Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại


Nguyễn Đăng Điệp

DẪN NHẬP

Từ khi coi Eva được sinh ra từ cái xương sườn của Adam, mặc nhiên, vai trò của nữ giới bị coi là vai trò lệ thuộc và bị chi phối bởi nam quyền. Hơn thế, với hành vi dụ dỗ Adam ăn trộm táo thần, Eva đã trở thành nguồn gốc sinh ra tội lỗi. Như vậy, trong cái nhìn lịch sử, nhất là từ khi hệ thống văn tự được xác lập, phái nam gần như giữ vai trò thống trị tuyệt đối. Không phải ngẫu nhiên mà man vừa có nghĩa là nam vừa có nghĩa là nhân loại trong khi đó woman mang tính chỉ giới rõ nét (nữ được sinh ra từ nam). Tuy nhiên, trước khi điều này chính thức được thừa nhận, loài người đã bắt đầu lịch sử của mình bằng chế độ mẫu quyền (mẫu hệ). Trong nhiều từ điển, cửa mình được hiểu như là nguồn gốc của sự sống. Nhưng sự sống ấy lại được khởi nguồn từ sự gieo giống và điều này, không còn cách nào khác, phải trông chờ vào đàn ông. Cùng với thời gian, đàn ông, với ưu thế sức mạnh cơ bắp và là người tạo ra thu nhập kinh tế nhiều hơn đã trở thành “kẻ mạnh”.

Trong sử thi Iliat của Homer, phụ nữ và nô lệ là phần thưởng cho kẻ thắng trận. Tuy nhiên, về mặt sinh học, trong ba tuần đầu, thai nhi  có hình thức của một bé gái, các tuần lễ sau đó mới bắt đầu hình thành giới, phân chia thành trai và gái. Ở phương Đông, trong khi một số nước Hồi giáo quy định phụ nữ ra đường phải che mặt thì ở một số nước khác, nước tục thờ Mẫu khá phát triển và nhiều khi, tay hòm chìa khoá được trao cho phụ nữ (hệ quả: “Lệnh ông không bằng cồng bà”). Nói thế để thấy rằng, vấn đề giới tính là một vấn đề phức tạp. Nó gắn liền với ý thức hệ, chính trị, tôn giáo, được thể hiện rõ nét qua ngôn ngữ và văn học. Cuộc chiến đấu/ nổi loạn để giành lại vị thế đã mất của nữ giới vốn âm ỉ rất lâu trong lịch sử đã dần phát triển mạnh mẽ với tên gọi là nữ quyền luận/ chủ nghĩa nữ quyền (feminism). Phong trào này xuất phát từ ý thức về bản thân mình của giới nữ, được manh nha vào thời kỳ Khai sáng và bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XIX đến nay(1). Vào năm 1949, nữ văn sĩ Pháp Simon de Beauvoir cho xuất bản Giới tính thứ hai (The second sex). Đây là công trình có ý nghiã hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa nữ quyền trong đời sống xã hội hiện đại nói chung và trong văn học nói riêng. Khi bàn về giới tính thứ hai (đàn bà), tác giả muốn tạo ra sự bình đẳng trong việc so sánh nó với giới tính thứ nhất (đàn ông). Khoảng mười năm sau, cùng với những thay đổi lớn lao trong đời sống tư tưởng của nhân loại, Phê bình nữ quyền (Feminist criticism), với tư cách là một trường phái phê bình chính trị, xã hội đã phát triển hết sức mạnh mẽ. Thậm chí, trong giai đoạn hiện nay, phê bình nữ quyền mở rộng, chia thành nhiều nhánh và mang nhiều sắc thái hết sức khác nhau. Gắn liền với những đổi thay to lớn ấy, âm hưởng nữ quyền đã ngấm sâu vào văn học, tạo thành một tiếng nói, một bản sắc độc đáo trong văn học hiện đại và hậu hiện đại(2).

