bích chính là Tản Đà.

Như ở trên đã nêu nhận xét, so với việc dịch thơ hay tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, thì việc dịch từ, một trong vài ba thành tựu chủ yếu xuyên suốt lịch sử nền văn học vĩ đại đó ở Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn, và có thể nói chỉ mới thực hiện được “trong muôn một”. Các công trình nghiên cứu về từ ở Trung Quốc thì hầu như chưa hề được giới thiệu. Cũng cho đến nay, chưa có một tuyển tập – dù thật khiêm tốn và “còn nhiều hạn chế” đi nữa – được giành cho chủng loại từ ở Việt Nam, từ của Việt Nam, nói gì đến chuyện nghiên cứu nó.

Dĩ nhiên, vì nhiều lí do khác nhau và khá phức tạp, đấy sẽ là một mảng công việc không hề dễ dàng chút nào. Nhưng chắc chắn là hay, là đáng làm, nên làm, hơn thế dù muốn dù không cũng là công việc phải làm. Và vì thế, sẽ là quá sớm việc nêu lên ở đây một số những nhận xét, dù chỉ mới là bước đầu, chỉ mới là những “giả thiết công tác” về những đặc điểm và thuộc tính của chủng loại văn chương này trong lịch sử văn học Việt Nam1

                                                                                         03-2004

____________

Tài liệu tham khảo:

– Phùng Vũ, Hình Đông Phong, Từ Triệu Nhân (chủ biên): Trung Quốc truyền thống văn hóa đại quan, Trung Quốc đại bách khoa toàn thư xuất bản xã, Bắc Kinh, 1996.

– Trương Bá Vĩ: Trung Hoa văn hóa thông chí – Thi từ khúc chí, Thượng Hải Nhân dân xuất bản xã, Thượng Hải, 1998.

– Vương Lực: Thi từ cách luật, Trung Hoa Thư Cục, Bắc Kinh, 2000.

– Hạ Thừa Đảo, Ngô Hùng Hòa: Độc từ thường thức, Trung Hoa Thư Cục, Bắc Kinh, 2000.

– Trương Đại Niên (chủ biên): Trung Quốc văn sử bách khoa. Quyển hạ, Chiết Giang Nhân dân xuất bản xã, 1998.

– Kiều Lực: Đường Tống từ yếu nghĩa, trong Trung Hoa văn hóa kinh điển yếu nghĩa toàn thư, Quang Minh nhật báo xuất bản xã, Bắc Kinh, 1996.

– Nguyễn Xuân Tảo (dịch), Chế Lan Viên (giới thiệu): Tống từ, Nxb. Văn học, H, 1999.

– Bạch Hào Tử (Miên Thẩm): Cổ Duệ từ (Phan Văn Các dịch và giới thiệu), Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản, H, 1999.

Trung Quốc học đại từ điển, Chiết Giang Giáo dục xuất bản xã, Hàng Châu hưng bang điện tử ấn vụ hữu hạn công ty, 1996.

– Nguyễn Húc: Cưu Đài tập, Bản chép tay (Tư liệu Viện Văn học).

Đường Tống từ giám thưởng từ điển, Giang Tô Cổ tịch xuất bản xã, in lần thứ năm, 1995.

Toàn Tống từ điển cố từ điển, Quyển thượng – hạ, Hồ Bắc Từ Thư xuất bản xã, 1996.

 

Leave a Reply