Vấn đề giải quyết… và hướng lên trong văn thơ


Tam Ích

Vấn đề này lôi tôi vào vòng ba giới: giới sáng tác, giới đọc sách và giới xen vào giữa là giới phê bình…

Người sáng tác thì tự mình đòi chính mình phải viết như thế này … phải viết như thế nọ… cho sách hay – người đọc sách, trong đó có cả người của chính quyền nếu chính quyền đó là chính quyền đòi có mặt trong văn nghệ chẳng hạn, thì đòi ở người sáng tác một số nguyên tắc phải theo để thỏa mãn ý thức hệ chính thức, – còn nhà phê bình thì chiều theo đòi hỏi của thời đại, chờ ở nhà sáng tác những tiểu thuyết, những kịch phẩm, những bài thơ… hay. Cứ dùng chữ hay là đủ, là gọn: riêng một chữ hay không cũng đã chứa cả một dung tích cứ nghĩ tới là nhà sáng tác đã phát… lạnh xương sống!

Số là ngày xưa, vào những năm 1948, 1949, 1950, những năm trước khi đi tù, tôi có viết một số bài phê bình, và khảo luận về văn nghệ. Ở đời nó vậy, hễ mới tập tành theo một thuyết văn nghệ nào đó… thì bao giờ cũng say mê và làm mặt… nghiêm khắc (rigorisme) – mãi sau này tôi mới thấy cái… lố của chính mình, chính mình đã “ấu trĩ” trên cương vị một nhà phê bình. Nói quả tình hồi ấy có một vài bạn trẻ lại cho tôi là… đúng mới là khổ cơ chứ! Khi viết, tôi tập tành áp dụng duy vật biện chứng pháp, và tôi đòi thiên hạ phải theo tả chân xã hội (réalisme- soicialiste) làm khuôn thước văn nghệ. Rồi cứ mỗi cuốn tiểu thuyết ra đời, tôi lại đưa cái chủ quan của tôi ra, hướng hết mọi luận cứ về mấy nguyên tắc mà tôi mới học được, rồi phê bình rằng cuốn này không giải quyết gì cả, cuốn nọ không đưa ra một kết luận gì cả, tác giả không gợi một biện pháp nào cho vấn đề đặt ra trong tác phẩm… nghĩa là, như tôi đã nói, tác giả không giải quyết gì cả… Rồi tôi vác “khuôn vàng thước ngọc” duy vật biện chứng pháp ra mà múa – mỗi một đều cho rằng phải thế này mới là văn nghệ, phải thế kia mới là văn nghệ… làm như nhà văn nghệ là đấng tối cao – giải quyết hết mọi vấn đề và muốn giải quyết là được. Rồi tôi cho rằng sách mà không giải quyết là sách dở…

Đấy, cái bịnh “ấu trĩ” văn nghệ (infantilisme littéraire) của chính tôi là bệnh giải quyết. Trước tôi có một người giỏi hơn tôi là Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa. Trước Trương Tửu có một người giỏi hơn Tửu là Paul Lafargue. Trước Paul Lafargue có một người, tuy là ông tổ phê bình duy vật biện chứng nhưng lại mềm dẻo hơn, là Taine: té ra những kẻ sinh sau Taine lại “bảo hoàng hơn vua” (plus royaliste que le roi) mới là hài hước!

Đến đây, tôi xin nói ngay rằng phải để những nhà phê bình cộng sản (critique communiste) ra một bên – họ khắt khe là phải, vì ở vị trí họ, với lăng kính họ, với cái kính vạn hoa của họ, họ phải nhìn văn nghệ thiên hạ như vậy cho hợp với ý thức hệ của họ – chúng ta không nên trách. Chớ Trương Tửu và tôi, thì việc gì mà cũng mặc áo duy vật biện chứng vào rồi thì phê phán thế này phê phán thế nọ? Chẳng qua chỉ để làm cái mặt “độc đáo”, cái mặt thông thái, cái mặt “hợp thời trang” mà thôi!

