Vai trò và thái độ của trí thức các nước thuộc Thế giới thứ ba[1]


Pramoedya Ananta Toer [2] 

Thế giới thứ ba

Thuật ngữ “Thế giới thứ ba” được dùng để chỉ các dân tộc giành độc lập từ thực dân phương Tây sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Từ “phương Tây” tôi dùng ở đây cũng có cả Nhật Bản. Chủ nghĩa thực dân phương Tây khởi đầu  bằng việc săn mò gia vị ở quần đảo Indonesia, cụ thể là ở Moluccas, và khiến cho toàn thế giới ngoài phương Tây rơi vào tình trạng khủng hoảng, bởi vì phương Tây chỉ tìm cách để vơ vét tất cả các giá trị mà nó có thể vơ vét. Những dân tộc bị trị không chỉ trải qua tình trạng bị bạo hành đối với các thể chế văn hóa, họ còn bị đẩy vào tình trạng nghèo đói. Trong khi đó, phương Tây trở nên thừa mứa cùng với sự phát triển về quyền lực, về tri thức và công nghệ – những thứ có thể thiết lập được là nhờ vào những dân tộc mà nó đi đô hộ.

Chúng ta đã chứng kiến sự nổi dậy và cường thịnh của nhiều đế quốc: Thổ Nhĩ Kì, Tây Ban Nha dựa trên sự bóc lột vàng bạc; Anh quốc dựa trên vải lụa và thuốc phiện cùng với buôn bán nô lệ; và Hà Lan là việc độc quyền về thương mại gia vị.

Một bộ phận lớn của loài người bị phương Tây đô hộ, ở cấp độ này hay cấp độ khác, nhưng cho dù tình hình là như thế nào, thì cội nguồn chính của những rủi ro mà các dân tộc đã từng bị đô hộ là sự bất ổn của các nền văn hóa khi đối đầu với sự mở rộng của nền thương mại châu Âu. Có thể là ít hơn, trong trường hợp với thực dân Thổ Nhĩ Kì và Tây Ban Nha. Nhưng lời nói của Chiang Kai-shek đúng là chính xác một cách đáng chú ý: không dân tộc nào từng bị đô hộ trừ khi dân tộc đó phục vụ vào chu trình đô hộ đó ở một mức độ nhất định.

Về mặt văn hóa, việc thực dân hóa Thế giới thứ ba dẫn đến sự phát triển của một tâm lí thuộc địa. Tình hình này tồn tại đến ngày nay, thậm chí ba thế hệ sau khi giành độc lập về mặt chính trị. Sự sống sót của những con người bị đô hộ qua vài thế kỉ phụ thuộc vào khả năng của nó trong việc phát triển một tâm lí như vậy. Thật là một bi kịch là không phải tất cả các dân tộc giành được độc lập lại hiện thực hóa ý nghĩa của nền độc lập đó; chúng vẫn ôm giữ nền văn hóa của kẻ bại trận và một tâm lí thuộc địa.

Các quyền lực mang tính thực dân, hoa quả nảy nở từ sự đô hộ các nước thứ ba, nằm ở Nền Dân Chủ Đại Nghị (Parliamentary Democracy) và Quyền Cơ bản của Con người (Fundamental Human Rights), cả hai điều này đều đảm bảo quyền phát triển cá nhân và quyền tự chủ cho cá thể. Trải qua vài thế kỉ trong vai kẻ xâm lược thực dân, các nước đế quốc ý thức về sự độc nhất vô nhị và vị trí siêu cường của mình. Thái độ này bền bỉ cho đến hàng ba thế hệ kể khi thể chế đô hộ của đế quốc chấm dứt.

Thế giới thứ ba thường cố gắng giành lại sự tự trọng bằng lá chắn của cái gọi là “văn hóa bản địa” mà không thèm đếm xỉa đến lịch sử xã hội đằng sau những nền văn hóa này. Những nền văn hóa đó thường chỉ là để bán cho khách du lịch – điều này lại càng nhấn mạnh hơn vào tính chất phụ thuộc dai dẳng của các nước thuộc địa cũ.