Ý THỨC VỀ PHÁI TÍNH TRONG VĂN HỌC VỆT NAM

Có thể nói, tôn ti trật tự và thái độ trọng nam khinh nữ từ chỗ là một vấn đề lớn trong đời sống xã hội đã chuyển dịch vào lãnh địa sáng tạo và thưởng thức văn học cũng như nhiều hoạt động tinh thần khác (chẳng hạn, linh mục chưa bao giờ là đàn bà). Về phía sáng tạo văn học, công việc này cũng được coi là đặc quyền của đàn ông. Bản thân cây bút (pen), ngoài hình dáng giống với sinh thực khí của đàn ông thì về mặt từ nguyên, nó cũng rất gần với penis (dương vật). S. Gubar đã đưa ra một liên tưởng: cây bút chạy trên những từ giấy trắng cũng giống như dương vật đang cày trên những màng trinh thiếu nữ. Đặc quyền của đàn ông trong việc tạo nên những giá trị tinh thần còn được giải thích từ chỗ xem xét những đặc tính riêng biệt về thể chất của từng phái. Chính sự khác biệt trong cấu trúc não bộ và cơ thể của từng giới khiến cho nam – nữ nhìn nhận thế giới và lý giải thế giới bằng con mắt và đặc tính của giới mình. Nếu ở phương Tây, ngự trị trên đỉnh Olempo là thần Zot thì ở phương Đông, các vị thần Tối cao cũng gắn với đàn ông. Vị thế kẻ mạnh của đàn ông còn thể hiện ở khâu tiếp nhận văn học. Những cuộc thù tạc, đàm đạo văn chương chỉ diễn ra giữa những người đàn ông với nhau, nó không có chỗ cho “nữ nhi thường tình”.. …Văn hoá Khổng giáo (tiêu biểu là Trung Hoa và Việt Nam) cũng đặc biệt chú trọng đến vai trò áp chế của đàn ông so với đàn bà (Xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử). Tư tưởng “trọng nam” vẫn còn ảnh hưởng đến tận ngày nay khiến cho cấu trúc dân số bị nghiêng lệch trầm trọng ở một số nước, nhất là các nước phương Đông(3).

Vai trò thống trị của đàn ông, ngoài sự ủng hộ tuyệt đối của thiết chế xã hội, còn trở thành một nét tâm lí phổ biến kéo dài từ thời này qua thời khác(4). Trong dân gian người Việt, đàn ông bao giờ cũng giữ tư cách kẻ chinh phục (khi ý nhị thì: Bây giờ mận mới hỏi đào – Vườn hồng đã có lối vào hay chưa?…khi táo tợn thì: Gặp đây anh nắm cổ tay – Anh hỏi câu này có lấy anh không?). Thậm chí, thế chủ động được nói đến một cách công nhiên, không kiêng kị mà còn “hiên ngang”: Sáng trăng vằng vặc…Trong bài thơ này, sinh thực khí của đàn ông chẳng khác gì cây cung, còn hình ảnh vịt trời (đối tượng bị bắn, đại diện cho nữ). Hơn nữa, bộ dạng “vác”  vừa nói được uy thế vừa nói tư thế của anh chàng. Một bộ dạng thật nghênh ngang trong thế giới “của mình”. Đó là chưa nói, sinh thực khí đàn ông được gọi tên trực tiếp, âm trắc, gợi lên sự mạnh mẽ, cường tráng. Như vậy, cho dù là tiếng nói hồn nhiên nhất, ít bị áp chế bởi tính quy phạm nhất, văn học dân gian vẫn xác nhận vai trò kẻ mạnh của đàn ông so với đàn bà(5).

 

Cùng một tác giả trên PBVH:

*Hàn Mặc Tử và mỹ học của khát vọng

*Đổi mới thơ Việt Nam đương đại nhìn từ trường hợp Nguyễn Quang Thiều *

*Buồn vui phê bình văn học hôm nay

*Đặng Thân – “điển hình của văn học hậu-Đổi mới”

