Vấn đề truyện ngắn hay


Tam Ích

Trong tháng 6 năm 1959, tạp chí Bách Khoa có mở một cuộc phỏng vấn các nhà văn về giá trị truyện ngắn. Trong các truyện ngắn trong văn học quốc tế và Việt Nam cận hiện đại, truyện nào hay nhất – đó là câu hỏi đặt ra của văn hữu Nguiễn Ngu Í.

Trong những câu hỏi còn có một câu về lý do thị hiếu. Thưa anh, đề cập tới lý do của thị hiếu về văn nghệ là đặt luôn cả một vấn đề văn nghệ rồi đó. Vậy xin viết thành một bức thư để nói cho hết ý; vả chăng trong bức thư, tôi được dùng giọng thân mật thường có giữa anh và tôi, để nói cho hết lời. Trong thơ, tôi không trả lời tách bạch riêng một câu hỏi nào; nhưng toàn diện bức thư sẽ chứa gần hết những ý tưởng anh đòi hỏi ở tôi. Kể ra, anh cũng đã hơi nghịch ngợm và oái oăm: hay là một chuyện, thích nhất là một chuyện khác. Nói một cách khác: hay thuộc hẳn về phạm vi nghệ thuật, còn thích nhất thuộc về thị hiếu – mà thị hiếu thì vốn là một thực thể tâm lý lôi thôi lắm, bản sắc nhiều khi rất khó quy định… Tôi nói vậy vì tôi định ví anh bạn phỏng vấn như một ông giám khảo hóm hỉnh ra một đề ỡm ờ để thử thách thí sinh…

 

Nói rằng một truyện ngắn hay là đặt luôn cả vấn đề giá trị. Mà đã nói giá trị thì tự nhiên phải dùng tĩnh từ tương đối, và dù muốn dù không, phải đặt vai trò của chủ quan người đọc sách. Chẳng hạn anh có thể cho truyện ngắn của Anne Patou (một tác giả đã chiếm một giải nhất trong kỳ thi truyện ngắn hay nhất thế giới năm 1952 và 1953) là thường, mà tôi lại cho là hay… Chẳng hạn tôi có thể cho tiểu thuyết Espoir của André Malraux là hay mà anh không thấy gì là xuất sắc. Cũng như tôi vẫn thấy có người nói rằng truyện ngắn Ba sao giữa giời của Bình Nguyên Lộc đăng trong tập Đất đứng của nhóm Quan Điểm là… rắc rối, giữa lúc tôi (tôi sẽ nói sau) cho rằng truyện ngắn đó đáng liệt vào hàng những truyện ngắn quốc tế xuất sắc.

Chẳng hạn là như vậy…

Nhưng thôi, chúng ta cũng nên cân nhắc, dung hòa, tìm ra một số nguyên tắc căn bản, có thể là trừu tượng, nhưng được thông minh con người thừa nhận, làm tiêu chuẩn cho sự lựa chọn. Xin nói thật với anh là từ xưa, tôi đã được đọc nhiều truyện ngắn Việt Nam. Loại đi một mớ không có gì là đặc biệt – và không kể những bài mà tôi không đọc, hay không có hân hạnh được đọc, tôi đã đọc nhiều bài không thể quên được.

Một số truyện ngắn của Tự Lực Văn Đoàn ngày xưa phần nhiều đã làm người ta say mê. Ấy, con người vốn phụ bạc! Sự phụ bạc đây không phải là chuyện ngược với đạo đức mà chỉ là một thực thể tâm lý nhiều lý do. Thời gian đóng một vai trò; lịch sử tiến hóa cũng đóng một vai trò… và cũng nên thêm rằng cao lương mỹ vị dùng mãi cũng làm chuyển hướng tò mò của vị giác…

