Vấn đề bản thể luận trong lý luận văn học Trung Quốc đương đại


Trần Đình Sử

Chuyển hướng bản thể luận nằm trong xu hướng đổi mới phương pháp nghiên cứu văn học thịnh hành ở Trung Quốc bắt đầu từ giữa những năm 80, cụ thể là năm 1985, năm được mệnh danh là “năm phương pháp luận”, còn năm 1986 được mệnh danh là “năm bản thể luận”, cho đến những năm 90.

 Các cuộc hội thảo về phương pháp luận được tổ chức hầu như khắp nước. Từ cuối những năm 70 các phương pháp khoa học tự nhiên như tin học, điều khiển học, các lí thuyết hệ thống, hiệp đồng, hao tán… được bắt đầu vận dụng vào khoa học xã hội, nhưng kết quả phần nhiều ít có sức thuyết phục. Sau đó các phương pháp khoa học xã hội và nhân văn phương Tây được du nhập, xuất hiện một số công trình về phương pháp khá dày dặn mang tính chất khai sáng. Theo thống kê của Vương Nhạc Xuyên, chỉ riêng những năm 80 Trung Quốc đã xuất bản trên hai chục đầu sách về phương pháp luận nghiên cứu. Năm 1985 riêng nhà xuất bản Nhân dân Giang Tây cho in ba tập: Phương pháp nghiên cứu văn học mới, Phương pháp phê bình văn học phương Tây hiện đại, Phương pháp luận nghiên cứu văn nghệ, ngoài ra cùng năm này còn có Phương pháp luận văn học mĩ học của Nxb. Văn hoá nghệ thuật, Phương pháp luận mới và nghiên cứu văn học của Nxb. Nhân dân Hồ Nam. Sang những năm 90, sách về phương pháp luận văn học cũng đạt con số 16 đầu sách.

Trong số những phương pháp nghiên cứu văn học nêu ra nổi bật là hướng nghiên cứu bản thể luận. Sở dĩ bản thể luận được chú ý đặc biệt là vì một thời gian dài văn nghệ được nhìn từ phía “bản chất” nhận thức luận, phản ánh luận và “bản chất” hình thái ý thức hệ, có nhiều hạn chế, chẳng những không làm sáng tỏ được đặc trưng của văn học, nghệ thuật mà còn trói buộc sự sáng tạo của văn nghệ sĩ. Các nhà nghiên cứu muốn tìm một điểm tựa mới để đột phá phản ánh luận và hình thái ý thức hệ, đột phá lối tư duy nhị phân siêu hình. Trong bối cảnh đó bản thể luận được nhiệt tình đề xướng và đón nhận.

Bản thể luận (ontology) là cách nhìn sự vật theo phương thức tồn tại của sự vật với giá trị tự thân của nó, một phạm trù có tính phổ biến. Với sự dịch thuật, nghiên cứu các học thuyết phương Tây học giả Trung Quốc đã dấy lên một “trào lưu bản thể luận” ở Trung Quốc. Do cách hiểu khác nhau về phương thức tồn tại của văn học mà nẩy sinh các bình diện bản thể luận văn học khác nhau. Có thể kể bản thể luận hình thức, bản thể luận nhân học, bản thể luận sự sống, bản thể luận hoạt động và bản thể luận như nó vốn thế.

Về bản thể luận hình thức, những người chủ trương thuyết này coi các yếu tố hình thức như cấu trúc, thủ pháp, ngôn ngữ là bản thể của văn học, mục đích nghiên cứu là phải khám phá đặc trưng, quy luật của hình thức văn học. Ở đấy có bóng dáng của chủ nghĩa hình thức Nga, bản thể luận của phê bình mới Anh, Mĩ, hiện tượng luận của Ingarden, chủ nghĩa cấu trúc của R. Jakobson, Tz. Todorov, lí thuyết kí hiệu của E. Cassirer và S. Langer.