Trong văn học trung đại, về cơ bản giới cầm bút vẫn thuộc về đàn ông. Thực ra, trong vòng cương toả của tư tưởng nam quyền, đã bắt đầu xuất hiện những tài danh văn học là nữ giới như Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan và đặc biệt là Hồ Xuân Hương. Mặc dù giàu tinh thần nổi loạn và phản kháng, nhưng những khúc tự tình của nữ sĩ họ Hồ vẫn chủ yếu là những tiếng than thân trách phận. Đó là lí do khiến Bà Chúa thơ Nôm phải ao ước: Ví đây đổi phận làm trai được- Sự nghiệp anh hùng há bây nhiêu. Câu thơ này ẩn trong đó một trạng thái tâm lý không chỉ riêng của Hồ Xuân Hương mà là của giới nữ: muốn nên sự nghiệp, phải đổi phận. Song mong ước kia, một mặt cho thấy sự đổi phận ấy dường như là bất khả trong thực tế, mặt khác, gián tiếp xác nhận vị thế ưu thắng của đàn ông.

Phải bước sang xã hội hiện đại, khi dân trí được nâng cao, phụ nữ bắt đầu được đi học, được tự do bầu cử, tầng lớp công chức đã có sự tham gia của phụ nữ thì cán cân công bằng về giới mới bắt đầu được hiện thực hoá. Giờ đây, phụ nữ có quyền li hôn chính đáng và được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, quá trình ấy không phải lúc nào cũng diễn ra thuận lợi và nhanh chóng mà phải trải qua rất nhiều quanh co, sóng gió.

Vào những năm đầu thế kỷ XX, do ảnh hưởng của làn sóng tân thư, một số người như Đạm Phương, Sương Nguyệt Ánh…đã bắt đầu bàn đến vai trò của phụ nữ. Ngay cả ông Tú Phan Khôi cũng nhiều lần đòi sự bình quyền, kêu gọi phụ nữ phải có vị trí xứng đáng hơn trong gia đình và xã hội. Một số tác phẩm của Tự lực văn đoàn đã nói nhiều hơn về phụ nữ trong quá trình tự giải phóng thông qua các hình ảnh “gái mới”. Vẻ đẹp thể chất và những khát khao thân xác cũng bắt đầu được các nhà văn lãng mạn chú ý miêu tả. Khác với các nhà văn Tự lực văn đoàn, các cây bút hiện thực phê phán lại chú ý nhiều hơn đến khía cạnh đấu tranh xã hội. Nhân vật nữ thường là những nạn nhân thê thảm, hậu quả sự nghèo đói và dốt nát. Họ hoặc là bị dụ dỗ để hãm hiếp (Thị Mịch- Giông tố), bị đẩy vào thế cùng quẫn và suýt bị làm nhục (chị Dậu- Tắt đèn), hoặc sống trong cảnh chịu ơn“con chó trung thành với chủ nuôi”(Từ – Đời thừa). Trong xã hội ấy, đàn ông cũng khổ nhưng đàn bà còn khốn nạn hơn nhiều. Hình ảnh những kẻ thống trị chủ yếu vẫn chủ yếu là khuôn mặt đàn ông (Nghị Hách, Nghị Quế, Bá Kiến…, thậm chí nguyên nhân sâu xa gây nên sự khốn khổ vẫn là một ông Tây nào đó). Tuy nhiên, vì coi trọng việc thể hiện xung đột giai cấp nên nhìn chung, trong văn học hiện thực phê phán, các nhà văn tập trung miêu tả sự tha hóa và méo mó của nhân cách nhiều hơn là vấn đề phái tính.

Vai trò của phụ nữ đặc biệt được đề cao trong chính thể mới sau 1945 với sự ra đời của Hội phụ nữ Việt Nam. Đó là tiền đề văn hoá và xã hội thuận lợi để “văn học nữ tính” có cơ hội phát triển. So với trước đây, đội ngũ các nhà văn nữ cầm bút đông đảo hơn và tài năng của họ được thừa nhận rộng rãi hơn. Nhiều tác phẩm của họ có ảnh hưởng đến công chúng và được giảng dạy trong nhà trường từ phổ thông đến đại học. Những thay đổi trên đây trong lĩnh vực văn học thể hiện sự thay đổi rất lớn về ý thức phái tính và thái độ đề cao vai trò của nữ giới. Trong nhiều tác phẩm, người phụ nữ được hình dung như những anh hùng tiêu biểu cho vẻ đẹp của thời đại như chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng- Nguyễn Thi), chị Sứ (Hòn đất- Anh Đức), Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng- Nguyễn Minh Châu), chị Trần Thị Lý (Người con gái Việt Nam- Tố Hữu)… Tuy nhiên, do yêu cầu của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, đời sống tinh thần của nữ giới mới được khai thác nhiều ở khiá cạnh xã hội mà chưa được chú ý nhiều đến  đặc trưng về giới. Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền chủ yếu nằm trong hệ tư tưởng chung của thời đại chứ chưa trở thành mối quan tâm thực sự của nhà văn với tư cách là người thiết tạo nên những tư tưởng nghệ thuật riêng của chính mình.