Và tôi nghĩ tới truyện ngắn “Mười năm sau” (ý của Phạm Ngọc Thọ, văn của Nhất Linh) đăng trong tập Hai buổi chiều vàng của Nhất Linh… Rồi tôi nghĩ đến một số truyện trong Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân – đến truyện Hai con mắt của Mặc Đỗ đã đăng trong báo Quan điểm, có tính chất “siêu quốc gia” (cosmopolitisme) – đến vài truyện trong Thần tháp rùa của Vũ Khắc Khoan, đến truyện “Quán cháo Lú” của Lê Văn Siêu… Và nhất là tôi nghĩ đến truyện “Con thằn lằn chọn nghiệp” của Hồ Hữu Tường. Chính truyện ngắn của họ Hồ đã làm tôi ngạc nhiên. Trên phương diện học thuật, họ Hồ đối với tôi là bực đàn anh… nhưng riêng về tiểu thuyết và truyện ngắn, tôi cứ tưởng là anh không xuất sắc lắm… Vì tôi cho rằng một truyện ngắn, theo nghĩa chính của nó, phải là một nghệ phẩm, – không phải ai muốn viết thì viết, viết bừa bãi cách nào cũng được… Anh Tường đã làm cho tôi có một ấn tượng rõ ràng về anh: anh rất phong phú…

Tôi tin rằng không ai coi thường truyện ngắn: truyện ngắn – viết cho ra truyện cho có bản chất và kích thước nghệ thuật, một nghệ phẩm – không phải dễ. Alain Bosquet, một nhà văn Pháp, nói rằng truyện ngắn Mỹ (tôi cho Mỹ đã vậy thì ở đâu chẳng vậy!) là một thể văn cao đẳng (nguyên văn:genre supérieur), cũng không phải là quá đáng… Ở Mỹ chẳng hạn, Edgar Poe đã mở kỷ nguyên cho truyện ngắn; ở Tàu, từ thế kỷ thứ tám, đời nhà Đường đến Bồ Tùng Linh, văn học Trung Quốc đã lần lần hãnh diện; ở Việt Nam ta, Phạm Duy Tốn đã là một trong vài người đi trước…

Nhưng tôi nói thật với anh, truyện ngắn mới đây, – bên cạnh một số khác tôi chưa kịp thưởng thức – làm cho tôi bằng lòng là truyện Ba sao giữa giời của Bình Nguyên Lộc. Tôi không nói tới cá nhân Lộc nhiều, vì Lộc vốn là bạn anh: anh đã hiểu tác phong văn chương của Lộc… Tôi để ý tới văn của Lộc từ lâu lắm: Lộc có một lối văn gần như là độc đáo – nghĩa là có sáng tạo. Tôi chủ trương rằng văn nghệ phải có sáng tạo. Nghệ thuật không có sáng tạo là một nghệ thuật đứng một chỗ… không có sáng tạo (création), nghệ thuật sẽ lần lần mang giá trị một tài liệu hay một món đồ trang sức để ở bảo tàng viện, chờ ngày lui vào màu đen của thời gian.

Có người sẽ hỏi tôi tại sao lại cho truyện “Ba sao giữa giời” của Bình Nguyên Lộc là hay nhất và tại sao tôi thích nhất. Để trả lời, tôi xin đề cập một cách tổng quát về vấn đề giá trị nghệ thuật của một nghệ phẩm (và ở trường hợp đương bàn đây là truyện ngắn). Anh sẽ rút trong những ý tưởng của tôi những câu trả lời tiềm tàng cho sự đòi hỏi của anh.

Trước hết, tôi phải nói rằng: một truyện ngắn phải là một nghệ phẩm đã. Hay, thì nó là một nghệ phẩm; dở thì người ta không đọc, hay đọc rồi quên mất. Truyện (ngắn hay dài thì cũng vậy) của Maurice Dékobra (bán chạy lắm) không thể nào là một nghệ phẩm được nhưng La condition humaine của André Malraux, Ả Q chính truyện của Lỗ Tấn, ai ghét mặc ai, cũng vẫn là những nghệ phẩm. Bốn mươi của Mặc Đỗ trước kia chỉ là một sự thử thách của tác giả, nhưng đến Siu cô nương, cũng của Mặc Đỗ, đứng hẳn trên phương diện kỹ thuật tiểu thuyết (tôi nói lại: kỹ thuật tiểu thuyết) thì Mặc Đỗ đã gần thành công – xin bỏ ra ngoài phương diện nội dung (contenu moral) là cái phần mà mỗi độc giả tùy ở ý tưởng chủ quan của mình định giá trị, chê hay khen.

