Vấn đề khai thác…


Tam Ích

Kích thước gia tài trí thức của tiền nhân, kể cả danh nhân văn học cận hiện đại, để cho người đời khai thác, thật không thể dùng thông minh của con người mà đo lường nổi. Bên Tây thì thời cổ La – Hy, đến thời La – Hy, đến thời Phục hưng… Bên Đông thời từ Ngũ Đế và Hạ Thương cho đến Khổng Khâu đời Xuân Thu trở về sau. Người cận đại và hiện đại chỉ còn khai thác và dùng kính vạn hoa soi vào gia tài ấy để phong phú hóa, nhất là để thừa hưởng. Cũng như con cháu khai thác đất sống của ông bà để lại… Nhưng chuyện đất đai thì còn giản dị, chuyện trí thức mới thật là rắc rối, phức tạp và oái oăm. Oái oăm thật chứ chẳng phải vừa: nhỏ thì có thể gây chuyện xung đột vặt, lớn có thể gây thành chiến tranh, máu và nước mắt chan hòa… Không trách mà đã có người lăm le đem cái lợi khí ghê gớm nhất (nghĩa tốt cũng như nghĩa xấu) của loài người là ngôn ngữ ra vành móng ngựa của lịch sử và lên án chung thân. Chẳng cách nào trừng trị nó bằng cách không dùng nó nữa: đó là việc làm của phái thiền tông của Phật giáo. Hai ba ngàn năm trước cũng đã có ông già Lão Đam thấy trước cái việc hai ba ngàn năm sau con cháu mới thấy rõ, trừ tín đồ chân chính của thiền tông… Ngôn ngữ gây xuyên tạc, gây hiểu lầm… và dẫn dắt theo nó tai họa nhân sinh không bao giờ dứt… và đếm không hết trong lịch sử!

Lời lẽ của thánh hiền để lại cho ngàn đời, thiên hạ hiểu mỗi người mỗi cách. Này nhé, có một chữ cách vật trong sách Đại học mà hơn bảy chục nhà nho lớn giải thích mỗi người mỗi cách… ấy là chưa kể ông Vương Dương Minh ngày xửa ngày xưa có một dạo tưởng đâu cách vật là sáng sáng ra đăm đăm nhìn thẳng vào cây cối coi chúng lớn làm sao và nảy nở thế nào…

Này nhé: phải duy vật biện chứng lật ngược lật xuôi cái biện chứng pháp của Hégel thế nào hết biết, rốt cục đã không đả phá hết được Hégel mà lại còn làm cho trí thức giới ngờ rằng: suy đến cực vi cực diệu cái hệ thống duy vật biện chứng thì cái thực thể vật chất của phái duy vật thật không khác gì cái ý niệm phổ biến và trừu tượng (Idée universelle et absstraite) của Hégel chứ chẳng phải cái vật chất của các nhà vật lý học vì chính cái vật chấtnày mới đối với cái tinh thần! Này nhé: Kierkegard, Hégel, Sartre – kể cả ông Vũ Đình Lưu hình như ký là Cô Liêu đã viết những bài khảo luận rất vững rất chững về văn học mà tôi đã được đọc và đã viết bài “Con người và thiên nhiên” trong Giữ thơm quê Mẹ số 6, ra tháng Chạp dương lịch 1966 mới rồi – mỗi người cho danh từ conscience malheureuse một nghĩa, nghĩa của họ ít nhiều khác nhau…

Này nhé: hai chữ trung dung của Đức Khổng Tử để lại… đã có người hiểu là không thái quá không bất cập và đã áp dụng vào đời sống để sống cho khỏi quá đáng – kể cả ông Lã Đông Lai là một bực đại nho Trung Quốc…, kể cả bực túc nho Việt Nam cận đại là ông Dương Quảng Hàm…