Ngay cả ngày nay, lòng tự hào và sự kiêu hãnh của phương Tây dẫn đến việc nó coi thế giới thứ ba như là một nơi lạ lẫm, bởi vì nó khác lạ với phương Tây. Phương Tây không ý thức về tiêu chuẩn và cái chủ nghĩa vật chất bao trùm trong thế giới quan của nó. Một ví dậu gần đây là quyển sách Một năm sống trong nguy hiểm của C.J. Koch (Sphere Books, London, 1981). Việc phương Tây không chịu hiểu rằng sự lạc hậu của nước không phải phương Tây là hệ quả của chính những hành động phương Tây là rất điển hình.

Việc xâm lược thực dân đối với các nước phi phương Tây bắt đầu với cuộc cạnh tranh gia vị của quần đảo Indonesia, cụ thể là ở Molucas. Nhưng chủ nghĩa đế quốc ở Indonesia cũng là mắt xích yếu trong số các đế quốc đầu tiên bị sụp đổ ngay khi nền Cộng hòa Indonesia được tuyên bố vào ngày 17 tháng 8 năm 1945. Vài ngày sau đó, Việt Nam cũng có bước đi tương tự. Một khi cái mắt xích đầu tiên bị phá vỡ, những mắt xích khác cũng sẽ bị đứt theo. Phong trào này lan tỏa ra cả các nước khác của lục địa châu Á, rồi tới châu Phi và các nước châu Mĩ la tinh.

Điều này xảy ra bởi vì Indonesia và Việt Nam là những thử nghiệm lịch sử thành công. Đế quốc Anh, vốn đang phải hứng chịu cái cam kết về hậu quả của của thế chiến hai, đã miễn cưỡng can thiệp vào Indonesia, tìm một cách thức hòa bình để giải quyết tình trạng khó khăn của nó. Indonesia, nơi mà các loại gia vị của nó chính là nguyên nhân khiến cho các công dân của nó bị khuân vào sự tuân thủ tính thuộc địa, đã nhận ra nghĩa vụ lịch sử của mình và đứng ra chủ trì Hội nghị Phi Á ở Bandung vào tháng 4 năm 1965. Sukarno không chỉ lãnh đạo nhân dân đất nước Indonesia, hoàn toàn hiểu lịch sử của họ; ông cũng không chỉ chỉ hiểu các sự kiện, các lí thuyết và tận cùng bản chất của chính lịch sử. Hơn thế nữa, bài diễn văn mang tinh thần chống đế quốc của ông “Hãy để một tân Á Phi ra đời” khiến ông trở thành Người cha của Thế giới thứ ba. Không phải ai cũng thích thú với luận điểm này hay không phải ai cũng được chuẩn bị tinh thần để chấp nhận nó. Chính nhờ có Hội nghị Á Phi này mà có một chuyển dịch mang tính quyết định trong thế cân bằng quyền lực thế giới, đó là thành lập ra Thế giới thứ Ba. Thừa nhận Thế giới Thứ Ba có nghĩa là sẵn sàng đương đầu với phương Tây và cái vai trò lịch sử của nó như là người thầy, là kẻ thù và là một người bạn. Miêu tả Thế giới thứ Ba này mà không đặt vào hoàn cảnh này thì không khác gì nhân loại vào địa hạt hư cấu. Thế giới thứ Ba không là gì cả mà là một đứa con bất hợp pháp của đế quốc phương Tây.

Người cha bất hợp pháp và đứa con bất hợp pháp này không thể tách rời nhau nhưng chúng có vị trí, mục tiêu và điểm đến quốc tế khác nhau và những vai trò này là riêng biệt ngay cả khi các dân tộc của Thế giới thứ Ba đấu tranh để tìm kiếm bản sắc mới. Chúng ta vẫn bị mắc kẹt trong cuộc đấu tranh này, do đó việc chúng ta nhận ra Thế giới thứ Ba liên quan đến phương Tây và phương Tây  liên quan đến Thế giới thứ Ba như thế nào là rất quan trọng.

