Tựa tập thơ Tàng thuyết


Lê Hữu Kiều

 

 

Thơ để nói chí hướng của mình. Sau khi Tam bách thiên (1) ra đời, các nhà thơ đều ngâm vịnh tính tình cả, duy cổ nhân tính tình chân thật, khoáng đạt, cho nên điệu cười, tiếng nói cũng có thể thành văn chương, tình và cảnh đều thấu đáo, thơ như thế thật là trác việt, không thể theo kịp được.

Đến thơ cận thể (2) nhà Đường, thì đúc kết thể tỉ, thể hứng (3) nằm trong tự sự, mô tả đường nét bên ngoài mà nổi lên cái thần, nói một câu có thể tỏ được trăm ý, xem kỹ lưỡng có thể biết được muôn cảnh. Nghệ thuật thơ văn đến thế thật là thần diệu!

Người làm thơ hay được như thế, tất phải là người tài hoa và có tư tưởng tột bậc; họ là người suy nghĩ rộng và có học vấn đầy đủ, nghe được thấy nhiều. Nếu không như thế, thì quê mùa nông cạn, làm thơ chỉ nói một cách chung chung, như thế gọi là thơ thế nào được?

Làm thơ nếu lặp ý không linh hoạt sẽ mắc vào bệnh câu nệ; luyện cách điệu không trang nhã sẽ mắc vào bệnh quê mùa; đặt câu không sắc sảo sẽ mắc vào bệnh thô lỗ, kém cõi; dùng chữ không có âm hưởng sẽ mắc vào bệnh tầm thường, tục tằn. Thơ văn có thể nói dễ làm được đâu?

Tôi không minh mẫn; lúc nhỏ thì thô lỗ, vụng về, lớn lên may mắn thi đỗ, rồi từ  đấy theo đòi về văn thư sổ sách việc công, còn về thơ văn không để ý rèn luyện kỹ xảo, nhưng mỗi khi thấy thơ văn của bạn bè đương thời, phàm những câu mới lạ, những lời bóng bẩy, không bao giờ là không gõ nhịp để ngâm nga thưởng thức.

Năm Bính Dần (1746), tôi phụng mệnh giữ chức Tham thị ở Nhật Nam (4), nhận được tập thơ của ông Mai Doãn Thường, hiệu Mai Hồ, tri phủ ở Trường An (5), tôi thắp đèn để xem, thấy ý thơ linh hoạt, mới lạ, phong cách và vần thơ đẹp đẽ, trang nhã, đặt câu sắc sảo, mới mẻ; dùng chữ tinh tế, sáng sủa; nói cao mà không phải là phiếm; nói gần mà không phải là quê. Cũng như trong mình sẵn nhạc Thiều (6), gặp đám liền tưng bừng tấu khúc; cũng như trong tay cầm hoa đẹp, đến đâu cũng gieo rắc cảnh xuân. Nhiều bài như Học đường nhàn hứng, Thẩm Ước đỗ, đã phô bày hết mọi nét quí báu. Ngoài ra, những bài tức cảnh, hứng hoài hoặc nhân việc mà sáng tác; đó đều là những bài đáng ghi chép lại cho đời sau.

Đến như thể hồi văn (1) là thể thức rất khó trong các thể thơ, thế mà ông cũng ra tay một cách dễ dàng. Tứ thơ của Mai Hồ có lẽ đã đến lúc ba lần đổi lông, năm lần rửa tủy (2) chăng? Tôi vẫn nghe nói, ông là con cả cụ Doãn Mậu, một đại danh nho ngày trước. Ông tài cao, học rộng, đương trông coi việc cả một quận mà lấy cớ ốm yếu để từ quan, trong bụng tôi đã cho ông là người cao thượng; nay được xem thơ ông, thấy chí hướng ông, thì thật đúng như câu nói “mắt thấy hơn tai nghe”. Ông thật đáng khen, đáng kính.

Nhưng vẫn có điều tôi muốn giãi bày cùng ông: ôi! nghĩa lý không cùng tận, văn chương không bờ bến! Ông đã có hoài bão, sẵn tài hoa lại không chán nản về việc học; đã tinh lại mong đi đến chỗ tinh hơn; đã cao lại mong tiến lên bậc cao hơn; tứ thơ bay bào mây gió, lời thơ mở được núi non; xa có thể ngang vai với các đại gia đời tam Đường(3) ; gần có thể sánh với vẻ đẹp các kiệt tác của các danh công ở nước ta. Đấy là điều mà tôi mong mỏi ở ông Mai Hồ. Tôi vốn không phải là nhà thơ, xem tập thơ này cũng như người chỉ mới biết một phần của con báo mà thôi (4) . Vậy xin bày tỏ một chút kiến giải ở đầu tập thơ, mong được các bậc tài cao, văn nhã phủ chính thêm cho.

    Rút từ Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn

 ………………………………………..

(1)  Tam bách thiên: tức ba trăm bài, chỉ Kinh thi.

(2)  Thơ cận thể: thể thơ Đường luật.

(3)  Thể tỉ: đếm vật khác ví dụ với vật này; thể hứng: lấy việc khác để khuyên việc này.

(4)  Nhật Nam: vùng giữa Quảng Bình, Quảng Trị.

(5)  Trường An  (hay Trường Yên)  là huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

(6)  Nhạc Thiều: khúc nhạc tương truyền có từ đời vua Thuấn, mỗi lúc nổi nhạc, chim phượng hoàng đến muá.

Leave a Reply