Này nhé: về cái yếu lý của Hégel: “Tout ce qui est réel est rationnel, tout ce qui est rationnel est réel” của Hégel, cũng mạnh ai nấy hiểu theo ý mình: Jean Guéhenno thì cho rằng cái gì có thực (réel) thì hợp lý (rationnel) – hiểu mỗi chữ của yếu lý theo nghĩa quán lệ; người thì nói một cách rất khó hiểu rằng thực tại nhân sinh bao giờ cũng hợp lý thiên nhiên. Thực ra thì yếu lý ấy phải hiểu như sau này: réel vốn là một tĩnh từ của Pháp ngữ réalité là thực tại, và rationnel vốn là tĩnh từ của Pháp ngữ raison là lý tính. Réalité đây là thực tại thường tịch bản thể của vũ trụ và raison đây là lý tính phổ biến, thực thể cứu cánh của cuộc “hành trình” của bản thể thường tịch trên con đường biện chứng của nó – nói một cách khác bản thể ấy (có tên là Ý tưởng tuyệt đối, là Idée absolue) đã tự nó trước kia mất nó, bây giờ tự nó, nó tìm được nó (à la recherche d’elle-même); cho nên trên con đường biện chứng dài dằng dặc dài mù mịt, trong cuộc “hành trình”, vạn pháp (tôi mượn chữ nhà Phật mà tôi cho là ổn) vô thường chỉ là phản ảnh của Thực tại bản thể thường tịch, mang trong nó một “bóng dáng” của Thực tại tuyệt đối ấy, đồng thời biến thành “bóng dáng” của Lý tính phổ biến – một ngày kia thực tại bản thể sẽ đồng nhất với Lý tính phổ biến viết hoa ở điểm cùng cực của quá trình biện chứng của lịch sử. (Khi đã đồng nhất thì cái Một sẽ xuất hiện, mọi danh từ dùng để chỉ cái Một ấy mất và Ý niệm về Thượng Đế của Hégel xuất hiện. Vì Thượng Đế của Hégel là Thượng Đế đương sinh thành (Dieu en formation) chứ không như Thượng Đế của các hệ thống uyên nguyên khác dựng một Thượng Đế có trước và ngoài không thời gian vạn vật – cũng chính vì vậy mà Ludwig Feuerbach mới “phỏng” theo Hégel để nói là con người tạo Thượng Đế theo hình ảnh mình (L’homme crée Dieu à son image) ngược hẳn với Thiên Chúa giáo nói là Thượng Đế tạo con người theo hình ảnh của Người (Dieu crée l’homme à son image) – và đó là một trong những lý do mà Hégel và Feuerbach chẳng được Giáo Hội “thương” mà cũng bị luôn phái Mác-xít… “ghét”…

Xin trở lại yếu lý “Tout ce qui est réel…” chuyển qua Nho giáo thì “vạn vật các hữu thái cực”, con người “minh minh đức” cho đến ngày thiên lý thực hiện vì vạn vật – nhất là con người – chứa mầm thái cực gọi là minh đức, cũng như vạn pháp đều chứa Réalité của Hégel và mầm Raison sẽ thăng hoacho đến ngày hai thực thể siêu hình ấy đồng nhất; và chẳng qua Phật giáo thì con người có Phật tính, một ngày kia sẽ chùi sạch được vô minh và đạt đến Như có một tên khác là Niết Bàn… chẳng hạn…

Còn như Thiên Chúa giáo nói rằng Chúa tạo con người theo hình ảnh của Người (Dieu crée l’homme à son image) và con người đều hàm chứa “bóng dáng” của Tối Thiện (của Platon) – thì vạn pháp của Hégel chứa “bóng dáng” của thực tại tuyệt đối mang cái tên Lý tính phổ biến ở cứu cánh lịch sử – thì có gì là lạ!

