Từ tác phẩm đến văn bản (1/2)


Roland Barthes

 

Điều không ai chối cãi là, từ vài năm nay, có môt sự thay đổi đã diễn ra (hay đang diễn ra) trong quan niệm của chúng ta đối với ngôn ngữ, và do đó, cũng đối với tác phẩm (văn chương) vốn nhờ vào chính cái ngôn ngữ đó mà ít ra có được sự tồn tại có tính chất hiện tượng của mình. Sự thay đổi này tất nhiên liên kết với sự phát triển hiện nay (trong số các ngành học khác) của ngôn ngữ, của nhân chủng học, của chủ nghĩa Marx, của phân tâm học (từ “liên kết” được dùng ở đây có tính chất trung tính một cách cố ý: người ta không phán xét sự xác định, cho dù nó có tính chất  đa dạng và biện chứng đến đâu). Tính chất mới mẻ tác động đến tư tưởng của tác phẩm này không bắt buộc phải xuất phát từ sự đổi mới bên trong của từng ngành học trong số những ngành học nói trên, mà thật ra là từ sự gặp gỡ của chúng ở cấp độ đối tượng mà theo truyền thống thì đối tượng này không thuộc về bất cứ ngành học nào trong số đó. Thật vậy, tính liên ngành mà ngày nay người ta gán cho nó một giá trị nghiên cứu hàng đầu này, tưởng chừng không thể thực hiện được bằng sự đối chiếu đơn giản những tri thức chuyên ngành. Sự liên ngành này không phải là chắc chắn: sự thực là nó bắt đầu (không phải bằng việc chỉ phát ra những lời chúc tụng thành kính) khi mà tính liên đới của các ngành học xưa cũ đã bị loại bỏ – có thể một cách rất mạnh mẽ thông qua những chấn động của thời thượng – để tạo điều kiện thuận lợi cho một đối tượng mới, một ngôn ngữ mới mà cả hai đều không nằm trong phạm vi của những khoa học mà người ta yên tâm nhắm đến để đối chiếu. Chính sự phân loại bất ổn đó đã cho phép dự đoán được một sự biến đổi nào đó. Tuy nhiên, ta không nên đánh giá quá cao sự biến đổi trong đó, dường như tư tưởng tác phẩm đã được nắm bắt, vì bản chất của nó là một chuyển động trượt về mặt nhận thức hơn là một sự đoạn tuyệt thật sự. Sự đoạn tuyệt này, như người ta thường nhấn mạnh, có thể đã xảy ra vào thế kỷ trước, khi chủ nghĩa Marx và học thuyết của Freud ra đời. Từ đó, không có sự đoạn tuyệt mới nào sinh ra từ một trăm năm nay, và trong một trăm năm đó, có thể nói chúng ta vẫn còn ở trong sự lặp lại. Điều mà Lịch sử của chúng ta ngày nay cho phép, đó chỉ là trượt sang, là biến đổi, là vượt qua, là bác bỏ. Cũng giống như khoa học Einstein buộc ta phải đưa tính tương đối của các khung quy chiếu vào trong đối tượng nghiên cứu, cũng giống như hành động kết hợp chủ nghĩa Marx, học thuyết Freud và chủ nghĩa cấu trúc với nhau buộc ta phải tương đối hoá các mối tương quan giữa người viết, người đọc và người quan sát (người phê bình). Đối lập với tác phẩm – một khái niệm truyền thống được nhận thức từ lâu và vẫn còn tồn tại đến ngày nay theo cách của Newton – có một yêu cầu phải có một đối tượng mới là kết quả của một chuyển động trượt hay sự đảo lộn các phạm trù đã có trước đây. Đối tượng này chính là văn bản. Tôi biết rằng từ này là hợp với thời thượng (bản thân tôi đã tập sử dụng từ này thường xuyên), vì thế nó gây sự hồ nghi cho một số người. Nhưng chính vì thế mà tôi muốn tự nhắc nhở những mệnh đề chính nằm ở chỗ giao nhau mà theo tôi đó là nơi tìm thấy Văn bản. Từ “mệnh đề” này phải được hiểu theo nghĩa ngữ pháp hơn là logic: đó là những phát ngôn, chứ không phải những lập luận, là những “cú chạm”, những cách tiếp cận chấp nhận vẫn còn mang tính chất ẩn dụ. Những mệnh đề ấy liên quan đến phương pháp, thể loại, tín hiệu, số nhiều, quan hệ, sự đọc, niềm khoái cảm.