Tôi phải xin nói ngay rằng tôi không kết án cái phương pháp duy vật biện chứng trong văn nghệ, tôi không chống, trái lại, tôi còn cho nó là một tác phong phê bình có giá trị, nó phong phú hóa thông minh con người và văn hóa tính của lịch sử. Tôi chỉ muốn nói rằng nên dùng nhưng phải dùng cho mềm dẻo, cho linh động: chúng tôi hồi đó chỉ theo một mớ giáo điều mà thôi! Cái gì cũng do kinh tế mà phát sinh… Ừ thì văn hóa là sản phẩm của kinh tế thì tương đối đúng rồi, chứ còn có phải cái gì cũng vì kinh tế mà phát sinh đâu! Một cuốn sách ra đời: kinh tế. Một chị Năm ngả ba chú Ía gây lộn: kinh tế. Ăn cơm với mắm bò hóc: kinh tế… Mỗi mỗi cái gì cũng đều là kinh tế mà có: nhai mãi mấy cái kinh tế và xã hội… phải chóng mặt!

Thật ra, cái việc giải quyết một vấn đề rắc rối đặt ra trong một cuốn tiểu thuyết, trong một kịch phẩm, cái việc gợi ra một biện pháp luân lý – xin nói lại,luân lý – trong một kịch phẩm đã đặt ra một vấn đề luân lý trong sách… là việc của triết gia, của luân lý gia, của mấy cuốn luân lý giáo khoa thư, của ông Cò quận Ba chẳng hạn…

Nhà tiểu thuyết phản ảnh đời sống một cách linh động: chỉ có vậy thôi. Còn nhà tiểu thuyết làm sao để tác dụng lại đời sống, đó lại là một vấn đề khác… Sao lại bắt André Malraux phải giải quyết cả một vấn đề cách mạng Tây Ban Nha năm 1936 trong cuốn Hy vọng (L’espoir). Sao lại bắt Hemingway phải giải quyết vấn đề nhớp nhúa của chiến tranh trong cuốn Từ giã chiến tranh (Adieu aux Armes)… Tôi đọc hết cuốn Bão tố (La tempête) và bộ Sóng ngầm (Lames de fond) của Ehrenbourg, mà tôi chỉ thấy Ehrenbourg vẽ những bức bích họa (fresques)… chứ Ehrenbourg có giải quyết như những nhà luân lý, hay bắt chước ông Cò quận Ba phê phán thế này thế nọ – kể cả là thay mặt Thượng Đế để thưởng và phạt! Sách của Ehrenbourg chỉ là những bức bích họa phản ảnh Âu châu trong Đệ nhị Thế chiến và sau Đệ nhị Thế chiến. Nghĩa là Ehrenbourg là “họa sĩ” có tài. Vậy thôi. Vậy là được.

Đã có người đem vấn đề tinh thần nghệ phẩm ra bàn với Frédérico Fellini – mà ai cũng biết – Fellini bèn dựng Tchékov dưới mồ dậy và viện Tchékov ra để củng cố ý tưởng của mình, vì Tchékov nói rằng: chúng tôi kể chuyện hai gã ăn trộm ngựa, thì chúng tôi chỉ biết kể chuyện ăn trộm – còn chuyện nhốt chúng lại hay không, là việc của ông Cò quận Nhất hay quận Nhì… chứ!