ÂM HƯỞNG NỮ QUYỀN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

Sự phát triển mạnh mẽ của đất nước và những nỗ lực tạo nên sự bình đẳng về giới kể từ 1986 đến nay đã tạo nên những tiền đề cơ bản để giúp người đàn bà thoát khỏi sự áp chế của đàn ông, khiến cho họ có khả năng tồn tại độc lập và có khả năng tự quyết số phận của mình. Người đàn bà không còn quanh quẩn nơi xó bếp mà đã tham gia nhiều hơn vào các hoạt động xã hội. Nhiều phụ nữ được cử giữ những chức vụ cao trong hệ thống chính trị. Nhưng quan trọng hơn, ý thức về giới một cách tự giác đã ăn sâu vào tâm thức của đội ngũ cầm bút và tạo nên âm hưởng nữ quyền trong văn học. Âm hưởng nữ quyền mà chúng tôi đề cập đến trong bài viết này liên quan đến cái gọi là “văn học nữ tính” mà nhiều người từng nói đến. Ở đây, xin lưu ý một phân biệt mà chúng tôi có lần đã nói thoáng qua trong phần đầu bài viết: mặc dù hình tượng người phụ nữ vốn xuất hiện từ lâu trong văn học nhưng toàn bộ phẩm chất, giá trị cũng như đời sống tinh thần và thể xác của họ luôn được nhìn bằng đôi mắt của nam quyền. Chỉ khi nào, các vấn đề trên đây thoát khỏi hệ quy chiếu giá trị và quan điểm nam quyền thì văn học nữ tính mới xuất hiện đầy đủ với đúng nghĩa của nó. Như vậy, văn học nữ tính chỉ có thể xuất hiện trong điều kiện xã hội đạt đến một trình độ dân chủ thực sự. Nội hàm văn học nữ tính, theo xác định của nhà nghiên cứu Lưu Tư Khiêm, bao gồm: “tinh thần nhân văn hiện đại, lấy nữ tính làm chủ thể ngôn từ, chủ thể trải nghiệm, chủ thể tư duy, chủ thể thẩm mỹ” (6). Theo nhiều nhà nghiên cứu thì văn học nữ tính Trung Quốc bắt đầu từ phong trào Ngũ Tứ và đặc biệt phát triển mạnh vào thập kỷ 90 của thế kỷ trước(7). Ở Việt Nam, văn học sau 1986 cũng chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của văn học nữ tính đến mức có người cho rằng đây là thời kì “âm thịnh dương suy” với sự góp mặt của những cây bút có thực tài như Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ… và gần đây là Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Thị Ngọc Tư… Những cây bút này đã đem đến cho văn đàn những tiếng nói mới mẻ, buộc các nhà văn và các nhà phê bình nam giới phải thừa nhận tài năng cuả họ. Đó là chưa kể đến việc nhiều nhà văn nam giới cũng lên tiếng ủng hộ sự bình đẳng giới và thừa nhận nữ giới là chủ thể tư duy, chủ thể trải nghiệm và chủ thể thẩm mĩ thông qua những tác phẩm xuất sắc của họ. Sự xuất hiện và mở rộng âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại, theo ý tôi, xuất phát  từ ba nguyên nhân cơ bản: Thứ nhất, sự thay đổi tư duy và sự mở rộng của tinh thần dân chủ xã hội khiến cho nữ giới có điều kiện tự do cất cao tiếng nói của mình với tư cách là chủ thể độc lập; Thứ hai, bản thân nữ giới đã có những thay đổi lớn về nhận thức, học vấn, điều kiện tự chủ kinh tế, khả năng am hiểu luật pháp…, tức là có đủ các yếu tố để trở thành một chủ thể độc lập, thoát khỏi trình trạng bị “nó, anh ấy, ông ấy hoá”; Thứ ba, cấu trúc sinh học cũng như sự nhạy cảm và  mối quan tâm của nữ giới có nhiều điểm gặp gỡ với nhịp sống thời hiện đại(8). Trong nhiều lĩnh vực, có những vị trí phụ nữ có thể làm tốt hơn nam giới. Phụ nữ cũng có khả năng giải toả stress tốt hơn đàn ông(9). Vậy thì âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại được bộc lộ qua những phương diện cơ bản nào? Theo tôi, cần lưu ý đến  mấy dấu hiệu cơ bản sau: a- ngôn ngữ trong tác phẩm của các cây bút nữ quyết liệt, mạnh mẽ không kém gì nam giới, thậm chí, nhiều cây bút có ý thức gây hấn và gây shock bằng sức mạnh của ngôn từ. Trước đây, người đọc chỉ quen nhìn thấy trong sáng tác của các nhà văn nữ sự dịu dàng, thơ mộng, nhưng giờ đây, nhiều nhà văn nữ cố gắng tạo ra thứ ngôn ngữ góc cạnh, đầy cá tính. Điều đó xuất phát từ ý thức: ngôn ngữ trong tác phẩm của họ là thứ ngôn ngữ thể hiện chính xác nhất những trải nghiệm cá nhân giới nữ trong nhiều mối quan hệ khác nhau; b- không ít cây bút nữ công khai xét lại lịch sử và các điển phạm nghệ thuật bằng cái nhìn riêng của cá nhân và giới nữ mà không ngán/ ngại vấp phải sự phản ứng của người đọc; c- công khai bày tỏ thái độ chống lại sự lệ thuộc vào thế giới đàn ông và dám xông vào các đề tài cấm kị một cách tự do, nhất là đề tài tình dục. Tại đây, không phải lúc nào đàn bà cũng chỉ là trò chơi và nô lệ tình dục cho đàn ông mà nhiều khi, quyền chủ động thuộc về nữ giới. Với họ, tình dục là một phương diện thể hiện rõ nhất sự tự do bản ngã. Thậm chí, đã bắt đầu manh nha lối “viết bằng thân thể”, dùng ngôn ngữ để biểu hiện nhịp điệu của suy nghĩ; d- tuy quyết liệt, mạnh mẽ nhưng hơi ấm nữ tính trong nhiều trường hợp vẫn được “bảo lưu một cách vô thức” đã tạo hương vị riêng cho tác phẩm của các nhà văn nữ. Điều này thể hiện ở chỗ các nhà văn nữ thường miêu tả những vấn đề gần gũi với bản thân, những câu chuyện của họ không xa vời to tát mà gắn với đời sống thường nhật, hơi văn giàu cảm xúc. Có lẽ hơi ấm nữ tính này xuất phát từ  cấu trúc não bộ và nhịp sinh học của nữ giới.