Chúng ta có thể xem thái độ của phương Tây trong rất nhiều ấn phẩm của nó về Thế giới thứ Ba. Rất dễ để nhận ra rằng tất cả các dân tộc ở phương Tây chia sẻ một cái nhìn chung về Thế giới thứ Ba. Và quan trọng nhất là chúng ta phải thừa nhận là  chúng ta đang nhìn nhận hiện thực giống như cách nhìn của những kẻ tự xem chúng như là hiện đại nhấ bằng cách nỗ lực trình ra những hạn chế của các nước Thứ Ba. (N.D nhấn mạnh). Cần nhớ rằng những hạn chế này là di sản của phương Tây và kết quả của những ảnh hưởng lâu dài của nó. Gần đây, các thuật ngữ như “Bắc”, “Nam” được áp dụng để tránh động chạm đến thuật ngữ nghe có vẻ đau đớn hơn là “giàu” và “nghèo”. Trước đây, có một thuật ngữ trung tính hơn là “các dân tộc đang phát triển.” Những thuật ngữ này là để tránh đi xung đột mang tính đạo đức giữa các nước thực dân cũ và những nước từng bị đô hộ. Sự tinh tế trong việc thay đổi các thuật ngữ này không phải là gì cả mà là một sự thỏa thuận ngầm rằng Thế giới thứ Ba phải biết ơn vì những món nợ đắt đỏ mà nó nhận từ phương Tây, và vì những lợi nhuận xoắn ốc mà các nước phương Tây có được từ những món nợ này. Con nợ, đây là nơi mà chúng ta đang đứng vào.

Các trí thức

Tôi không chắc là chúng ta có nên hiểu thuật ngữ “trí thức” theo cái cách mà từ điển giải thích không hay là theo cách mà nó được sử dung bởi vài nhóm nhất định trong xã hội. Tất cả các sinh viên tốt nghiệp đều là trí thức? Trong mỗi chúng ta là một trí thức hay không? Có phải thuật ngữ này chỉ nói đến cái phần nhỏ của dân tộc, những người tin rằng, họ nghĩ nhiều hơn xã hội còn lại?

Những người ghi chép tòa án của chúng ta dùng thuật ngữ này để chỉ những người mà chức năng tiên thiên của họ là nghĩ và những người xem mục đích cuối cùng trong mọi nỗ lực của loài người là lĩnh hội được một chân lí nào đót. Chấm hết. Ở giai đoạn cuối của Thế chiến II, một vài người đã phản đối quan điểm này. Họ cho rằng nó không đây đủ và rằng nó không chú ý tới trách nhiệm của trí thức đối với bản thân họ, với thế giới xung quanh và chủ yếu là đối với nhân loại. Hành động trí thức đó chỉ là một môn thể thao và những người thực hành nó, từ chối liên quan đến điều mà họ đang nghĩ về, những trí thức trống rỗng. Tôi tin chắc rằng Hội sinh viên ở Khoa Nghệ thuật của Trường Đại học Indonesia không hứng thú lắm với  kiểu trí thức này. Họ hứng thú với những trí thức có vai trò là một thành phần của dân tộc họ, những người phụ nữ và những người đàn ông không chỉ nhận cái đầu ra từ dân tộc mà còn đóng góp vào cái đầu vào cho dân tộc đó.

Nhưng trong cuộc sống của Thế giới thứ Ba nói chung và ở Indonesia nói riêng, ở nơi mà mọi thứ bắt đầu, phát triển và tồn tại cùng với những nhu cầu của dân tộc thì trí thức không chỉ đơn giản là cỗ máy, múa may giữa đầu ra và đầu vào. Họ phải đóng vai trò trong sự phát triển của dân tộc, theo cái cách thức mang tính mĩ học và trí tuệ và họ làm vậy để trông vào tương lai. Và tương lai có thể chỉ được xây dựng trên nền tảng của những điều mà họ nghĩ và làm hôm nay. Cái gương dẫn đường của chúng ta phải được chỉ ra phía trước, không phải là phía sau, vào nền văn hóa cổ điển, thuyết vật linh, thuyết động học, thờ cúng tổ tiên hay là nghĩa địa.

Trái lại, các trí thức không chỉ là một phần của dân tộc. Họ còn là lương tri, lương tâm của dân tộc (N.D nhấn mạnh). Họ không chỉ mang cái tài sản của việc học và tri thức, cái tổng lực những kinh nghiệm như là một dân tộc.  Hơn thế nữa, họ phải chọn cái tốt nhất trong những gì họ có và có thể phát triển nó. Họ phải thiết lập nền tảng vững chãi để quyết định điều gì họ nên làm và điều gì là không nên.