Tôi tán thành Tchékov và Fellini. Nhưng tôi tán thành với dè dặt – nghĩa là thuyết văn nghệ hay thuyết phê bình văn nghệ gì cũng có giá trị cả, hay hay không là ở nhà phê bình có linh động hay mềm dẻo hay không. Nguyên tắc nào mà đã dựng thành giáo điều (dogme) thì cũng dở cả: áp dụng nó mà nhắm mắt lại mà áp dụng thì đều cũng là bệnh “ấu trĩ” (infantilisme): ấu trĩ cho người sáng tác cứ phải theo cho đúng giáo điều để tác phẩm hay (rồi hay đã không hay, lại dở, đó là trường hợp cuốn Terres défricheés của Cholokov). Quả tình tôi dám đem cả nhà cửa vợ con ra mà cá rằng khi viết La tempête và Lames de fond, Ehrenbourg chưa từng theo đúng nguyên tắc tả chân xã hội bao giờ! Muốn tỏ rằng đúng, tôi xin kể thêm chuyện sau đây để bà con “thẩm” và để chứng minh rằng tôi cũng có chút tinh đời: khi Ehrenbourg đưa bản thảo cuốn La tempête ra giữa Hội Nhà văn Sô Viết, thì toàn diện Hội Văn nghệ mồm năm miệng mười, chúng khẩu đồng từ nói rằng không không sách Ehrenbourg… không tả chân xã hội (réalisme socialiste) một tí nào! (Mà Hội nói thất cứ không phải Hội lầm!). Ehrenbourg bèn nói rằng: “Thưa các đồng chí, tôi đã đưa cho đồng chí Staline coi rồi, đồng chí nói rằng đó là một tác phẩm lớn!”. Thế là cả Hội Văn nghệ im thin thít – và từ đó cuốn La tempête thành sách thần tượng… Mà La tempête lại hay thật! Người viết bài này đã đọc nó ba lần – ba lần!

Tôi vừa mới nói rằng ai nhắm mắt lại mà áp dụng các giáo điều thì đều mắc phải bệnh ấu trĩ: trước hết là ấu trĩ cho nhà sáng tác. Rồi đến ấu trĩ cho nhà phê bình cũng chỉ theo những nguyên tắc có sẵn mà nói, và ấu trĩ luôn cho độc giả – trong đó có chính quyền nếu chính quyền đòi quyền có mặt – chờ ở nhà sáng tác một vạn yếu lý: nào đòi nào buộc… làm nhà sáng tác chết cả hứng và mất cả tự do.

Bây giờ xin nói đến một tác phong đòi hỏi thứ hai – tôi chỉ xin nói vài nếp căn bản, nếp thông thường nhất… Là tác phong đòi hỏi hướng thượng.Hướng thượng nghĩa là hướng đi lên, không đi xuống. “Bệnh” này có thể là một “bệnh” biến thể hay là hậu quả của “bệnh” thứ nhất.

Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu thế nào là văn nghệ “hướng lên” trong nhân sinh, trong lịch sử, trong xã hội – trong sự tiến hóa của loài người.

Vì tôi cho rằng, trước hết là chỉ có vấn đề sách hay và dở đã. Hoặc là nó đã xong sứ mạng lịch sử và xã hội của nó như tiểu thuyết tiền chiến của Tự Lực Văn Đoàn thì người ta không đọc nó nữa, để nó vào vị trí của nó trong thư viện. Trong trường hợp đó, không có vấn đề hay dở, mà chỉ có vấn đề giá trị thời đại. Hoặc là nó là một cuốn tiểu thuyết văn chương không hay, kỹ thuật bố cục không hấp dẫn, thì người ta không đọc nó và trả nó về cho… tác giả nó. Trong trường hợp đó, người ta đặt vấn đề hay và dở – và đó là sách dở, dĩ nhiên.

Hoặc là nó là một cuốn tiểu thuyết văn chương độc đáo, kỹ thuật mới – thì nếu nó phản ảnh tâm trạng của thời đại một cách trung thành, thì phải cho nó là hay chứ! Hay là chúng ta lại vác mấy nguyên tắc “giải quyết” và “hướng lên” ra mà tuyên án thế này hay thế nọ? Những bàn tay nhớp (Les mains sales) của Jean Paul Satre, Những kẻ tử vô địa táng (Morts sans sépulture) của Jean Paul Satre, Những miệng ăn hại (Les bouches inutiles) của Simone de Beauvoir, Trò kháng chiến (Drôle de jeu) của Roger Vaillant… là tiểu thuyết và kịch phẩm chứa hướng gì? Không thể nào nói rằng đó là những sách có hướng lên được! Ấy thế mà chúng hay vô cùng! Thôi như cuốn Bếp lửa của Thanh Tâm Tuyền mà tôi cho là một cuốn tiểu thuyết lớn của giữa thế kỷ XX, thì không thể nào đem những nguyên tắc hướng lên, hướng xuống hay giải quyết ra để quy định giá trị được. Nó hay, nó có giá trị: vậy là đủ. Còn nó hay ra sao, giá trị nó ở đâu, đó lại là một vấn đề khác rồi!