Nhưng thôi bây giờ bỏ Hégel đi ngược lên Aristote để coi hậu thế “khai thác” gia tài trí thức của bậc tiền nhân ra sao! Đã có một học giả Tây phương viết về triết học Á Đông, khi viết về Phật giáo lại viết rằng Phật giáo giống Aristote vì Phật chủ trương vũ trụ vô thủy vô chung, còn với Aristote, vũ trụ không từng có bắt đầu và sẽ không có chấm dứt (Il – le monde – n’e pas commencé, il ne finira pas); và khi viết về Nho giáo thì cho cái trung dung của thầy Tử Tư soạn giống cái “trung dung” của Aristote… Mô Phật! Tôi tưởng so sánh vậy là lầm lớn: vì Phật giáo không đặt vấn đề Thượng Đế còn Aristote chủ trương có Thượng Đế và Thượng Đế của Aristote gọi là Acte pur; đồng thời cái vô thủy vô chung của Aristote khác hẳn của Phật – khác là vì, đối với Aristote, thời gian không lúc nào hết (s’epuiser) nghĩa là lúc nào cũng đương bắt đầu và đương ngưng (entrain de commencer et de finir), và dịch (mouvement) là một “thực thể” bất diệt và vô cùng (éternel); còn cái “trung dung” của Aristote tên gọi là “juste milieu” chỉ là một nguyên tắc về luân lý thông thường Ngài dạy cho bá tánh – một thái độ sống đừng thái quá đừng bất cập. Còn trung dung của Khổng Khâu là cứu cánh của vũ trụ, đối tượng của phần giải thoát luận của phần hình như thượng tức là phần cực vi của cái học tâm truyền (esotérique) mà tôi ngờ là trong bảy chục môn sinh cao cấp của Ngài chỉ có hai ông Tăng Điểm và Nhan Hồi là… tâm đắc trước hết – đó là đường đi tới Thiên lý rất tế rất vi rất uyên áo, và cũng con đường đó, Lão dạy đi tới Vô vi hay Đạo, Phật dạy đi tới Như…

Còn cả một ngàn lẻ một… yếu tố về triết học ở vào tình cảnh… mạnh ai nấy hiểu theo ý mình và lăm le chiếm độc quyền hiểu và biết – nói sao cho hết!

Lịch sử càng đi vào bề sâu bề xa thì cái tình trạng khai thác gia tài trí thức của thánh hiền mỗi người mỗi cách… càng trầm trọng: ai cũng chiếm độc quyền hiểu cổ nhân, ai cũng để vào sự hiểu cổ nhân một dung tích chủ quan lớn quá, ai cũng cho mình là đúng và kẻ khác đã lầm… Ấy là chưa nói đến một vấn đề khác – nói tình trạng thì đúng hơn – là tình trạng tam sao thất bản, kết quả càng ngày càng trầm trọng dài hàng hai ba ngàn năm của sựphần thư khanh nho của Tần Thủy Hoàng; tình trạng trí thức giới của lịch sử muốn giải thích thánh hiền cách nào cũng được: Nho giáo đứt đi vì nhà Tần, qua Hán, Đường, Tống – nhất là Tống – Thanh, cho đến cuối thế kỷ XIX thật đã đưa đầu cho bao nhiêu dao kéo, bao nhiêu dao thớt, bao nhiêu máy chém, bao nhiêu chân vẽ thêm cho rắn để cho sĩ phu làm mặt thông thái và khác đời…; tình trạng cố ý xuyên tạc cổ nhân để hướng về quyền lợi chính trị của mình…

Thật có cả một ngàn lẻ một… tình trạng, kể không hết!

Cái chuyện cuối cùng tôi mới nói đó, tôi xin kể chuyện bên Tây: thực ra cố ý xuyên tạc cổ nhân hay là giải thích cổ nhân theo ý chủ quan của mình… thì vậy!

Ai cũng biết Michelet là một sử gia lớn của Pháp. Mãi đến năm 51 tuổi, nhà làm sử ấy mới lấy bà Athenais Mialaret 23 tuổi.