Đạo Hindu chia xã hội làm nhiều đẳng cấp và điều này vẫn có ý nghĩa xã hội. Các trí thức thuộc về đẳng cấp Brahmin. Điều khác biệt duy nhất là những Brahmin này hình thành nên cây cầu của tương lai. Đây là cách tôi nhìn trí thức Indonesia và trí thức các nước thuộc Thế giới thứ Ba.

Nói về thái độ là nói về cái chỗ đứng, nói về chỗ đứng có nghĩa là nói về một người nào đó đã đi xa đến đâu. Ngược lại, cái chỗ đứng chỉ là một phần trong lĩnh vực vô hạn. Từ cái chỗ đứng, anh có thể nắm bắt khoảng cách. Thái độ của chúng ta quyết định cách chúng ta sẽ nhìn về khoảng cách đó. Trong thuật ngữ chính trị, đây là một vấn đề mang tính hành động: làm thế nào để chúng ta hành động tốt nhất trong tất cả các hoàn cảnh.

Dựa trên thảo luận này, tôi tin rằng thái độ tốt nhất của trí thức nên là như sau:

a. bỏ lại một bên nền văn hóa già nua và đã chết và dùng lí trí như là phương thức duy nhất của chúng ta trong việc xây dựng tương lai, do đó, năng động tạo ra văn hóa dân tộc hiện đại.
b. duy trì sự thận trọng mang tính phê phán đối với phương diện thụ động và thất bại của văn hóa bản địa (N.D nhấn mạnh).
c. trở nên dũng cảm hơn, và do đó, trở nên dũng cảm về mặt trí tuệ hơn (N.D nhấn mạnh), bởi vì không có sự can đảm về mặt trí tuệ, trí thức sẽ vì quá sợ hãi mà không đưa ra được những quyết định đúng đắn. Dân tộc chúng ta sinh ra từ những nỗ lực cách mạng, truyền thống cản đảm mang tính cách mạng cũng là một nhân tố quyết định trong cuộc sống trí thức của chúng ta.
d. Các trí thức Indonesia là những người Indonesia đầu tiên và trước nhất, làm ra nền văn hóa Indonesia. Cuộc sống và văn hóa Indonesia tồn tại trong cái khung của Thế giới Thứ Ba, và Thế giới thứ Ba tồn tại vì sự đối lập của nó với phương Tây. Những tri thức Indonesia nào mà lờ đi mối quan hệ của nó với Thế giới thứ Ba và bản chất lịch sử của nó trong quan hệ với phương Tây thì sẽ không phải là trí tuệ hay khách quan, bởi vì họ sẽ không ý thức sở hữu một một cách đầy đủ lịch sử của riêng họ và tính tổng thể trong những kinh nghiệm của riêng họ.
e. Phương Tây được thổi phồng lên về quyền lực, sự phát triển và thịnh vượng của nó; những thành tựu vĩ đại nhất của nó là chế độ nghị viện dân chủ và quyền con người – những điều này được đem lại trên cái giá của các nước thứ Ba, trong đó có Indonesia.

Dựa vào những kinh nghiệm lịch sử, chúng ta có quyền yêu cầu rằng phương Tây hành động một cách trách nhiệm và đạo đức và buộc nó phải chấp nhận hệ quả tự nhiên và trần tục của điều này. Các trí thức Indonesia cũng phải hành động theo một cách thức đầy trách nhiệm về mặt lịch sử.

Dựa trên nền tảng này, phương Tây phải từ bỏ thái độ thép vốn khăng khăng rằng Thế giới thứ Ba phục tùng phương Tây. Ngược lại, phương Tây phải phá hủy cái tòa tháp bằng thép và thay thế bằng thái độ nhân văn giúp đỡ Thế giới thứ Ba tìm cái bản sắc thực sự của nó. Làm như vậy, chúng ta cũng hi vọng rằng phương Tây sẽ từ bỏ sự ngoan cố cho rằng rằng tiêu chuẩn và các giá trị phương Tây là thước đo duy nhất cho sự phát triển của Thế giới thứ Ba.