Từ đầu năm 1980, nhà mĩ học Trung Quốc Hà Tân đã cho rằng: “Trong nghệ thuật, cái mà thông thường xem là nội dung kì thực chỉ là cái hình thức mà nghệ thuật mượn để biểu hiện chính nó. Còn cái mà thông thường gọi là hình thức, tức là thủ pháp và năng lực mà nghệ sĩ dùng để biểu hiện cái đẹp lại chính là nội dung đích thực của nghệ thuật. Đánh giá một tác phẩm phải căn cứ vào nội dung đó”(1). Ngô Điều Công nói: “Quy luật nội tại là gốc, quy luật ngoại tại là ngọn. Chưa có tồn tại của bản thể thì chưa có gì để nói về ngoại tại cả”(2). Lưu Tái Phục nêu khẩu hiệu nghiên cứu văn học cần “trở về với bản thân văn học”, “từ ngoài vào trong, tức là chuyển dịch nghiên cứu từ quy luật bên ngoài vào nghiên cứu quy luật bên trong”(3). Vương Ninh cho rằng bản thể của văn học tức là văn bản tác phẩm: “Trước đây phê bình văn học sở dĩ chán ngắt là do lối phê bình công thức hoá, khái niệm hoá, thoát li văn bản, do đó đông đảo nhà văn, nhà phê bình yêu cầu phê bình trở về với bản thể”(4). Ngô Tuấn nhận định: “Hình thức không chỉ có thể thể hiện bản chất của văn học nghệ thuật, mà còn là mục đích của sáng tác”(5). Ngô Lượng khẳng định: “Nghệ thuật chỉ là tên gọi khác của cái mà ta gọi bằng hình thức, một khi bàn đến ý nghĩa của hình thức thì chúng ta đã đem vấn đề đưa ra ngoài hình thức, cũng tức là đưa ra ngoài nghệ thuật”(6).

Bản thể luận nhân loại học có cội nguồn từ trong quan niệm xây dựng một lí luận văn học lấy con người làm gốc thể hiện ở bài viết về tính chủ thể của Lưu Tái Phục; nhưng chính thức được đề xuất là Bành Phú Xuân và Dương Tử Giang trong bài Bản thể văn nghệ và bản thể nhân loại(7). Hai tác giả phê bình quan niệm bản thể tác phẩm và khẳng định: “Nhân loại học là hệ thống lí luận về tồn tại của con người, suy nghĩ về tồn tại con người trở thành chuyển hướng của triết học, nên nó cũng trở thành chuyển hướng của lí luận văn học”. Tác giả đi sâu vào bản thể luận nhân loại học là Đỗ Thư Doanh. Trong bài Bàn về mĩ học văn nghệ nhân loại học(8) tác giả cho rằng bản thể luận nhân loại là nghiên cứu về bản thể tồn tại của con người và đặc trưng của nó. Một trong những đặc điểm nổi bật của tồn tại con người là ý chí, ý thức tự giác tự do, cho dù trong con người có yếu tố vô thức, không tự giác, phi lí tính, nó vẫn là dựa trên cơ sở ý chí, ý thức tự giác, tự do và sức mạnh tiềm tại kết hợp với nhau, đưa vào hoạt động sống sáng tạo”. Lí luận nhân loại học cho rằng “thẩm mĩ, nghệ thuật là một trong những phương thức biểu hiện chủ yếu của hoạt động sống của con người, là hình thái biểu hiện hoạt động sống tự do”. Sáng tác văn nghệ do đó không còn chỉ là nhà văn, nhà nghệ sĩ “phản ánh hay tái hiện chân thật đời sống hiện thực”, mà là “hình thức đặc biệt để sản sinh và sáng tạo sự sống, cũng tức là hoạt động sống và hoạt động sáng tạo thẩm mĩ do nhà văn thực hiện”. Tác phẩm văn học không còn chỉ là “vật ngưng kết của nhận thức hiện thực bằng hình tượng do nhà văn tiến hành, mà là cái phần máu thịt của sự sống thẩm mĩ của con người, nó giống như sự sống tự nhiên của con người, là hình thái sống, sinh động, vận động, biến hoá…”.