Sự hình thành của văn học nữ tính và sự xuất hiện mạnh mẽ của âm hưởng nữ quyền trong văn học minh chứng cho tính dân chủ của thời đại ngày nay. Thậm chí, có khi nhà văn còn mạnh dạn soi rọi tinh thần dân chủ ấy vào lịch sử để xây dựng một cái nhìn mới, thể hiện một thái độ hưởng thụ lịch sử mới. Nhiều nhân vật nữ trong Giàn thiêu của Võ Thị Hảo hoặc trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ… là một minh chứng sống động. Tuy nhiên, việc đề cao phụ nữ và nỗ lực nhấn mạnh bản ngã của giới nữ không phải không có lúc rơi vào quá đà. Nó rất dễ dẫn tới hội chứng ghét nam (thay vì hội chứng ghét nữ đã từng tồn tại một thời gian dài trong lịch sử). Khi nói về các nhà văn nữ Trung Quốc đương đại, có người đã đưa ra một nhận định rất đáng để các nhà văn chúng ta suy ngẫm: “Viết văn có thể viết theo kiểu nghiêm túc, sâu sắc; cũng có thể dùng ngòi bút lãng mạn, u nhã nhưng không nên thô lỗ, bẩn thỉu. Đồng thời cũng cần thấy rằng, một số người nữ viết văn đã đi vào một ngõ cụt khác: công kích nam tính một cách qua sđáng, hoặc một mình thổi phồng ưu thế tính biệt của nữ giới khiến cho con đường của những người nữ viết văn ngày càng thu hẹp”(10). Rõ ràng, để tạo nên những tác phẩm văn học thực sự có giá trị, chỉ có cảm xúc và sự thôi thúc của nội tâm thì chưa đủ, nó cần đến những suy tư sâu sắc và tỉnh táo mang tính triết học.