f. trong việc đào tạo bản thân trở nên can đảm về mặt đạo đức và tri thức hơn, trí thức Indonesia phải tự chuẩn bị để phù hợp với quá khứ của dân tộc và học cách để đối xử với phương Tây không phải như là bề trên tuyệt đối mà như là những kẻ bóc lột thế kỉ những nguồn lực của Thế giới thứ Ba. Các trí thức Indonesia, như là những người đàn ông và phụ nữ sống trong nền văn hóa Indonesia, phải hành động theo một cách thức can đảm về mặt đạo đức và trí tuệ đối với phương Tây và yêu cầu tất cả mọi người rằng, điều tốt nhất là từ khoa học và công nghệ. Điều này không phải là món quà, như “chính sách đạo đức”[3] của Van Deventer. Đó là  quyền của chúng ta. Chúng ta có văn hóa cổ đại của chúng ta, chúng ta có nền văn hóa khu vực bại trận và thụ động, chúng ta có nền văn hóa Indonesia hiện đại và chúng ta chắc chắn là có nền văn hóa phương Tây.

Trong thực tiễn, chúng ta đã nỗ lực để đem lại một bữa tiệc trong đó công việc của các trí thức không đơn giản chỉ là thái độ xã hội mà còn là cách thức tự nhiên, có mục đích và bột phát trong suy nghĩ và hành xử đạo đức đối với toàn dân tộc.

g. Kết quả của việc áp dụng thái độ tốt hơn với phương Tây là các trí thức Indonesia sẽ tự nhận thấy là họ phải nghĩ và cảm theo cái cách logic và lí trí. Chính những đóng góp cho sự phát triển của văn hóa Indonesia như là một chỉnh thể này là vai trò quan trọng nhất của trí thức Indonesia.

h. Các trí thức Indonesia phải nghiên cứu một cách phê phán những cách thức mà trong đó văn hóa phương Tây vận dụng để có thể phát triển mạnh mẽ và giữ vai trò chủ đạo rong lịch sử loài người qua hàng nhiều thế kỉ (N.D). Loài người không thu được lợi tức từ phương Tây. Ngược lại chính phương Tây gây nên những tàn phá không giới hạn đối với toàn thế giới. Chúng ta biết rằng sức mạnh của phương Tây đến từ sức mạnh của con người cá thể trong xã hội phương Tây và điều này, đến lượt nó, lại dựa vào sự hỗ trợ của nền dân chủ và sự phát triển của các quyền cơ bản của con người. Hệ quả là con người trở nên, như nhà thơ Chairil Anwar miêu tả, “một cá thể bị đuổi ra khỏi cộng đông của mình,” và từ chối đi theo một cách mù quáng sự dẫn dắt của người khác. Từ việc nghiên cứu phương Tây, Indonesia có thể cũng phát triển mạnh mẽ bằng cách tạo ra những cá thể mạnh mẽ, những người (trong điều kiện những bàn bạc ở đây) có khả năng tuyên bố “Tôi là một thành viên không thể thiếu của toàn bộ cộng đồng” – một cộng đồng được thành lập trên và được hỗ trợ bởi nguyên tắc Pancasisa[4].

i. Bởi vì thế giới thứ Ba chia sẻ một khu vực chung, một định mệnh chung được quy định bởi lịch sử, bởi vì chúng ta phải hợp tác với nhau như những người bạn để giải quyết vấn đề chung để lại từ quá khứ, các trí thức Indonesia không thể nào mà câm lặng hay bàng quan đối với bối cảnh sống rộng hơn của họ. Cái nhìn cho rằng chúng ta tiến bộ hơn các dân tộc khác là một sự xa xỉ. Một sự hợp âm sẽ đẩy mạnh sự sáng tạo ra ngôn ngữ chung. Chúng ta không được cho phép những trải nghiệm hàng thế kỉ về chiến thuật chia để trị của phương Tây quyết định thái độ của chúng ta đối với thế giới ngoài phương Tây. Tinh thần của thế giới thứ Ba, điều được biết như là tinh thần của Á Phi, và tinh thần châu Á, châu Phi và Mĩ La tinh không được tan biến đi. Sự mất mát của thế giới thứ Ba có thể là to lớn. Sukarno đã tiến trước thời đại khi mà ông thảo ra “Trò chơi của Các Lực Mới đang Nổi dậy và Hội nghị của các Lực đang Lớn dậy” này. Ngày nay, khi chúng ta đang đối đầu với vấn đề Đông và Tây, Bắc và Nam, thế giới thứ Ba với thế giới còn lại, vấn đề gây ra bởi bản chất lay động của toàn cầu, thì sự hợp nhất của Thế giới thứ Ba là cân thiết hơn trước. Mặc dù vậy, và tôi sẵn sàng điều này, sự phát triển của Thế giới thứ Ba hơn một thập kỉ trong quá khứ vừa qua cũng đem đến cho chúng ta nhận thức về sự cần thiết và thái độ hồ hởi tìm ra một công thức chỉ dẫn mới cho các hành động tương lai.