Nhưng có bạn sẽ hỏi: Vậy dựa vào đặc tính hay tiêu chuẩn nào để định rằng văn thi phẩm này là một nghệ phẩm, còn văn thi phẩm kia là không…? Đây mới là một chuyện rắc rối! Cổ kim cũng chưa có một cuốn văn phạm nào chứa những định luật, những nguyên tắc rõ ràng để theo đó mà định giá trị một nghệ phẩm (oeuvre d’art)! Luật bằng trắc chỉ dạy người ta làm những bài Bán than của Trần Khánh Dư, bài Xác pháo của Nguyễn Hữu Chỉnh, bàiDệt vải của Lê Thánh Tôn… chẳng hạn, thật không đáng có vị trí trong văn học sử Việt Nam.

Vậy thì có thể nói bừa đi rằng: “Văn phạm nghệ” phẩm là những nguyên tắc về kỹ thuật: hành văn phải thế nọ thế kia, bố cục phải thế này thế nọ,sáng tạo phải có tính chất này tính chất khác… Sự thực thì nói vậy chỉ là nói để mà… nói, không nói không được… Vậy chứ Tản Đà theo kỹ thuật nào để làm bài Tống biệt, Hemingway theo kỹ thuật nào để tả cảnh một chàng chiến sĩ bị thương nơi chân vì tạc đạn trong Adieu aux armes, Gertrude Stein, một người đã ảnh hưởng rất nhiều trong văn nghiệp Hemingway, theo một kỹ thuật nào để viết lải nhải một cách rất thú vị, rất hay, rất… “kỹ thuật”…, Lỗ Tấn theo kỹ thuật nào để viết cái văn riêng của Lỗ Tấn trong Ả Q chính truyện. (Lưu Nghi đã chịu ảnh hưởng của Lỗ Tấn và có thể gần thành công trên phương diện này trong một số truyện ngắn).

Cũng có người đòi cho được một nội dung: nội dung lành mạnh, nội dung tiến bộ… Tôi hoàn toàn đồng ý là nội dung một nghệ phẩm phải có hướng lên… Nhưng đó chỉ là chuyện tương đối. Nhiều lúc tôi bực mình vì vấn đề nội dung này lắm: chưa có những nguyên tắc nào quy định rõ ràng tiêu chuẩn của nội dung, nói thế nào là hướng lên, thế nào là hướng xuống, chưa có ranh giới nào phân biệt rõ ràng không khí lành mạnh và không khí bệnh hoạn… Mạnh ai nấy nói: người cộng sản thì nói thế này là nội dung tiến bộ; người tư bản thì nói thế kia là nội dung thoái hóa. Thiệt là rắc rối! Giữa lúc người ta đem La condition humaine của André Malraux viết đã từ hai ba chục năm lên sân khấu… thì người ta lôi Lôi vũ của Tào Ngu lên thảm xanh… đồng thời chỉ có một mình sắc luật (chuyện này xảy ra cách đây mười năm ở Nga Sô Viết) là thích cuốn La tempête của Ehrenbourg, còn cả Hội Nhà văn Nga Sô Viết cho là phản hiện thực xã hội… Trong lúc ấy thì, biệt phái nhất là Nga Sô Viết mà cũng dịch văn thi phẩm của Marcel Proust, của Dostoievsky, của Hemingway để đọc, chưng tranh Picasso để ngắm…

Vậy anh bảo tôi còn biết dựa vào tiêu chuẩn nào để thảo luận về vấn đề nội dung trong thời gian nữa – xin nói lại, trong thời gian. Không chóng mặt đã là may lắm… phải không anh?

Nhưng nói gì thì nói, tôi vẫn chủ trương rằng một văn thi phẩm (trong đó có truyện ngắn) phải là một nghệ phẩm trước đã. Nếu chỉ đòi nội dung mà thôi thì vẫn có những tờ… truyền đơn… đầy nội dung để thỏa mãn lý trí từng người, từng nhóm người, về phương diện chính trị, xã hội…! Lẽ tự nhiên, ai làm được như Ehrenbourg thì càng tốt; nhưng đã có bao nhiêu người làm được như Ehrenbourg, được cả hình thức lẫn nội dung.