Khi Michelet chết rồi thì bà vợ quý hóa ấy đã theo nhật ký và văn kiện rời rạc… Michelet để lại, xuyên tạc hẳn đi và viết cuốn Romes rồi ký tên Michelet …! Giá có ai lại dựa vào tài liệu ấy viết một số sách khác thì sai một ly, một vài thế kỷ sau, sai mãi sẽ đi… một dặm – tai hại kể làm sao hết và chân lý đã biến thể bao nhiêu lần…!

Nhưng trường hợp Michelet chưa nguy hiểm bằng Nietzsche! Người xuyên tạc nhà triết học ấy là bà em gái của chàng: bà Elisabeth Foerster, người có quyền giữ văn kiện của Nietzsche ở Weimar bên Đức… Bà ta đem văn kiện của ông anh ruột ra, xóa, bỏ, cắt, xén, thêm, bớt – và đã làm cho hệ thống trí thức của Nietzsche có một bộ mặt ý tưởng khác hẳn, nếu không phải là trái ngược! Trái ngược vì chính bà đã viết một cuốn sách phát minh ra cái tên Volonté de puissance – trong khi anh bà nằm tại một nhà thương dưỡng thần kinh… Và ai cũng đã biết: kết quả của cuốn Volonté de puissance là gã Hitler và mười năm quốc xã khủng khiếp! Tội nghiệp cho Nietzsche: bình sinh Nietzsche đã từng mắng chủ nghĩa quân phiệt của Bismarck và bênh vực các dân tộc Do Thái, Ả Rập…

Chứ có đâu lại chủ trương tàn sát dân Do Thái như Hitler… Té ra một phần lớn chỉ vì bà em gái quý hóa ấy mà chủ nghĩa phát xít ra đời – di hại đến ngày nay cũng còn chình ình ra đó ai cũng thấy…

Thánh hiền đã chết rồi: nói cho đúng, ngày nay giải thích sai thánh hiền một cách rất chủ quan, hay xuyên tạc thánh hiền, hay… đốt sách chôn học trò… thì cũng vậy: cái hại chỉ khác nhau ở trình độ mà thôi! Trên cao cái tội chém giết thánh hiền ở Tần Thủy Hoàng phần thư khanh nho… và dưới thấp nhất có bà vợ Michelet và bà em của Nietzsche – và ngồi bên cạnh cùng một chiếu có những nhà văn giỏi giết Thi Nại Am bằng cách viết thêm năm ba chương mới vào bộ Thủy Hử, làm cho chính kẻ viết bài này ngày xưa đã nghênh ngang cười vào mũi Tống Giang hơn một lần…

Qua bao nhiêu thế kỷ, những yếu lý của thánh hiền bị xuyên tạc bao nhiêu lần, biến thể đi bao nhiêu lần, thánh hiền còn để lại cho đời sau bao nhiêu là chất chân chính và xác thực?

Tình trạng đã thế, tại sao người ngàn đời sau lại có nhiều người cứ định rằng chỉ có một mình là độc quyền thánh hiền, hay hiểu danh nhân này danh nhân nọ?! Và mỗi sách đem ra tham khảo, chúng ta lại cứ nhất định rằng, chỉ có họ là đúng! Vấn đề chân lý – chân lý viết thường, không viết hoa – đặt làm sao cho chính xác – để cho một đời sau, hai đời sau, ngàn đời sau… khỏi bị lừa gạt! Thực ra, nói cho xác cho đúng, chỉ có riêng cá nhân thánh hiền là tự mình hiểu chính mình: họ chết rồi, đời sau, cái kính vạn hoa chiếu vào, ai có kính màu của người nấy… Và thực chất của chân lý thật là mù mù mịt mịt – vì nhà triết học và nhà khoa học chưa gặp nhau…