NHỮNG KHOẢNG TRỐNG CỦA VẤN ĐỀ

Vấn đề phái tính và văn học nữ tính đến nay vẫn chưa được giới học thuật nước ta quan tâm nhiều mặc dù trong ý thức, chúng ta đều hiểu đây là một vấn đề quan trọng của đời sống hiện đại. Đồng thời, nó cho thấy, bên cạnh những bộ môn khoa học nghiên cứu những vấn đề bản thể văn chương, vẫn tồn tại những khuynh hướng phê bình chính trị, xã hội. Sự hiện diện của văn học nữ tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam có thể coi là một bước phát triển thực sự của văn học theo hướng dân chủ hoá. Tuy nhiên, trong khi trình bày bản ngã và sự chân thực của nữ giới hiện đại, cần tránh sự cự đoan. Không vì thái độ phủ nhận sự áp chế của tư tưởng nam quyền mà rơi vào tình trạng chỉ biết chống đối và rơi vào hội chứng ghét/ thờ ơ với nam giới (11). Trong quá trình khẳng định bản ngã của nữ giới, nhà văn có thể miêu tả những khoái cảm tình dục nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc coi giải phóng tình dục là con đường duy nhất để giải phóng cá nhân. Cần phải nhìn tình dục vừa như một hoạt động bản năng vừa có ý nghĩa văn hoá. Bởi thế, trong văn học, sex phải hiện lên như một yếu tố văn hoá và nhà văn có thể thông qua sex để biểu đạt những vấn đề nhân sinh một cách có nghệ thuật. Trong môi trường xã hội hiện đại (và hậu hiện đại), cũng cần có sự tỉnh táo nhất định khi nhìn nhận những vấn đề giới, nhất là ở những cây bút trẻ. Tập Truyện ngắn 8X (xuất bản năm 2006) cho thấy rất rõ trạng thái cô đơn và nổi loạn của giới trẻ hiện nay. Thậm chí, sự nổi loạn ở các “cô chiêu” nhiều khi trội hơn so với các “cậu ấm”. Một số nhà văn nữ khẳng định sáng tác của họ chịu ảnh hưởng của nhiều nhà văn nước ngoài, đặc biệt là những cây bút nữ đang nổi danh trên văn đàn Trung Quốc đương đại như Thiết Ngưng, Vệ Tuệ, Miên Miên…Tuy nhiên, xã hội tiêu dùng hiện nay một mặt tạo nên sự thuận lợi trong quá trình lưu thông sản phẩm và tư tưởng văn hoá nhưng mặt khác rất dễ dẫn nhà văn rơi vào ảo tưởng, chỉ lo quảng cáo cái tôi cá nhân với những tuyên bố đao to búa lớn, chạy theo thời thường nghệ thuật và tự lặp lại mình. Khát vọng bình đẳng giới, vì thế, không đồng nghĩa với việc đòi hỏi thay đổi chức năng giới tính mà nhằm tạo một môi trường thuận lợi nhất để các giới thực hiện tốt nhất thiên chức của giới mình theo tinh thần hiện đại. Vậy nên, điều quan trọng để hình thành một nền văn học nữ tính thực sự là phải xây dựng được một thứ  “văn học con người” siêu giới tính, có giới tính, nhưng không chỉ có giới tính, là văn học thoát thân từ “giàn hợp xướng đa thanh sắc”, bị che lấp song trùng của ngôn ngữ quyền lực và ngôn ngữ nam tính, thuộc văn hoá cá nhân hoá từ kết cấu đa nguyên hoá, là văn học thần thoại, từ bỏ việc “đi tìm đàn ông”, từ bỏ chỉ đơn thuần, duy nhất phê phán, lên án từ góc nhìn nam quyền, lấy việc xem xét lập trường giá trị con người bình đẳng, nhìn thẳng phản tỉnh nam giới và nữ giới, nhận xét và phản tỉnh vận mệnh của nam giới và nữ giới và thực trạng sinh tồn của họ, tích cực xây dựng chủ thể nam tính và nữ tính”(12).Tôi nghĩ, những đề xuất trên đây có thể coi là những gợi ý quan trọng để chúng ta tiếp tục tìm hiểu và xây dựng một nền văn học nữ tính phát triển mạnh mẽ, mang tinh thần nhân văn sâu sắc ở Việt Nam.