Lí luận văn học dựa vào bản thể luận sự sống tuy bị nhiều người đồng nhất trong lí luận nhân loại học, nhưng thực ra có khác. Lưu Hiểu Ba trong công trình Phê phán có lựa chọn(9) cho rằng “Tác phẩm nghệ thuật quyết không phải là gì khác, mà chỉ là hình thức thuần tuý không thể lặp lại của sự sống cá thể không thể lặp lại, là sự hình thức hoá của sự sống độc đáo”. Rõ ràng đây là bản thể sự sống cá thể chứ không phải bản thể nhân loại. Tác giả này khẳng định: “Ở đây chỉ có thể nói bản năng, nói phi lí tính mà không thể nói xã hội hay lí tính, bởi vì, hễ nói lí tính thì bản năng biến mất”, “Nói cách khác, quan niệm văn nghệ của chúng tôi là không có lí tính gì hết. Bất cứ sự tham dự nào của lí tính đều có hại cho sự thuần khiết của thẩm mĩ”(10). Một tác giả khác là Cao Nam cho rằng “Nghệ thuật phải có chỗ dựa cuối cùng của nó, đó là bản thể sự sống của nghệ thuật. Ông hiểu sự sống bao gồm sự thống nhất tinh thần và cơ thể, thống nhất cá thể và xã hội. Với tiền đề trên, “bản thể nghệ thuật là sự sống, tự do, là quá trình phủ định cái hữu hạn hiện tồn và là quá trình sáng tạo hướng tới cái vô hạn”(11). Vương Nhất Xuyên là người nhấn mạnh tới đặc trưng cảm tính của sự sống. “Con người trực tiếp là một tồn tại cảm tính, nó chỉ dựa vào tính cảm tính của bản thân (tức cảm giác, tình cảm, bản năng, sức sống, dục vọng…) mới có thể xác nhận mình trong đối tượng chiếm lĩnh và hưởng thụ. Cảm tính là dấu hiệu căn bản của tồn tại người”. “Chúng ta sống trong sự vây bọc của tổng thể lí tính toàn diện, mạnh mẽ hơn bất cứ thời đại nào, lí tính quốc gia, lí tính luân lí, lí tính truyền thống, lí tính kĩ thuật… chúng ngày càng trở thành sức mạnh quyết định của đời sống hằng ngày, do đó lí tính chèn ép cảm tính, cảm tính trong thực tế bị rơi rụng, không còn nữa, nghệ thuật là con đường trả lại cảm tính, con đường giải phóng cảm tính cho con người (12). Tuy nhiên “cảm tính” là một phạm trù triết học hơi cũ, “thể nghiệm” mới là phạm trù mới. Vương Mông và Lưu Lãng đề cao thể nghiệm. Lưu Lãng nói: “Sự sống là thể nghiệm, bản thân quá trình là mục đích”(13). Các tác giả khác như Trần Kiếm Huy, Tống Dược Lương, Lí Kiến Thịnh… đều có kiến giải đại thể tương tự.

Bản thể luận hoạt động coi hoạt động văn học là đối tượng nghiên cứu văn học. Văn học là quá trình đi từ tác giả – tác phẩm – người đọc, tất cả là sự tồn tại của văn học, do đó  Chu Lập Nguyên xác lập “bản thể luận hoạt động”, “bản thể luận quá trình”, “Bản thể luận thực tiễn thẩm mĩ”. Trong sách Nguyên lí mĩ học ông khẳng định: “Bản thể luận nghệ thuật tức là tồn tại luận nghệ thuật” và phân tích ba phương thức tồn tại của nghệ thuật: sáng tác, tác phẩm, tiếp nhận(14). Quan điểm trên được Thiệu Kiến hưởng ứng, tổng kết thành công thức ba R: Writer – Work – Reader và khẳng định ba nhân tố đó không thể thiếu một, và không thể lấy một nhân tố trong đó làm thành bản thể được(15). Vương Nhạc Xuyên trình bày bản thể luận đầy đủ hơn trong bài Hạt nhân mĩ học đương đại – bàn về bản thể nghệ thuật (Bình luận văn học, số 5-1989), về sau trình bày trong chuyên luận Bản thể luận nghệ thuật (1994), ông nhấn mạnh bốn điểm mới: 1. Từ bản thể luận tự nhiên truyền thống chuyển sang bản thể luận sự sống nhân loại; 2. Từ tồn tại bất biến chuyển sang sự sinh thành cảm tính, thời gian, quá trình; 3. Từ toàn bộ vô thời gian chuyển sang quá trình trong không – thời gian; 4. Từ khách thể luận tất yếu chuyển sang chủ thể luận tự do. Trong các yếu tố bản thể giá trị là yếu tố thống nhất của quá trình. Bản thể nghệ thuật không giản đơn chỉ là phản ánh, không chỉ là biểu hiện, không chỉ là hình thức văn bản, mà là đem tái hiện, biểu hiện thống nhất trong thể nghiệm đời sống, vật hoá trong văn bản, đồng thời nghệ thuật thức tỉnh tinh thần. Chuyên luận của Vương Nhạc Xuyên có thể coi là một thành tựu đáng kể của lí luận văn học thời kì mới.