*

1. Văn bản không nên được hiểu như một đối tượng có thể tính toán được. Sẽ là hoài công khi tìm cách tách bạch tác phẩm ra khỏi văn bản về mặt chất liệu. Đặc biệt, không được phép cho rằng tác phẩm thì có tính cổ điển, còn văn bản có tính tiền phong. Vấn đề không phải là nhân danh tính chất hiện đại để tạo ra một danh sách thô thiển, để tuyên bố một số sản phẩm văn chương này là đầu vào (in), một số sản phẩm văn chương khác là đầu ra (out) theo trạng huống thời gian của chúng. Có thể có “Văn bản” trong một tác phẩm rất cổ và có những sản phẩm thuộc văn chương hiện đại lại không có một văn bản nào. Sự khác biệt là như sau: tác phẩm là một mảnh chất liệu, nó chiếm phần không gian của những cuốn sách (chẳng hạn trong một thư viện). Còn văn bản thuộc phạm vi phương pháp luận. Sự đối lập này có thể gợi nhớ (chứ không phải là chép lại từng từ một) đến sự phân biệt mà Lacan đưa ra: “thực tại” thì hiện ra trước mắt (se montrer), còn “cái thực” thì phải được chứng minh (se démontrer). Tương tự, tác phẩm có thể được nhìn thấy (ở các nhà sách, trong các hộc phiếu, trong các chương trình thi cử), còn văn bản thì được chứng minh, được nói đến theo (hay không theo) một vài quy tắc nào đó; tác phẩm thì ở trong tay, còn văn bản nằm trong ngôn ngữ: nó chỉ tồn tại trong một diễn ngôn (hay đúng hơn, nó là Văn bản vì nó biết điều đó). Văn bản không phải là sự phân tích tác phẩm, chính tác phẩm mới là cái đuôi tưởng tượng của Văn bản. Hay là: Văn bản chỉ nghiệm thấy trong công việc, trong hoạt động sản xuất. Hậu quả là Văn bản không dừng lại (chẳng hạn ở giá sách thư viện); vận động cấu thành của nó là sự đi xuyên qua [1](đặc biệt, nó có thể đi xuyên qua một hoặc nhiều tác phẩm).

*

2. Tương tự như vậy, Văn bản không dừng lại ở văn học (tốt); nó cũng không thể nằm trong một tầng bậc nào kể cả trong một sự phân chia thể loại đơn giản nào. Cái tạo ra nó ngược lại (hay đúng ra) chính là sự lật đổ những phân loại cũ. Làm thế nào phân loại một nhà văn như Georges Bataille[2]? Nhà văn này là nhà tiểu thuyết, nhà thơ, nhà viết tiểu luận, kinh tế gia, triết gia hay là kẻ sùng tín? Câu trả lời sẽ khó khăn đến nỗi nói chung người ta thích quên đi Bataille trong các sách giáo khoa văn học, vì thật ra, Bataille đã viết những văn bản, hay có thể là một văn bản duy nhất mà thôi. Nếu Văn bản này đặt ra những vấn đề phân loại (vả chăng đây là một trong những chức năng xã hội của nó), chính là vì nó bao giờ cũng bao hàm một kinh nghiệm nào đó về sự giới hạn (theo cách biểu đạt của Philippe Sollers). Thibault cũng đã nói (nhưng theo nghĩa hạn chế hơn) về những tác phẩm giới hạn (như cuốn Cuộc đời của Rancé của Chateaubriand, quả thật ngày nay đối với chúng ta cuốn sách này là một văn bản): Văn bản là cái hướng đến giới hạn của các quy tắc phát ngôn (sự duy lý, tính có thể đọc, v.v.). Tư tưởng này không phải mang tính tu từ học, người ta không dựa vào đó để tạo ra cái “sử thi”. Văn bản cố gắng tự đặt mình đúng vào sau cái giới hạn của doxa (tức cái quan điểm thông thường, cái tạo lập nên các xã hội dân chủ của chúng ta, được trợ giúp mạnh mẽ bằng những phương tiện giao tiếp đại chúng, phải chăng nó được xác định bằng những giới hạn, bằng năng lực loại trừ của nó, bằng sự kiểm duyệt nó?). Hiểu từ này theo đúng nghĩa của nó, ta có thể nói rằng Văn bản bao giờ cũng mang tính nghịch lý[3].