Có lẽ có nhiều người phủ nhận vấn đề giá trị và tác dụng của một nghệ phẩm. Họ nói nghệ phẩm với chẳng nghệ phẩm mà làm gì! Lầm lớn! Hai chục năm xưa, ở Pháp người cộng sản công kích cuốn La condition humaine của André Malraux, cũng như công kích cuốn En un combat douteux của Jonh Steinbeck. Theo tôi thì hai cuốn tiểu thuyết đó còn có tác dụng trong tiềm thức trong vô thức, của con người, hơn bao nhiêu triệu tờ truyền đơn! Một cuốn sách hay, một truyện ngắn hay dài xuất sắc sống muôn kiếp; một vạn tờ truyền đơn chỉ sống kiếp một con phù du… Con người ta vốn hay tự dối mình, vốn hay bạc bẽo với văn nghệ đó thôi! Nói rộng ra, một cuốn phim Quo vadis có thể đã vô tình đem lại trước cây thánh giá thêm một vạn tín đồ nữa, giữa lúc một đức cha có thể nói trước một vạn công chúng như nói trong một bãi sa mạc…

Tôi tưởng nghệ thuật nên nói tiếng nói cuối cùng của nghệ thuật: văn thi nhân phải làm một nghệ phẩm trước đã:

a. Hoặc là nghệ phẩm ấy chỉ sống một thời, và gặp một điểm thời gian nào đó, hết sứ mạng lịch sử rồi, đòi vị trí của mình ở bảo tàng viện, ở thư viện, làm một luận cứ lịch sử, đánh dấu và nuôi dưỡng sự liên tục của văn hóa một dân tộc hay loài người trong thời gian…

b. Hoặc là nghệ thuật ấy đủ điều kiện về hình thức và nội dung để làm một sản phẩm có giá trị bất diệt… không bao giờ mất hình bóng trong lòng người… nhưng trường hợp Truyện Kiều của Nguyễn Du hiếm quá…! Vả lại cũng còn tùy ở bản sắc và thị hiếu của mỗi dân tộc nữa: ở Anh, một Somersset Maugham giữa thế kỷ XX vẫn làm một thứ thần tượng, trong lúc đó ở Á Đông, cách đây mười năm chẳng hạn, Tào Ngu viết Lôi vũ đã bắt đầu lên thảm xanh rồi.

Và chỉ có những sản phẩm nào thiếu giá trị về cả hai phương diện hình thức và nội dung, hay những sản phẩm nào chỉ có nội dung mà không có hình thức… mới mất vị trí trên bảng giá trị văn nghệ trong toàn diện văn học. Thứ trên không đáng cho người ta nhắc tới; thứ dưới sẽ bị những tờ truyền đơn chiếm mất… chỗ.

Tôi tưởng bây giờ anh đã hiểu rõ vì sao tôi lại cho truyện ngắn “Ba sao giữa giời” của Bình Nguyên Lộc là hay nhất và tại sao tôi lại thích nhất truyện ngắn ấy chẳng hạn. Cũng nên thêm rằng Bình Nguyên Lộc viết gần như một tiểu thuyết gia Mỹ vậy: lối văn duy nhiên đượm một hương vị khinh khoái (désinvolture), nhẹ nhàng – một thứ châm biếm kín đáo đối với những giá trị hiện hữu trong đời sống đương phản chiếu một thứ đạo đức nghìn kiếp của con người hay là một thứ tự dối mình trơ trẽn – một cách đề cao sự sống không nặng nề, không lố bịch – một tất cả phong mới tả sự sụp đổ của những sự nghiệp xây trên bất công và chúc lành – một kiểu tả chân chán chường trước con người ngờ vực cả cái giá trị cao nhất giữa vạn vật là con người trong dòng lịch sử: ngờ vực mình và chán chường cả đời sống… Tất cả yếu tố ấy tiềm tàng trong văn Bình Nguyên Lộc.