Lí luận bản thể luận văn học thời kì này nhìn chung đã có phần đột phá lí luận văn học nhận thức luận, tiến gần với bản chất nghệ thuật, mặt khác đã bước đầu xây dựng được bộ khung lí thuyết hợp lí để phát triển thêm trong tương lai. Tuy vậy nhìn chung, bước đầu xây dựng lí luận mới, một số vấn đề “tiền lí luận” chưa được giải quyết tốt như khái niệm “bản thể”, “bản thể tính”, “bản thể luận” còn nhiều mơ hồ, nhầm lẫn. Chu Lập Nguyên chỉ ra có sự nhầm lẫn bản thể  với bản thân tác phẩm, với bản nguyên, bản tính, với vũ trụ, với quá trình, thể nghiệm, với sinh tồn trong chủ nghĩa sinh tồn… Theo Chu Lập Nguyên cả từ điển Từ Hải tại mục từ “Bản thể luận” cũng ghi: “Danh từ triết học, chỉ bộ phận của vấn đề bản nguyên, bản tính trong nghiên cứu thế giới”. Thậm chí Đại từ điển triết học ở mục “Bản thể luận” ghi: “Về đại thể trong triết học trước Mác, bản thể luận có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Nghĩa rộng chỉ bản tính cuối cùng của thực tại… do đó nghiên cứu bản tính cuối cùng của mọi thực tại thì gọi là bản thể luận”. Theo tác giả, “ontology” dịch đúng phải là “tồn tại luận” (hoặc “vạn hữu luận”, “là luận”). Nhưng do cả giới học thuật Trung Quốc đều dịch nhầm, cho nên khi nói về bản thể luận, phải hiểu đó là tồn tại luận, tức là nghiên cứu sự có, sự hữu của sự vật(16). Có người nhận thấy phần nhiều khái niệm “bản thể luận” chưa kết hợp với “bản thể luận mác xít”, do hiểu chưa đúng phạm trù thực tiễn, cảm tính trong triết học của Mác(17). Có người trái lại, còn cho rằng khái niệm bản thể trong triết học không thể đem dùng cho văn học được, vì văn học không có bản thể, bản thể văn học thực chất là một vấn đề giả tạo(18). Theo Triệu Hiến Chương trong sách Thông luận phương pháp nghiên cứu văn học thì bản thể luận văn học trên thế giới có nhiều bất cập. Thứ nhất là đánh mất chủ thể (đặc biệt là bản thể luận hình thức), thứ hai là bản thể luận khép kín, không bắc cầu được với thực tiễn xã hội, thời đại, thứ ba là không phù hợp với bản chất khai mở của văn bản. Thông diễn học Gadamer, lí thuyết giải cấu trúc, mĩ học tiếp nhận đánh dấu sự cáo chung của bản thể luận xưng bá suốt thế kỉ XX. Khái niệm bản thể luận văn học phải giải thoát khỏi giới hạn của văn bản thì mới có hi vọng. Nhận định như vậy là có phần đúng, nhưng có lẽ Triệu Hiến Chương có thể do chưa đi sâu vào khái niệm bản thể là bản thân sự tồn tại, mà “tồn tại” thì không tách rời được chủ thể như cách hiểu của Heidegger, xoá bỏ đối lập chủ thể/ khách thể, cho nên không hề có chuyện đánh mất chủ thể. Theo Tô Hồng Bân trong sách Dẫn luận bản thể luận văn học đã nêu ở trên thì chỉ có hiểu bản thể là “sự tồn tại”, “sự có” thì mới thoát khỏi chủ nghĩa bản chất ngự trị lâu nay, mới thoát khỏi lối tư duy nhị phân trong lí luận(19). Nhược điểm của bản chất chủ nghĩa là lẫn lộn “tồn tại” với “cái là”, do đó mà tạo ra sự bỏ quên sự tồn tại như Heidegger nhận định. Theo ý của Tô Hồng Bân thì giới học thuật không hẳn đã dịch nhầm “bản thể luận” như Chu Lập Nguyên phát hiện, bởi vì trong “ontology”, tuy từ trung tâm là “on”, nhưng hạt nhân nghiên cứu lại là bản thể (ousia) hoặc là thực thể (substance), chứ không phải là tồn tại(20). Đưa bản thể luận vào văn học, thứ nhất là nhu cầu của tư duy triết học muốn tự khẳng định mình trong hiện tượng văn học, nghệ thuật, thể hiện mối tương quan khăng khít của triết học và lí luận văn học. Theo tác giả, nghiên