Ấy là chưa nói rằng, nếu cứ nói mãi chuyện hướng này với hướng nọ, thì còn có sách gì hướng thượng hơn là truyện của tiền nhân chúng ta: truyện nào cũng dạy siêng năng để đậu thám hoa, để lấy con nhà cành vàng lá ngọc… – còn có truyện gì… hướng xuống – xuống rất thấp nữa là khác – hơn làĐoạn trường tân thanh: nếu nó có hướng lên thì những nhà chí sĩ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng… lại đã chẳng mất thì giờ đưa Nguyễn Du ra tòa án văn học lịch sử – để đến nỗi sân khấu văn học ồn ào sôi nổi lên một dạo!

Vì vậy, chuyện hướng lên và hướng xuống thật chỉ là một vấn đề tương đối – ấy là chưa nói rằng cũng một cuốn tiểu thuyết hay một kịch phẩm, v.v. nhà phê bình – cũng như chính quyền văn học, cũng như độc giả – muốn nói nó là hướng gì cũng được: đó là tùy ở lăng kính của mỗi người, và cũng còn tùy ở lòng thương hay lòng ghét rất… chủ quan của mỗi người.

Tôi còn nhớ cách đây mười mấy năm khi cuốn Les mandarins của Simone de Beauvoir được giải Goncourt, và được văn học thế giới trầm trồ, Jacques Laurent đã viết một bài rất dài, rất tàn nhẫn để dội lòng ghen ghét nhớp nhúa lên cuốn truyện – nào ai cấm! Nào! Thế thì, trong trường hợp đó, đặt vấn đề hướng ra sao?

Cách đây mười mấy năm, khi viết một số bài phê bình, tôi cũng đã có cái tác phong thứ hai ấy – một tác phong thái độ văn nghệ làm cho nhà phê bình thì làm mặt quan tòa cầm cân nẩy mực, phán thế này, phán thế nọ… làm cho nhà sáng tác thì đôi khi sợ phê bình hướng này hướng kia mà khiếp vía, vừa sáng tác vừa ngại – giữa lúc độc giả thì cũng ngơ ngơ ngác ngác dửng dưng vậy thôi, đọc cứ đọc, xem cứ xem, theo tiêu chuẩn riêng của họ để phê phán. Và giữa lúc ấy ai cũng say mê Pour qui sonne le glas của Hemingway, Les raisins de la colère của Steinbeck… mà không hiểu hai cuốn đó đã theo hướng gì trong văn nghệ! Thực ra, họ cũng chẳng tìm hiểu làm gì. Hay là được! (À, xin thêm rằng hai cuốn đó đảng cộng sản không tha thứ – mà lại sẵn lòng tha thứ co Ehrenbourg không tả chân xã hội một chút nào! Chuyện lạ!).

Nếu nói vậy thì rồi ra không có tiêu chuẩn văn nghệ gì sao? Người ta sẽ hỏi vậy.