Bây giờ tôi xin sang lĩnh vực quốc tế. Trong lĩnh vực này, lẽ tự nhiên là tôi xin nói vắn tắt. Cần phải nói ngay rằng cái hay nhiều hay hay ít của một truyện ngắn ngoại quốc còn là một vấn đề ngôn ngữ và vấn đề bút pháp của riêng tác giả nữa. Marcel Proust dài mù mịt, André Malraux vạm vỡ, vắn tắt, siêu hình… Camus thuần túy nhưng hơi nhạt, trong sáng nhưng ít say sưa… trừ cuốn L’etranger. Ấy cũng may mà ở Trung Quốc xưa còn có Bồ Tùng Linh viết những truyện ngắn trong Liêu trai chí dị để chúng ta thưởng thức cả hình thức lẫn nội dung – tôi nói hình thức, vì coi văn dịch Liêu trai chí dị vẫn kín đáo hưởng luôn hương vị thấp thoáng của nguyên văn kể cả những người không giỏi chữ Nho lắm… Và còn một cái may nữa là một bản dịch ra Anh ra Pháp cũng vẫn giữ được cái hay, để cho người thiếu Anh ngữ thưởng thức ngay trong tiếng Pháp – trừ các bạn đã du học nhiều năm ở Anh Mỹ thì họ thưởng thức trực tiếp trong tiếng Anh Mỹ. Nếu không thì làm sao mà tôi trầm trồ được hương vị duy nhiên vạm vỡ và thi vị của Hemingway; làm sao mà hưởng màu sắc Marcel Proust trong Robert Pen Warren, hay khí hậu tối om om và hương sắc tình dục vừa trắng trợn vừa kín đáo mềm dẻo của Henry Miller…!

Tôi đã được đọc ít nhiều truyện ngắn ngoại quốc: của Hemingway, của Faulkner của Mỹ; của Charles Plisnier (trong Faux-passeports, được giải Concourt) của Pháp; của Bồ Tùng Linh và Lỗ Tấn của Trung Hoa… chẳng hạn. Thật là mỗi tác giả một sắc thái, một vẻ đẹp…

Nói về truyện ngắn văn nghệ quốc tế, nhất là nói về truyện ngắn và tiểu thuyết amy; khó nói quá: tôi nói khó là vì Á Đông mình quen lối kỹ thuật tổng hợp rồi: mấy trăm năm náo nhiệt và xao động thời Tam quốc thâu gọn lại trong ba trăm trang cuốn Tam quốc diễn nghĩa, giữa lúc mấy ngày trời vắn tắt của một trận du kích vặt ở Tây Ban Nha hồi nội chiến… đã làm Hemingway kéo dài đến bảy tám trăm trang khổ lớn trong Pour qui sonne le glas. Kỹ thuật phân tích của truyện ngắn hay dài amy làm người Á Đông chúng ta lúc đầu hơi bỡ ngỡ: chúng ta quên cái lối truyện phải có đầu có đuôi, phải có kết cuộc luân lý chẳng hạn… Đổng Trác phải chết, Quan Vân Trường phải hiển thánh… Nguyễn Du đã táo bạo lắm nhưng cũng phải theo Thanh Tâm Tài Nhân mà cho Kiều gặp Kim Trọng… Văn thi nhân Âu Mỹ phần nhiều khác hẳn: có những truyện đối với mình là vặt, vặt lắm, có những mảnh sống nhỏ nhặt tủn mủn không đầu không đuôi, không có kết cuộc lớn theo tam cương ngũ thường… trở nên một truyện, một truyện ngắn, trong đó tác giả hoàn toàn vắng mặt… Và chính sự vắng mặt ấy tạo ra thi vị riêng của tác phẩm họ.

Kỹ thuật của những nhà văn Mỹ như Hemingway, Steinbeck, v.v. là một thứ kỹ thuật mà thiên hạ gọi là tâm lý khách quan (psychologie objective) đượm một hương vị độc thoại về tình cảm (monologue intérieur). Tác giả không cần có mặt trong truyện. Người đọc truyện như ngắm tranh dã thú (fauvisme) màu sắc phũ phàng vậy: những ý tưởng sẽ tự nhiên phát hiện từ sự kiện… Tác giả trọng sự tự do của độc giả: ai muốn đọc cứ đọc và không bao giờ chui vào một mớ vỏ cứng (do tác giả tạo ra) của nguyên tắc, của giá trị, của ý tưởng, tư tưởng… bắt con người dù muốn dù không, vô tình hay cố ý, phải theo, phải phụ thuộc, phải sùng bái, phải tin tưởng…, phải “nghèo” đi. Người ta không phải chỉ “nghèo” đi vì tôn giáo. Ở phương diện tôn giáo này, tôi cho là Ludwig Feuerbach có lý lắm. Theo ý tôi thì con người của loài người, từ bốn ngàn năm, từ đa thần đến độc thần, đã “nghèo” đi rất nhiều; đồng thời còn “nghèo” đi vì tất cả mọi thần tượng lớn, nhỏ, xa, gần, mọi lý tưởng cao thấp, mọi thực thể thần thoại (entité mythologique) do tất cả mọi hình thức thông minh tạo ra; rồi còn “nghèo” đi một bực nữa vì tất cả những lý thuyết, những ý tưởng từ những thư viện ngự trị lý trí và tình cảm của con người…! Cũng nên thêm vào đó cái danh sách những “bébélune” sản phẩm tối cao của khoa học chỉ thỏa mãn lòng tự ái và tính kiêu căng cá nhân và tập thể mà thôi…