cứu bản chất, đặc trưng của văn học không phải là vấn đề của bản thể luận văn học, nhưng bản thể luận văn học có thể giúp soi sáng bản chất và đặc trưng của văn học. Trong triết học do có sự chuyển hướng nghiên cứu từ bản thể luận về thế giới, về vũ trụ sang bản thể luận về tồn tại của người, về sự sống, về ham muốn, về sự lo âu sinh tồn của con người, cho nên bản thể luận văn học nghiên cứu sự thể hiện ý nghĩa của tồn tại con người trong văn học, tìm hiểu vai trò của ngôn từ trong việc biểu hiện ý nghĩa của tồn tại đó. Ở đây bản thể luận sẽ khẳng định sự sống là một hoạt động phi chủ thể, kinh nghiệm thẩm mĩ căn bản cũng là một hoạt động phi chủ thể(21). Chỉ trong nhận thức luận thì con người mới tự đối lập với chính mình và trở thành chủ thể. Trong sáng tác và thưởng thức nghệ thuật, trái lại, người ta thường quên mình, quên xung quanh, mà đắm mình vào trong tồn tại của nghệ thuật. Chính vì lí do đó mà triết gia hiện tượng luận Pháp là Merleau – Ponty trong Hiện tượng học tri giác và trong bài Cái nhìn thấy và cái không nhìn thấy đã đưa phạm trù thân thể vào chủ thể. Trước đây do đối lập thân thể với linh hồn, với thân xác, do coi chủ thể cao hơn thân thể, xem thân thể là tầm thường, thấp kém, cho nên thân thể bị gạt ra ngoài nghệ thuật. Bây giờ vấn đề chủ thể nhục thân  hay chủ thể – thân thể (body-subject) được nêu ra, thân thể có tính linh, thân tâm hợp nhất, và ông cho rằng nhục thân là một phương thức tồn tại thứ ba, không phải vật chất, cũng không phải tinh thần mà là thực thể, nghĩa là không phải nhục thể theo quan điểm nhị nguyên phân lập. Với quan điểm thân thể – chủ thể như thế, quan hệ nhà văn với hiện thực không phải là quan hệ nhận thức, không phải quan hệ đối lập chủ thể/ khách thể. Merleau – Ponty viết: “Tôi thông qua thân thể tôi mà nhập vào trong các sự vật, và chúng cũng giống như chủ thể đã nhục thân hoá cùng tồn tại với tôi”. Như thế bản thể luận giúp nhìn nhận lại vấn đề chủ thể trong văn học, nghệ thuật. Thứ hai, bản thể luận giúp tìm hiểu phương thức mà tác phẩm dùng để nói lên ý nghĩa của tồn tại. Heidegger trong bài Trên con đường tương thông với ngôn ngữ từng nói: “Ngôn ngữ nói bằng một âm thanh vắng lặng”. Ông lại nói: “Về bản chất, ngôn ngữ không phải là biểu đạt, cũng không phải là một hoạt động của con người. Ngôn ngữ lên tiếng”. Ý nghĩa của tồn tại có thể lên tiếng. Nhưng cái ngôn ngữ dùng để lên tiếng ấy không phải là công cụ của bản thân con người mà thuộc về bản thân tồn tại. Vì thế văn học muốn biểu hiện ý nghĩa của tồn tại thì trước hết phải học được ngôn ngữ ấy. Ngôn ngữ khoa học đáp ứng yêu cầu biểu đạt phương diện “cái là” của tồn tại (trả lời câu hỏi tồn tại gì?), tức phù hợp bản chất sự vật và phù hợp lôgic của biểu đạt. Ngôn ngữ đời thường chủ yếu thực hiện chức năng xưng gọi, do chấp mê vào kẻ tồn tại mà nó che mất ý nghĩa của tồn tại. Theo Heidegger, “thơ (tức văn học) chưa bao giờ tiếp nhận ngôn ngữ như là một chất liệu có sẵn, trái lại, chỉ bản thân thơ mới làm cho ngôn ngữ trở thành có thể. Thơ là ngôn ngữ nguyên sơ của dân tộc mang tính lịch sử”. Theo bản thể luận ngôn ngữ văn học không phải là công cụ, trái lại, nói như J.P. Sartre, “Trên thực tế, nhà thơ thoát thân khỏi ngôn ngữ công cụ, chọn lấy thái độ thơ đối với ngôn ngữ, xem từ ngữ như vật thể, chứ không phải như kí hiệu” (Văn học là gì?). Thơ đặt tên cho tồn tại,  gọi ra tồn tại và ý nghĩa của tồn tại.