Đời sống văn học nước ta hiện nay đòi hỏi cần có những công trình khoa học dài hơi và công phu hơn về vấn đề giới tính và văn học nữ tính. Trở lên chỉ là những suy nghĩ ban đầu của chúng tôi về vấn đề thú vị, nhiều hứa hẹn này.

Chú thích:

(1) Lịch sử còn ghi lại, vào tháng 10 năm 1789, một nhóm phụ nữ Paris đã xông vào trụ sở Quốc dân đại hội đòi quyền bình đẳng nam- nữ. Năm 1790, nữ kịch gia người Pháp O. de Coarges đã đưa ra Tuyên ngôn quyền lợi của phụ nữ gồm 17 điều (Dẫn theo Phương Lựu: Lý luận phê bình văn học phưng Tây thế kỷ XX, Nxb văn học, H.2001, trang 599- 600). Về chủ nghĩa nữ quyền, có thể tham khảo thêm mục Feminism, nguồn: En. Wikipedia. org

(3) Thật ngạc nhiên là trong một số cuộc điều tra gần đây, khi hỏi về nguyện vọng sinh con trai hay con gái, số bà vợ muốn đẻ con trai nhiều hơn hẳn so với các ông chồng. Có lẽ, các bà vợ này muốn hoàn thành nhiệm vụ giúp nhà chồng có kẻ “nối dõi tông đường” và bị thoát khỏi tâm lý “ đồ không biết đẻ”. Mượn cách nói của G. Jung, uy quyền của đàn ông qua chiều dài lịch sử đã ngấm sâu đến mức biến thành “vô thức tập thể”.

(4) Tôn ti trật tự xã hội được thể hiện ngay trong cả bữa ăn. Nguyễn Huy Thiệp đã miêu tả rất tài vấn đề này bằng chất giọng hài hước, giễu nhại: “Gia đình Lâm đón tôi rất chân tình. Chị Hiên dọn hai mâm cơm. Mâm bưng lên hè dành cho hai bố con Lâm và tôi. Mâm bày ở sân dành cho bà Lâm, mẹ Lâm, chị Hiên, cái Khanh và thằng Tiến. Canh cua nấu rau dút, cà pháo, tôm rang…Mâm của chúng tôi thêm vài củ lạc và hai quả ổi xanh cho bố Lâm uống rượu.

Chị Hiên mời: “Các cụ xơi tự nhiên”. Thằng Tiến đòi: “Cho em làm các cụ với!.” Mẹ Lâm gạt đi:” Hỗn nào! Chim bằng quả ớt thế thì làm các cụ ra sao?” Cái Khanh bụm miệng cười. Tôi đỏ mặt. Bà Lâm thở dài: “Các cụ toàn chimto…” Mọi người cười lăn, chỉ có bố Lâm không cười”. (Những bài học nông thôn). Đoạn văn ngắn này có bốn điểm đáng chú ý: a- về vị trí:  đàn ông được quyền ngồi mâm trên, đàn bà ngồi mâm dưới( đàn bà= trẻ con); b- mâm đàn ông thêm lạc, ổi , rượu (hơn mâm nữ giới); c- đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt: sự phát triển đầy đủ của sinh thực khí đàn ông; d- thái độ: bà Lâm thở dài (chấp nhận thực tế dù biết rằng nó bất hợp lí), bố Lâm không nói (thực tế ấy đã an bài).

(5) Trong chuyến đi công tác tại Nghệ An, tôi được nghe trực tiếp một nhóm nông dân đọc cho nghe câu ca dao (có lẽ là ca dao hiện đại): Đánh vợ thì đánh sáng mai- Đừng đánh buổi tối chẳng ai cho nằm. Trong câu này, thế thượng phong vẫn thuộc về đàn ông qua biểu hiện uy quyền: đánh vợ. Thực ra bà vợ cũng có quyền tương đối (không cho nằm). Nhưng nếu các ông rút kinh nghiệm( không đánh vợ vào buổi tối mà chuyển sang buổi sáng ) thì chắc chắn,  mọi chuyện lại đâu sẽ vào đó.

(6) Xem Lưu Tư Khiêm: Văn học nữ tính, Phan Trọng Hậu lược dịch, Báo Văn nghệ số 42, ngày 14.1.2006. Trong bài viết này, sau khi điểm lại ba loại ý kiến về văn học nữ tính, tỏc giả khẳng định văn học nữ tính lấy chủ thể nữ tính làm nội hàm cơ bản.

(7) Giới nghiên cứu văn học Trung Quốc cho rằng, kể từ khi lý luận phê bình văn học phương Tây và lý luận giới tính đổ bộ vào Trung Quốc những năm 80 của thế kỷ XX, đặc biệt từ sau Đại hội phụ nữ thế giới lần thứ tư được tổ chức tại Bắc Kinh năm 1995, phong trào nghiên cứu văn học nữ trở nên hết sức sôi nổi. Khái niệm văn học nữ tính mà chúng tôi sử dụng trong bài viết này là khaí niệm được nhiều học giả Trung Quốc sử dụng, mặc dù đến nay, nội hàm của khái niệm này vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất trong giới học thuật.

(8) Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ (Convention on the Elimination of All Forms Discrimination Against Women- CEDAW) được đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và phê chuẩn ngày 18.12.1979 đã có ảnh hưởng lớn đến đời sống toàn cầu. Tuy nhiên, từ lý thuyết đến thực tế bao giờ cũng là một khoảng cách rất xa. Việt Nam là nước thứ 6 ký vào công ước (ngày 29.7.1980) và là nước thứ 35 phê chuẩn công ước này (ngày 19.3.1982).

(9) Hiện đang có nguy cơ khiến các quý ông lo lắng: do cường độ làm việc cao hơn, nhịp độ sống nhanh hơn, nhiều người rơi vào tình trạng “lép giống” và bất lực. Tình trạng ấy nếu không có giải pháp kịp thời sẽ dẫn tới sự mặc cảm của giới nam về vai trò “kẻ mạnh” của mình. Xem thêm báo Tiền phong số 201, thứ tư, ngày 13.9.2006.

(10) Dẫn theo Các nhà văn nữ của “thế kỷ nàng”, Nhuệ Anh thuật từ Khoa học và văn hoá, Báo Văn nghệ, số 21 (27.5.2006)

( 11) Cần lưu ý thêm quan điểm của những người đồng tính. Họ cho rằng họ có khả năng thoả mãn nhau mà không cần đến sự có mặt (hoặc sự trợ giúp) của đàn ông. Đàn ông trở thành người “thừa”.

(12) Xem Lưu Tư Khiêm: Tlđd

Nguồn: Tham luận Hội thảo Quốc tế: “Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế” (Vietnamese Literature in the Regional and International Context of Cultural Exchanges); Viện Văn học  phối hợp với Harvard-Yenching Institute (Hoa Kỳ) tô chức ngày 3 và 4 tháng 11 năm 2006,

Leave a Reply