Einstein đứng chứng kiến một việc xảy ra: một người thợ đương làm việc ngoài công trường ngã từ trên cao xuống đất… Nhà thông thái đãng trí của chúng ta quên mất số phận của người công nhân, chẳng tìm hiểu coi người thợ có què có gãy hay không, chỉ tự hỏi mình: “Ủa, người thợ ngã từ trên cao xuống đất, hay là cái nhà từ dưới thấp bay lên cao… gặp người thợ?” (Nguyên văn: est ce le couvreur qui tombe ou la maison qui monte?). Ông đương tìm một định lý vật lý đấy! Nhưng như vậy là ông làm một việc đúng hay sai? Nếu định lý ngược định lý thông thường là định lý đúng… thì rồi mới làm sao đây? Chỉ có những nhà thông thái cỡ Einstein, Oppenheimer, Pontecorvo… mới rõ! Nhưng ít nhất cử chỉ của ông Einstein đã làm chúng ta ngờ – ngờ về hướng chân lý, bản chất chân lý… Một định lý vật lý có khác định lý triết học không, khác thì khác ra sao, đến trình độ nào…? Nhà khoa học đưa ra một định đề (postulat) rồi sẽ chứng nghiệm sau để chứng minh giá trị chân lý của định đề. Còn thầy Mạnh Tử chỉ nghiệm một cách phiến diện về một vài sự kiện rồi đưa ra định đề tính bản thiện – đến bây giờ vẫn chưa có ai chứng nghiệm một cách khoa học cái lý tuyệt đối của nó. Thầy Tuân Tử lại làm ngược lại và đưa ra một định đề ngược – cho đến bây giờ cũng mới chỉ có Lý Tư, Thương Ưởng ngày xưa… là chứng nghiệm mà kết quả cũng chỉ có máu và nước mắt chan hòa… Trừ Thiên Chúa giáo phải viện thế lực một đấng tối cao là Thượng Đế, chỉ có Phật giáo về nói vô ký tính của bản thể thường tịch, là hợp lý – chuyện siêu cực hóa (extrapolation), dù là trên bình diện tính chất của bản thể, chỉ là một chuyện còn để đấy, gác đấy…

Nói vậy, nói như tôi nói, thì rồi có bạn sẽ hỏi rằng nếu cứ ngờ vực bản chất của chân lý thánh hiền đã vạch ra, thì rồi tìm tiêu chuẩn ở đâu, và lấy gì làm tiêu chuẩn cho mọi hướng lập luận trong ý tưởng giới. Bao nhiêu thế hệ trí thức đến sau cần phải có bao nhiêu gia tài trí thức ấy để soi hướng tiến hóa đấy chứ! Thật ra, tôi tưởng cá nhân chỉ còn trông ở lẽ hợp lý hay phi lý – bắt nguồn từ sự sáng suốt của chính mình, phát sinh từ cái dung tích thông minh của chính mình cho phép mình phân biệt: mặt trận ý tưởng và trí thức đã sai biệt đến cực độ rồi. Lạc vào ý tưởng giới trí thức như lạc vào trận mê hồn: Làm sao ra? Sự nghi ngờ ngày nay chỉ là sản phẩm của những biến động lớn của lịch sử: hai trận thế chiến, mười năm quốc xã của Hitler, mười năm quân phiệt đại Đông Á, những trại tập trung Dachau, Buchenwald…, những lò “four crématoire” thiêu bao nhiêu triệu con người… đã làm cho con người hết tin tưởng rồi! Tin vào Thượng Đế thì Thượng Đế lãnh đạm, mà bỏ Thượng Đế thì cũng đến bơ vơ… dựa vào lịch sử – là quá khứ – tìm ở những giá trị truyền thống thì những giá trị đã tan vỡ, đồng thời thánh hiền không có mặt: mạnh ai nấy giải thích thánh hiền, mạnh ai nấy chiếm độc quyền tư tưởng vậy!