(…) Các người làm chính trị, họ có quyền lợi của họ, họ phải tranh nhau lôi chân lý về cho họ – chân lý: mặt mũi ra sao, màu sắc thế nào, dung tích bao lăm, kích thước bao nhiêu… Những nhà văn nghệ bên nào phụng sự bên ấy, ai phụng sự cứ phụng sự… đã biết thế, nhưng chuyện văn nghệ là chuyện tượng trưng – chúng ta định hướng gì cho văn nghệ? Cái chuyện hướng lên và hướng xuống chỉ là chuyện nói cho có chuyện mà nói: một khi không biết Les raisins de la colèrecủa Steinbeck hay Drôle de jeu của Roger Vaillant chẳng hạn – bị người cộng sản chỉ trích – là hướng gì, thì không thể dựng mấy ý tưởng ấy thành nguyên tắc, dựng mấy nguyên tắc ấy thành giáo điều được! Nếu có bạn nào cãi tôi thì tôi lại một lần nữa bỏ văn chương chữ nghĩa cơm đùm cơm gói, hăm bốn giờ trên hăm bốn giờ, để bênh vực cho giá trị của hai cuốn Les raisins de la colère và Drôle de jeu… chẳng hạn. Ấy là chưa nói rằng, không bao giờ có một cuốn “văn phạm” văn nghệ nào quy định hướng này hướng nọ cho tiểu thuyết, cho kịch phẩm, cho thơ – trừ mấy cuốn giáo lý của đảng cộng sản họ làm ra cho người của họ, nhà sáng tác của họ, nhà phê bình của họ, dân tộc của họ… xem và theo!

Thực ra thì chỉ có vấn đề tinh thần của nghệ phẩm mà thôi – của những tác phẩm hay. Hay trước đã: rồi nói chuyện tinh thần sau. Tiếng Pháp gọi làesprit: esprit du roman, esprit d’une pièce de tragédie… Gọi là tinh thần cũng được, gọi là lý thuyết cũng được – đó là cái ý thoát ra, vọng lên và tỏa ra từ nghệ phẩm.

Người đọc đọc xong sách, bị vướng một cách ám ảnh bởi một cái ý gì đó: một cái hình gì đó, một cái bóng gì đó, một cái lẽ gì đó – có thể đó là một âm thanh ám ảnh thính giác, một màu sắc ám ảnh thị giác, một ý tưởng ám ảnh thông minh – một tiếng kêu thuốc, một lời than thở, một cảnh đau lòng – mà cũng rất có thể là một niềm vui gây hăng hái… Nhất là nó ám ảnh… ám ảnh…

Tôi xin viện chứng cớ để củng cố cái “thuyết” của tôi: tôi thì tôi đề cao cái hay trước, rồi tôi đề cập tới cái mà tôi gọi là tinh thần hay cái ý thuyết của tác phẩm sau.

Này nhé.

Đọc xong Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, chúng ta thấy khí hậu sĩ phu tín đồ của Trang Tử, Liệt Tử thiệt là đẹp – một thứ đẹp kín đáo, xa, trừu tượng, đem người gần lại, đem người thân mật hơn với cổ nhân. Dù có ai ghét giai cấp sĩ phu cũng phải thấy phát sinh trong lòng một niềm tôn kính xa xôi – xa xôi lẫn nhớ, lẫn tiếc, tiếc thương những gì đã dứt trong thời gian.

Đọc xong Cô gái giang hồ có lễ độ (La putain respectueuse) của Jean Paul Satre, chúng ta thấy thương cho cả một dân tộc chỉ vì khác màu da với màu trắng mà bị hành hạ… và chúng ta buồn quá, buồn quá cho một nước có cả một nền văn minh lớn, dùng ba tấc lưỡi – buồn cho cả một nền công lý, một nền tư pháp… mà ra nông nổi ấy à?