j. Vai trò của các trí thức Indonesia là hiển nhien và đã như vậy qua toàn thể kỉ hai mươi. Cuộc đấu tranh của dân tộc Indonesia bắt đầu với các trí thức ý thức cam kết với nhân dân họ và sẵn sàng đấu tranh với tất cả trí thức và kĩ năng của họ vì sự ra đời của nền Cộng hòa. Đó chính là ý tưởng của họ và sự áp dụng những ý tưởng đó để tạo ra một Indonesia độc lập. Qua việc ứng dụng các ý kiến đó, các trí thức này trở nên mạnh mẽ, như là cơ thể của chúng ta được cường tráng qua những bài tập thể dụng thường xuyên đối với cơ bắp. Không kể những ý tưởng của chúng ta tuyệt vời thế nào, nếu chúng ta không nỗ lực để hiện thực hóa chúng trong thực tế thì chúng chỉ vẫn chỉ là những tinh thần đi lang thang – thứ tinh thần tội lỗi mà mục đích cuối cùng duy nhất của nó chỉ là dẫn loài người đi đến tro bụi.

k. Các trí thức như là tâm trí và lương tâm của dân tộc là những người Brahmin trong cái nghĩa hiện đại của thuật ngữ này. Bởi vì hiện đại luôn có nghĩa là dân chủ, vị trí của Brahmin không là gì ngoài việc xử lí sự phân chia thứ bậc trong đạo Hindu. Lí trí, sử dụng một cách tự nhiên tri thức là một chức năng giống như bất kì chức năng nào trong xã hội. Nó cũng đơn giản là một quá trình sinh-hóa. Nhưng đó là một quá trình sinh hóa có mục đích. Để thực hiện mục đích này, anh phải biết cái gốc của chuyến đi, điểm khởi đầu và lịch sử của chuyến đi.

Phạm Chi dịch



[1] Được Harry Eveling dịch ra tiếng Anh từ nguyên bản tiếng Indonesia Bahasa. Bài viết này là trích đoạn từ bài giảng của Pramoedya tại Trường Đại học Indonesia với lời mời của Hội Sinh viên trường. Bài viết được Viện Phân tích Xã hội (Malaysia) xuất bản trong cuốn sách mỏng Peranan Intellectual vào năm 1987.

[2] (1925-2006), nhà thơ, nhà văn, nhà hùng biện, nhà lịch sử của dân tộc Indonesia. Ông được coi là nhà văn Đông Nam Á xứng đáng nhất cho vị trí giải Nobel văn học.

[3] Với Indonesia, Hà Lan dùng luận điệu “chính sách đạo đức” (Ethical Policy) bào chữa cho nền đô hộ thực dân của mình. Với thực dân Anh trong sự xâm chiếm Ấn Độ thì đó là chính sách “trọng trách của người da trắng” (white burden). Với thực Pháp thì đó là nhiệm vụ khai sáng hay phát triển (civilization mission) – N.D

[4] Năm nguyên tắc được xây dựng dựa trên tình hình xã hội Indonesia. Những nguyên tắc này bao gồm: tin vào một duy Đấng Tối cao  duy nhất; Cái nhân văn công bằng và văn minh, Sự thống nhất của Indonesia; dân chủ được dẫn dắt bởi trí khôn nội tại trong sự đồng thuận giữa các đại diện, công bằng xã hội cho toàn dân Indonesia (N.D)

Leave a Reply