Trải qua gần ba mươi năm chuyển hướng bản thể luận, tập nói theo ngôn ngữ mới, phần nhiều khác lạ của triết học phương Tây, nhiều nhà lí luận văn học đương đại Trung Quốc đã có nhiều tìm tòi và cũng có không ít ngộ nhận, đi đường vòng, dần dần, có thể nói họ đã bắt đầu đi vào thực chất của vấn đề và mở ra những triển vọng mới. Bản thể của văn học không phải giản đơn chỉ là hình thức, chỉ là tác phẩm, văn bản, nhân loại, quá trình… Chỉ nghiên cứu riêng về từng yếu tố đó chưa phải là bản thể luận. Bản thể luận là một cách tiếp cận có tính chất triết học về tồn tại theo cách hiểu hiện đại, nhờ đó, các vấn đề hình thức, văn bản, tác phẩm, quá trình sẽ được hiểu đúng đắn hơn, sâu sắc hơn, phù hợp với bản chất và đặc trưng của văn học hơn. Bản thể luận văn học sẽ đặt ra nhiều vấn đề để nghiên cứu, giúp gỡ ra được nhiều ngộ nhận về bản chất và đặc trưng văn học trong lí luận văn học.

Hà Nội, ngày 17-3-2008

______________

(1) Hà Tân: Bàn về quan niệm thẩm mĩ. Học tập và tìm tòi, 6-1980.

(2) Ngô Điều Công: Lí luận văn học nên là sự tổng kết khoa học về thực tiễn văn nghệ. Báo Văn nghệ, 12-1981.

(3) Lưu Tái Phục: Mở rộng không gian nghiên cứu văn học. Đọc sách, số 2-3-1985.

(4) Vương Ninh: Suy nghĩ và đòi hỏi của chúng tôi. Bình luận văn học, số 2-1987.

(5) Ngô Tuấn: Văn học: Bản thể ngôn ngữ và sáng tạo hình thức. Văn luận Thượng Hải,  2-1988.

(6) Ngô Lượng: Văn học và phi văn học. Góc văn học, 1-1988.

(7) Bành Phú Xuân-Dương Tử Giang: Bản thể văn nghệ và bản thể nhân loại. Tư trào văn nghệ đương đại, 1-1987.

(8) Đỗ Thư Doanh: Bàn về mĩ học văn nghệ nhân loại học, Nghiên cứu lí luận văn nghệ, 3-1989.

(9) Lưu Hiểu Ba: Phê phán có lựa chọn. Nxb. Nhân dân Thượng Hải, 1988.

(10) Lưu Hiểu Ba: Khủng hoảng: Thời kì mới đứng trước khủng hoảng. Báo Thanh niên Thâm Quyến, 3-10-1986.

(11) Cao Nam: Phê bình bản thể luận nghệ thuật. Góc rộng của nghệ thuật, 3-1989.

(12) Vương Nhất Xuyên: Nghệ thuật đi tới cảm tính – cảm nhận thế giới hiện đại và quan niệm nghệ thuật. Nhà phê bình, 2-1987.

(13) Lưu Lãng: Hình bóng cái chết trong văn học – bàn về sự sống trong văn học. Bình luận văn nghệ, 3-1988.

(14) Tưởng Khổng Dương – Chu Lập Nguyên (chủ biên): Nguyên lí mĩ học. Đại học Sư phạm Hoa Đông, Thượng Hải, 1999, từ tr.244.

(15) Thiệu Kiến: Gỡ rối và suy tư – bàn về bản thể luận nghệ thuật. Văn luận Thượng Hải, 4-1991.

(16) Chu Lập Nguyên:.Sự dịch nhầm về “bản thể luận” trong nghiên cứu văn học, mĩ học đương đại. Bình luận văn học, 6-1996, tr.14-24.

(17), (19), (20), (21) Tô Hồng Bân: Dẫn luận bản thể luận văn học. Nxb. Tam Liên, Thượng Hải, 2006; tr.9; 266, 294.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 5/2008. Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply