Vấn đề đưa chữ Hán vào nhà trường phổ thông


Nguyễn Thìn Xuân

Dưới thời Pháp thuộc, từ thuở còn học tiểu học đến cấp cao tiểu (Primaire supérieur) tôi vẫn được học chữ Hán mỗi tuần hai tiết và thường do một thầy đồ Nho mặc áo dài thâm, khăn xếp đến dạy. Lũ học trò chúng tôi thường coi nhẹ những tiết học này vì cho rằng học chữ Nho để làm gì nhỉ và thường là những giờ học “thoải mái”. Bởi vậy, suốt bao năm học chữ Nho, vốn liếng tiếp thu được chẳng là bao và càng bị mai một đi sau những năm dài công tác, kháng chiến và nhất là rất ít khi dùng đến. Kể lại chuyện trên đây cũng chính là để tôi muốn nêu lên câu hỏi: Đã đến lúc đưa chữ Hán vào nhà trường phổ thông hay chưa và nếu đưa vào thì nên đưa vào cấp học nào cho hợp lý ?

Gần đây trên sách báo, đã có ý kiến đề xuất là cần dạy lại chữ Hán trong nhà trường phổ thông vì cho rằng bỏ học chữ Hán là dẫn đến tình trạng người Việt Nam hiện nay hiểu sai ngữ nghĩa tiếng Việt rất nhiều. Lại có người lớn tiếng cho rằng đứng trước bàn thờ tổ tiên, trước các bức hoành phi câu đối trong các đền thờ toàn bằng chữ Hán mà không biết đọc, không hiểu được ý nghĩa… thì cũng là những người mù chữ.

Hầu như ai cũng thấy đất nước ta trải qua gần một nghìn năm Bắc thuộc và cũng gần một ngàn năm dưới thời phong kiến, cho đến hồi Pháp thuộc, chữ Hán – sau đến chữ Nôm là văn tự chính trong các lĩnh vực hành chính, giáo dục, thi cử, văn học, lễ nghi… những ai biết thứ chữ này hầu như chỉ chiếm ước độ 5% dân số và ai không biết chữ Hán thì nghe như vịt nghe sấm. Vì sao chữ Hán hay, có ý nghĩa sâu sắc, ấy vậy mà không sao phát triển mạnh mẽ trong các tầng lớp nhân dân ! Tạp chí Đăng cổ tùng báo của Nguyễn Văn Vĩnh (số 798 – thứ sáu – 28/3/1907) đã diễn giải như sau: “Vì chữ Nho quả là một hàng rào hiểm… làm cho kẻ đi học mỏi lưng, tốn cơm gạo mới dùng được chữ; khi dùng được chữ thì trán đã nhăn, lưng đã còng; vì nỗi dùi mài một đời học các điều cao xa quá”… “… thường chỉ học để thi đỗ làm quan là mãn nguyện…”. Thứ chữ này chỉ phát triển được trong một số gia đình thế gia vọng tộc, một số gia đình có tiền của, tuyệt đại bộ phận nhân dân không có điều kiện đi học.

Việc bỏ chữ Hán để dùng chữ Quốc ngữ đã diễn ra khá nhanh chóng vì thứ chữ này có thể diễn tả được cả những khái niệm trừu tượng nhất, tư tưởng cao siêu bằng những lời văn nhẹ nhàng, sáng sủa, chính xác… mà không làm giảm ý nghĩa của câu văn, cái thứ chữ mà “… như đất nước này sinh ra là đã có thứ chữ này rồi” (Hoàng Tiến). Dân tộc ta, ai ai cũng tự hào về chữ Quốc ngữ của mình vừa dễ học, dễ đọc, dễ viết. Chính vì tính ưu việt của chữ Quốc ngữ, người sáng dạ thông minh chỉ vài ba ngày, chậm hiểu thì cũng chỉ vài ba tháng là đọc được thông viết được thạo. Ngày nay, hơn 94% dân số nước ta – do học được cái chữ này mà nhân dân ta đã xóa được mù chữ, tiến lên phổ cập giáo dục tiểu học, nhiều tỉnh, thành phố đã phổ cập THCS… Chính vì vậy mà nền dân trí nước nhà được nhanh chóng nâng lên ngang tầm dân trí các nước trong khu vực. Đó là mốc son trong lịch sử giáo dục nước nhà. Có người nói chữ Quốc ngữ không phải do người Việt Nam sáng tạo ra mà đó là sản phẩm của các cố đạo phương Tây nhằm tạo công cụ truyền giáo. Nói như thế có phần đúng – nhưng chưa đủ – đã quên mất một phần rất quan trọng và cốt lõi – chính từ việc được la tinh hóa tiếng Việt để rồi dần dần thành chữ viết của dân tộc ta – chữ Quốc ngữ được sử dụng như một thứ chữ thống nhất, từ đồng bào Kinh đến đồng bào các dân tộc ít người – không có một ai phản đối – mọi người dân đều thừa nhận. Chữ Quốc ngữ ngày càng được trau chuốt, đủ sức diễn tả mọi tình cảm của con người, từ văn học đến triết học, khoa học… và được như ngày nay đó chính là nhờ công lao đóng góp của các thầy giáo Việt Nam, của các sư sãi, nhất là các nhà trí thức, học giả uyên thâm Hán học Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX như các học giả Nguyễn Văn Vĩnh, Huỳnh Tịnh Của, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Nguyễn Văn Tố… Chính họ, những người Việt Nam ta từ thế hệ này sang thế hệ khác trong thế kỷ XX đã góp phần tạo nên thứ chữ kỳ diệu này, một thứ chữ độc lập không bị lệ thuộc vay mượn một thứ chữ nào trên địa cầu này. Họ không chỉ truyền bá học chữ Quốc ngữ cho nhân dân ta mà họ còn góp phần xây dựng ngôn ngữ viết, văn phạm, văn chương và làm cho ngôn ngữ của ta giàu thêm bằng những từ ngữ mượn của nước ngoài. Hội truyền bá chữ Quốc ngữ đã đi tiên phong trong việc truyền bá học chữ Quốc ngữ đến những đối tượng cần lao như thợ thuyền, con ăn người ở… những người ở mức thang cùng khổ nhất của xã hội. Và phải nói rằng nền dân trí nước ta được như ngày nay là do chính Bác Hồ kính yêu cũng là nhà Nho cự phách đã khai sinh ra nền giáo dục bình dân (Bình dân học vụ) bằng chữ Quốc ngữ làm cho mọi người dân “ai cũng được học hành”. Hương thơm của đất nước được tỏa ra cũng chính một phần quan trọng do nhân dân ta có được thứ chữ Quốc ngữ này. Và liệu cứ dùng chữ Hán mà không học chữ Quốc ngữ thì dân tộc ta có được văn minh như ngày nay không ? Và như thế không thể nói, không thể cho rằng “Nước ta bỏ chữ Hán để dùng chữ Quốc ngữ là một điều mất mát lớn”.

Không ai phủ nhận cái hay của chữ Hán nhưng trước hết phải thông chữ Quốc ngữ – đúng là dân tộc ta trải qua gần nghìn năm học chữ Hán, chữ Hán đã tồn tại trong nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội. Ngày nay văn bia, tờ sớ ở các khu di tích lịch sử, ở các đền chùa miếu mạo vẫn còn hiện diện toàn bằng chữ Hán. Người ta nhìn thấy, nghe đọc mà cứ tưởng chữ người nước ngoài đọc, không ai hiểu ý tứ gì. Nên chăng ở những nơi này cần có bản dịch ra chữ Quốc ngữ để mỗi khi ai đó cần tìm hiểu là có thể dễ dàng hiểu được.

Gần đây trong dư luận, đã có ý kiến đề xuất là cần dạy chữ Hán trong nhà trường Phổ thông, có người còn đề xuất nên bắt đầu từ lớp 4. Tôi – một nhà giáo suốt đời gắn bó với ngành giáo dục, nhân có ý kiến này cũng đã trao đi đổi lại với các bạn đồng nghiệp lâu năm như tôi, cũng là những người ngày xưa đã từng học chữ Hán trong nhà trường xin có mấy ý kiến như sau:

1. Hiện nay, ai cũng cho rằng chương trình của nền giáo dục của nước ta là quá nặng. Ai cũng muốn giảm tải để cho phù hợp sức khỏe, tâm sinh lí học sinh. Nhưng bớt môn gì đây ? Do nền kinh tế phát triển, Đảng và Nhà nước ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Hàng loạt trường ở ba cấp được xây dựng và đang tiến tới học hai buổi một ngày, nên ngành giáo dục mới có điều kiện cho học sinh học đủ các bộ môn. Nay chương trình đã nặng, thêm môn này phải bớt môn kia và biết bỏ hoặc giảm môn nào đây ?

2. Chữ Hán qua quá trình phát triển của dân tộc đã gia nhập trong kho tàng ngôn ngữ Việt Nam với cái tên Hán Việt. Nên chăng trong giờ giảng văn một số bài thơ chữ Hán tuy đều đã được dịch sang chữ Quốc ngữ nay cần tăng thêm phần giải thích từng từ Hán Việt để cho học sinh hiểu nội dung bài giảng được sâu sắc hơn.

3. Còn nếu muốn đưa chữ Hán vào nhà trường một cách thấu đáo thì trước tiên phải đào tạo và chuẩn bị đội ngũ giáo viên chữ Hán, điều này cũng cần được tính toán kỹ lưỡng có bài bản.

4. Việc học chữ Hán và chuyên sâu về Hán Nôm cần được chú trọng và đầu tư thỏa đáng đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu Hán Nôm trong cả nước. Đây là nơi duy trì và phát huy kho tàng văn hóa dân tộc cổ truyền trong xã hội hiện đại./

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 3 (70) năm 2005

1 phản hồi

  1. lachanhong nói:

    Học làm người trước khi muốn học làm việc.khôi phục giáo dục quốc học là đều cấp thiết. nhân nghĩa, lễ, trí, tín là giá trị bất hữu.nhiều bộ môn kiến thức chuyên sâu về mặt lý thuyết không nên dạy trong trường phổ thông,nên chú trọng dạy kiến thức ứng dụng phổ thông trong cuộc sống là quan trọng nhất.chúng tôi cần con người biết áp dụng được kiến thức,chứ không cần những bộ máy trả bài và chỉ vì thi cử để có điểm cao.chúng tôi cần những người khả năng làm việc giỏi chứ không cần ” học sinh giỏi ” .

Leave a Reply