*

3. Văn bản có thể tiếp cận và được trải nghiệm thông qua ký hiệu. Tác phẩm gần với cái được biểu đạt. Người ta có thể gán cho cái được biểu đạt này hai kiểu ý nghĩa: hoặc người ta cho rằng nó có ý nghĩa rõ ràng và vì thế tác phẩm là đối tượng của khoa học về chữ nghĩa, tức là khoa ngữ văn; hoặc cái được biểu đạt ấy được cho là bí mật, tột cùng, cần phải phát hiện ra nó và như thế tác phẩm thuộc về thông diễn học, thuộc về sự diễn giải (theo chủ nghĩa Marx, theo phân tâm học, theo lý thuyết chủ đề, v.v.). Nói chung, bản thân tác phẩm hành chức như là một ký hiệu chung và sẽ là bình thường nếu cho rằng nó biểu trưng một loại thiết chế của nền văn minh về Ký hiệu. Ngược lại, Văn bản kéo dài đến vô hạn cái được biểu đạt, và như thế nó có tính trì hoãn. Phạm vi của nó là phạm vi của cái biểu đạt, mà cái biểu đạt thì không nên được hình dung như là “bộ phận thứ nhất của nghĩa”, tức là cái tiền sảnh chất liệu của nó, mà ngược lại, nó phải được hình dung như hành động bị trì hoãn. Tương tự, sự vô hạn của cái biểu đạt không chuyển dẫn tới một tư tưởng khó diễn tả thành lời nào đó (tức là cái được biểu đạt không thể gọi tên được) mà chuyển dẫn tới tư tưởng về trò chơi. Sự nảy sinh cái biểu đạt bất tận này (theo cách của một cuốn lịch cùng tên) trong phạm vi của Văn bản (hay đúng hơn Văn bản là phạm vi của nó) không được hiện thực hóa theo con đường thành thục hữu quan hay theo con đường thông diễn học mà theo sự vận hành hàng loạt các hoạt động tháo gỡ móc xích, chồng lấn lên nhau, biến đổi đa dạng. Logic thống trị lên trên Văn bản là khó hiểu (khi định nghĩa “điều tác phẩm muốn nói”), nó có tính chất hoán dụ; hoạt động liên tưởng, tiếp giáp, tác động trùng với sự giải phóng năng lực biểu trưng (mà nếu thiếu nó thì con người sẽ chết). Tác phẩm (trong trường hợp tốt nhất) thì có tính biểu trưng vừa phải (vì nếu cạn kiệt thì tính biểu trưng của nó dừng lại); còn Văn bản thì có tính biểu trưng triệt để: một tác phẩm mà người ta hiểu, tri giác và thu nhận toàn bộ bản chất tượng trưng của nó thì đó là môt văn bản. Nghĩa là Văn bản hoàn trả cho hoạt động ngôn ngữ; và cũng như ngôn ngữ, văn bản được cấu trúc hóa nhưng bị lệch tâm và không có kết thúc (cần chú ý rằng nói như thế là để đáp lại sự hoài nghi khinh miệt theo “thời thượng” mà đôi khi người ta gán cho cấu trúc luận, rằng cái đặc quyền nhận thức mà hiện nay ai cũng biết dành cho hoạt động ngôn ngữ chính là ở chỗ chúng ta đã khám phá ra cái tư tưởng nghịch lý của cấu trúc: đó là một hệ thống không có chỗ kết thúc mà cũng chẳng có trung tâm).

(Còn nữa)

1971, Tạp chí mỹ học

Người dịch: Lý Thơ Phúc

dịch từ nguyên tác tiếng Pháp De l’oeuvre au Texte trong cuốn Le bruissement de la langue, Seuil, 1984, pp 71-80, của Roland Barthes.

(có tham khảo bản dịch From Work to Text

của Stephen Heath (1977)

[1] Stephen Heath trong bản dịch tiếng Anh của ông đã dịch từ traversée là cut across, từ này có hai nghĩa: 1) đi ngang qua và 2) ảnh hưởng tới. Chúng tôi (LTP) vẫn giữ nguyên cách dùng từ của R. Barthes với nghĩa “đi xuyên qua”.

[2] Georges Albert Maurice Victor Bataille (1897-1962) là nhà văn Pháp, nhà trí thức hoạt động trong các lĩnh vực: văn chương, nhân học, triết học, kinh tế học, xã hội học và lịch sử nghệ thuật. Các tác phẩm của ông thường tập trung vào các vấn đề như tình dục, chủ quyền và sự phạm tội. (Theo Wikipedia) (LTP)

[3] Có thể dịch là ngược đời (LTP).

Nguồn: Bài đăng trên Phê bình văn học do dịch giả gửi Phê bình văn học.

Leave a Reply