Đọc xong vở kịch Đại úy Foster thừa nhận mình có tội ở tòa (Le capitaine Foster plaide coupable) của Roger Vaillant, chúng ta thấy thương cho dân tộc Đại Hàn – ghét cả cái lũ tư bản dân tộc làm giàu bằng chiến tranh xây tài sản trên xương máu đồng bào…

Đọc xong Chùm nho uất hận (Les raisins de la colère) của John Steinbeck, chúng ta có thiện cảm muốn gần những người nghèo ở miền Tây Hoa Kỳ nạn nhân của máy móc…

Và đọc xong Kháng chiến gì lạ quá (Drôle de jeu) của Roger Vaillant, Chuông cáo phó đánh cho ai (Pour qui sonne le glas) của Hemingway, chúng ta thấy muốn cùng tranh đấu với “maquisards” của Pháp và của Tây Ban Nha… cho tự do của loài người…

Và trở lại với văn học chúng ta thêm một lần nữa, đọc xong Bếp lửa của Thanh Tâm Tuyền chúng ta thấy muốn gần cả một thế hệ thanh niên một sáng… bị ném ra giữa nhân sinh với tất cả những băn khoăn thao thức, với tất cả những lạc lõng giữa một bối cảnh lịch sử và xã hội tan vỡ chung – ta là ai, người là ai, đâu đây, trước ta có ai, sau ta đương làm gì, người tiền bối và người đàn anh để lại một thứ “gia tài” tan vỡ nhớp nhúa không kèm di chúc… Lòng chúng ta buồn, lòng chúng ta giận: giận ai, buồn những nỗi niềm… nhưng buồn ai giờ đây – hay chỉ giận chính mình?

Rồi chúng ta trở qua Tây Ban Nha, đọc Hết hy vọng (La fin de l’espoir) của Hermanos (do Jean Paul Satre đề tựa) để kêu thương với cả một dân tộc bị tàn sát vì tranh đấu cho tự do… Thương cho chàng Hermanos và giận cho những dân tộc giả điếc làm ngơ khi… thiên hạ kêu thương – buồn mửa cho sự giả dối trơ trẽn trắng trợn của những dân tộc gọi là dân chủ – và có thêm ấn tượng rằng nhà triết, nhà văn, nhà thơ… kể cả nhà viết sử cứ cao đàm hùng biện rằng con người là có giá trị “nhân bản” lắm lắm, con người là đáng quý nhất trong vạn vật, nhưng thực ra thì con người cũng chẳng có gì là… đáng. Ấy chẳng qua con người tự phụ đó mà thôi – mà thôi – có ra cái quái gì cái giống người – giống khỉ, giống dơi, giống cá lóc, giống kiến: kiến chết từng bầy thì người cũng chết từng bầy, kiến cắn kiến thì người cũng cắn người, kiến cắn kiến kiến không kêu, người cắn người thì lại nói nhân đạo và diễn thuyết… Chúa Kitô vẫn thương con người nhiều, Phật Tổ vẫn dạy con người vo cho tròn quả phúc! Nhưng con người ăn ở với mình với người như lợn mà đòi đủ thứ: đòi hạnh phúc, đòi Thiên Đường, đòi Niết Bàn… đòi đủ, đòi không được cũng khóc như con nít vậy – khóc mà ai thương!

Vậy chứ trong những cuốn tiểu thuyết và những vở kịch tôi đã kể đó, thiên hạ đặt vấn đề giải quyết và vấn đề hướng lên và hướng xuống ra sao? Đặt ra sao, đặt vào chỗ nào, đặt ở đâu cho đúng chỗ, đặt thế nào cho hợp tình, hợp cảnh – nhất là hợp với thông minh hiểu biết của mọi người: cần phải hợp lý, đừng ép, đừng gượng, cho thoải mái dễ hiểu, đừng phiến diện, đừng chủ quan vẩn vơ…

Ấu trĩ thay, ấu trĩ cho người sáng tác, cho người đọc, cho nhà phê bình. Văn học Âu châu có bệnh ấu trĩ. Mình cũng có… bệnh ấu trĩ!

Tốt hơn là nên học bài học của thiên hạ: nên trưởng thành (maturité) – vượt giai đoạn ấu trĩ (infantilisme) vẫn hơn!

Thực ra, chỉ có sách hay và dở, hay hay dở. Hễ dở thì loại đi: người sáng tác đừng sáng tác như thế như thế – vẫn không hay, kỹ thuật kém – thì người đọc khỏi phải đọc, và phê bình gia khỏi phải mỗi lúc đem khuôn vàng thước ngọc ra đòi thế này, đòi thế kia… làm nhà sáng tác hết vía!