Chỉ còn một cách. Về phương diện những người ngày nay lập ngôn thì họ không được phép tự mình mâu thuẫn với mình để cho người trẻ tuổi biết đường mà dò, biết đường mà hướng, mà suy luận. Còn về phương diện những người khảo luận và san định mọi thành tố gia tài trí thức tiền nhân – kể cả danh nhân hiện đại – thì họ không được phép sai – chỉ được phép lầm.

Trừ phi là chúng ta loài người ngày nay còn có… quyền hy vọng: hy vọng rằng một ngày kia nhà khoa học và nhà triết học gặp nhau ở một cái “chất”bất nhị nào đó – vạch hẳn một hướng luân lý duy nhất cho cả loài người. Lúc ấy là lúc hai thực thể vật chất và tinh thần mà thường ngày thiên hạ vẫn cho là một cái thì cụ thể, một cái là trừu tượng… và hai thực thể “chủ” và “khách” hòa vào nhau biến thành một. Một. Một viết hoa: điểm cuối cùng của “hành trình” của bản thể thường tịch.

Chỉ có một điều đáng sợ: khoa học thì đi nhanh vùn vụt mà tốc lực của luân lý thì chậm. Khoa học gia thì đã đến nguyên tử lực rồi mà luân lý gia thì vẫn còn lẹt đẹt lại sao?

Một ngày kia triết gia theo kịp được nhà khoa học thì loài người đã tự sát mất rồi – mà sở dĩ tự sát – ôi khôi hài – cũng chỉ vì chính kết quả của khoa học: thuyết tương đối và nguyên tử lực chẳng phải làm điểm cao nhất (tuyệt đối chưa?) của khoa học vật lý toán học hay sao? Loài người tự sát và sẽ lôi cuốn luôn vào cõi chết nhà khoa học: lịch sử thường cho chúng ta thấy người nào phát minh chiến khí để giết và triệt lẽ hiếu sinh của trời đất sẽ bị chiến khí ấy quật lại mình trước – những ai đã quên chuyện khu vực Pennemde và chuyện chàng Guilotine?

Triết gia và luân lý gia, nếu có còn sống sót, sẽ “mồ côi’”: ở đời chẳng ai chỉ đơn thương độc mã mà lại làm nên chuyện lớn bao giờ… Và con người ta thông minh lắm: cái gì rồi cũng tò mò biết được hết, làm được hết – kể cả đằng vân giá vũ, rắc đậu thành binh – duy chỉ có một điều nhất định không biết: ấy là chuyện sau cái ngày bom khinh khí làm cho trái đất thành bãi… tha ma, con người còn không, nếu còn thì còn ai, còn bao nhiêu mạng – hay là không có thể có gì mọc lên được trên mặt đất nữa và lẽ hiếu sinh tuyệt diệt một lần cuối cùng!

Trong toàn diện gia tài trí thức tiền nhân để lại cho loài người khai thác, cái tế vi cái gì cực diệu cũng đều đã có một tác giả nào tiên liệu – kể cả Jules Verne và các tác giả các sách “phong thần” – riêng có cái điều vừa ghê gớm vừa mầu nhiệm ấy – ôi mầu nhiệm – thắp đuốc mà tìm cũng không thấy dấu vết của một dự liệu (anticipation) nào của một lời… tiên tri nào!

Nguồn: Lá Bối xuất bản lần thứ nhất, in tại nhà in Đăng Quang, 734a Phan Thanh Giản – Sài Gòn. Giấy phép số 481 TBTTCH/BC3/XB Sài Gòn ngày 22 tháng 2 năm 1967, ngoài những bản thường in thêm 100 bản đẹp dành riêng cho tác giả, nhà xuất bản và thân hữu. Thư từ, liên lạc về Nxb xin gửi cho Từ Mẫn, bưu điện xin đề tên cô Cao Ngọc Thanh. Giá 120 đồng. Bản điện tử do talawas thực hiện.

Leave a Reply