Tựa Mỹ Đình thi tập


Ngô Thì Sỹ

 

Học giả làm văn và làm thơ, đằng nào khó? Thơ khó! Tôi lúc còn nhỏ theo học trong gia đình có biết qua luật bằng trắc, khi lớn lên mới biết làm thơ, nhưng đem thơ ra mà dùng ở Triều đình, dâng lên ở Giao Miếu, đặt việc bang giao, hình dung phong tục, mô tả núi sông, nếu xếp đặt sử dụng có một chữ nào chưa được ổn thỏa thì đã gọi là đạt thế nào được? Người xưa có câu: “Ngâm thành câu năm chữ, cháy mất mấy sợi râu”, thì thơ chẳng là khó lắm ư? Tôi tính vốn lười, lại nghiện ngâm thơ, không phải thơ hay mà thành nghiện, nghiện là vì thích. Thường đọc bài Anh hoa sao thấy họ Bì họ Lục (1) xướng họa với nhau có đến hơn một trăm bài, lời thơ ròn rã đáng đọc, nên vẫn than rằng thơ để nuôi tình là việc thú xưa nay mà ngày nay lại không có ai. Ngờ đâu trong đám phú quí phong lưu lại có người thích thơ, mà ta trong những năm tuổi già phóng đãng lại không được đem những bài Hạ lý ba nhân (2) làm trong bình nhật đến đất Sinh để học theo mực thước hay sao? Anh tôi là người làng Phúc Khê, huyện Ngự Thiên, lúc còn trẻ thông minh nhanh nhẹn, đỗ Hương Cống khoa Đinh Mão, được tập ấm làm Binh bộ Tư vụ, mùa đông năm Canh Ngọ, cùng với tôi được cử đi chấm thi trường Kinh Bắc. Trong khi rỗi việc, bàn nhau về ý thơ. Về tới kinh đô, ông tặng tôi tập thơ của ông. Tôi đem về xem trong vài tháng, thấy ý thơ hùng hồn, cách điệu mới mẻ, hoàn chỉnh, dù là ngâm vịnh mây ráng, thưởng thức gió trăng, nhưng kỳ thực thì không rời khỏi đạo thường của cha con, vua tôi, không ngoài việc đạo lý làm người và việc thường dùng hàng ngày; nào là đạo cha con, tình anh em, lễ thầy trò, nghĩa bè bạn, đều tỏ ra ở lời thơ.

Những bài như Nam tinh đăng trình, Ngọc chúc giải muộn, Cần dinh tức sự, Thảo điếm hứng hoài, đều là đối cảnh thành thơ, mà có quan hệ đến danh giáo. Ông vốn con nhà hào hoa, mà chịu được vất vả; văn chương nho nhã mà hăng hái xông pha, cho nên cái khí hào hùng khảng khái phát ra ở lời thơ, không bị phong cảnh tầm thường bó buộc. Thơ của ông hồn hậu, trấn áp được lối phù phiếm, phong nhã thay được lối quê mùa, lành mạnh thêm khí thơ của Đỗ Phủ, khơi sâu thêm nguồn thơ của Đào Tiềm, vì thế tôi muốn bắt chước. Còn như những lối thơ vu vơ tạp nhạp, đua lạ tranh đẹp, đó là thể hoa hòe của các nhà thơ, thì dùng làm gì lối khinh bạc ấy!

Có người bảo rằng: Cụ thân sinh ra ông đã nổi tiếng văn chương trong nước, mà tập Sứ Hoa tùng vịnh lại nổi tiếng hay ở khắp nơi. Ông đã thông minh nhanh nhẹn, lại được giáo dục của gia đình, nghề thơ hay là do nếp nhà sẵn có. Tôi trả lời: Đã đành rằng thế, nhưng cũng chưa hết lẽ. Xưa có người thợ rèn lấy rìu đẽo vết bùn ở mũi mình, vết bùn sạch hết mà không sây sát đến mũi, rồi nói: Cái đó tôi có thể bảo cho người khác, nhưng không thể bảo cho con cháu mình được! Thế thì anh tôi hay thơ là do ngày thường thấm thía được cái ở ngoài những cái cụ thân sinh đã dạy, mà hàm súc được cái ý trung hậu, người học thức nông nổi không thể dò biết được bến bờ. Xin hỏi các bậc cao minh, cho lời tôi nói thế nào.

Rút từ cuốn Từ trong di sản

…………………………………………………………………….

(1)  Thể hồi văn: thơ làm theo thể hồi văn thì các câu, chữ được đọc theo một cách đặc biệt, có khi quanh đi quẩn lại, đọc thế nào cũng được.

 

(2)  Tương truyền Đông Phương Sóc (đời Hán) đi chơi ở chằm Mông Hồng gặp Hoàng Công. Hoàng Công bảo Sóc: ta nhịn ăn đã hơn chín nghìn năm, sắc con ngươi đã sáng xanh, thấy được mọi vật. Ta cứ hai nghìn năm một lần thay lông, ba nghìn năm một lần rửa tủy và đã ba lần thay lông, năm lần rửa tủy.

(3)  Tam đường: sơ Đường, thịnh Đường và vãn Đường.

(4)  Thời xưa thường ví vẻ đẹp của thơ như vẻ đẹp của lông cánh chim phượng và vẻ đẹp lông con báo. Lê Quý Đôn có nói: “Đại để, anh hoa phát tiết ra ngoài, là do ở trong có chứa nhiều hòa thuận. Cho nên người có đức tất biết ăn nói, người có hạnh, tất có học: như con phượng thì có cánh, sắc lông sặc sỡ, con báo thì có lông trơn mượt”.

Leave a Reply