Còn nếu hay thì tìm xem tác giả muốn nói gì, nói một cách khác, coi tinh thần sách (esprit de l’oeuvre) là gì, tác giả muốn nói gì, bày cảnh gì, phản ảnhtình gì – tác phẩm chỉ là một lợi khí có giới hạn, không thể một lúc mà nói cả một vạn chuyện, phản ảnh cả một vạn tình vạn cảnh, chứa một vạn ý, ghi cả một vạn câu danh ngôn. Không thể đòi nhiều quá ở nó được!

Nó gây được một niềm vui cho lòng ấm lên; nó gây được sự căm giận những bất công; nó gây được sự nôn mửa… trước những cảnh nhớp nhúa về tinh thần: bất nhân, bất nghĩa, phi đức, phi chân, phi mỹ; nó phản ảnh được máu xương gợi lòng trắc ẩn… nó giục lòng hăng hái, thúc đẩy sự nhiệt thành, v.v. Ấy là sứ mạng nó đã xong!

Sách có hay mới gây được một trạng thái tâm lý như vậy. Người viết có giỏi, viết giỏi, bố cục giỏi, mới tạo xao động trong lòng người, bất kỳ là xao động về hướng nào.

Người viết không nên cho rằng mình phải làm đủ thứ một lúc – người đọc đừng đòi nhiều – người phê bình đừng mặc áo cà sa hay áo quan tòa mà làm nhà sáng tác mất hứng thú, hết vía… Vậy là đủ. Vậy là tránh được những bệnh “ấu trĩ” trong văn nghệ: tránh cho nhau và tránh cho chính mình.

Và người viết bài tiểu luận khiêm tốn về văn nghệ này xin nói một ý cho hết ý – kẻo bị hiểu lầm. Ở đời cũng có những sách: tiểu thuyết, kịch phẩm, truyện ngắn, thơ… không có tác dụng tốt: ấy là những sáng tác tạo ra một cách chói lọi những những, những tình, những cảnh… không đủ lành mạnh. Thanh thiếu niên là hạng người dễ bắt chước, dễ mơ ước, dễ lấy nhân vật trong sách làm thần tượng (mythe). Tâm hồn họ như một tờ giấy trắng – trong như pha lê: khí hậu bên ngoài dễ thấm… Cái may nhất cho thanh niên giữa tiền bán thế kỷ hai mươi là Dũng và Loan trong Đoạn tuyệt chẳng hạn lại là những nhân vật lành mạnh vô cùng. Vạn nhất – nói ví dụ mà nghe chơi – nếu hai nhân vật ấy mà lại thiếu sức khoẻ tinh thần, thì hai cuốn Đoạn tuyệt và Đôi bạn đã lấp chỗ trống của bao nhiêu tâm hồn trẻ tiền bán thế kỷ XX, có tác dụng có hại của nó. Cũng may!

Gọi đó là cái may cũng được. Gọi đó là ý hướng tốt của Nhất Linh cũng được.

Nhất Linh đã chết. Xin gửi thêm một vòng hoa!

Nhưng như vậy thì hình như tôi lại đi hơi xa… vấn đề mất rồi!

Nguồn: Lá Bối xuất bản lần thứ nhất, in tại nhà in Đăng Quang, 734a Phan Thanh Giản – Sài Gòn. Giấy phép số 481 TBTTCH/BC3/XB Sài Gòn ngày 22 tháng 2 năm 1967, ngoài những bản thường in thêm 100 bản đẹp dành riêng cho tác giả, nhà xuất bản và thân hữu. Thư từ, liên lạc về Nxb xin gửi cho Từ Mẫn, bưu điện xin đề tên cô Cao Ngọc Thanh. Giá 120 đồng. Bản điện tử do talawas thực hiện.

Leave a Reply