Các bạn cứ đọc một số tiểu thuyết hay truyện ngắn Mỹ, các bạn sẽ thấy, tự sự kiện nó nói lấy. Người đọc, đọc xong sẽ thấy nảy trong tâm hồn những nhận xét, những ý tưởng về đời sống. Từ trong truyện, “triết lý” tiềm tàng có sẵn bộc lộ ra và làm độc giả phải suy nghĩ. Tác giả không có mặt trong sách, không làm triết nhân mà cũng chẳng làm nhà tư tưởng… và không có tham vọng truyền giáo… Chúng ta hãy đọc những truyện La révolutionnaire, Une histoire banale rất ngắn của Hemingway chẳng hạn… Đó, sở dĩ tôi thích truyện ngắn Mỹ hơn truyện ngắn Pháp là vì vậy.

Bồ Tùng Linh quen với tôi nhiều quá – tôi cho là hay lắm nhưng không dám… thích nhất, vì họ Bồ sống ngoài nhân sinh để phản ứng lại đời sống. Tôi cũng “quen” cả Charles Phinier, tác giả những truyện ngắn trong Faux-passeports, nhưng Phinier lại là hình ảnh một kẻ chiến bại, nên tôi không dám… thích nhất. Tôi đành thích nhất truyện ngắn Victoire của Williame Faulkner… đăng trong tập truyện ngắn Treize histoirer do nhà Galtimard xuất bản.

Victoire (Thắng trận) là một bức tranh vẽ bộ mặt của chiến tranh và đồng thời thể hiện sự bi đát của con người sau chiến tranh… Chẳng hạn như Faulkner cho rằng, đã là con người thì chẳng có ai can đảm cả, con người bỗng nhiên một sáng mở mắt tình cờ thấy mình là anh hùng trong chiến tranh… và người ta rơi vào địa vị anh hùng cũng như kẻ đi đường đương nghếch mắt nhìn đời sống bỗng rơi xuống lỗ cống (…que persone n’a de courage, mais que n’importe qui peut choir aveuglément dans l’héroisme, comme on dégringole dans un regard d’égout ouvert au milieu du trottoir).

Theo tôi thì Faulkner muốn xáo trộn một quan niệm của con người về thần tượng: tự con người hay dối mình, con người tự mình tạo ra những thần tượng, những ý niệm thiêng liêng để sùng bái…! Con người nghèo đi – nói theo kiểu Feuerbach…

Bây giờ anh có thể rút trong bức thơ dài của tôi một số ý kiến tiềm tàng đủ trả lời cho bốn câu hỏi anh đã nêu ra để phỏng vấn. Đồng thời, tôi cũng đã được dịp bàn với anh một vài mẩu chuyện văn nghệ. Có lẽ, ở một vài phương diện, bạn không đồng ý với tôi… Nhưng ở đời, đã có ai hoàn toàn đồng ý với ai đâu? Vả trong câu chuyện văn nghệ, làm sao tránh được một chút chủ quan…! Có thế mới có sự tạp đa (diver sité). Tôi còn dám nói rằng sự phong phú của tư tưởng là do sự tạp đa mà có. Cái lối một chiều và đơn điệu (uniformité) chỉ lợi cho chính trị mà bất lợi cho văn hóa – một cách tương đối, cố nhiên.

Luôn tiện mong anh lượng thứ cho tôi đã nói dài quá. Có thế mới hết ý. Xin chấm dứt bức thơ tôi gởi cho anh tại đây…

1959

Nguồn: Lá Bối xuất bản lần thứ nhất, in tại nhà in Đăng Quang, 734a Phan Thanh Giản – Sài Gòn. Giấy phép số 481 TBTTCH/BC3/XB Sài Gòn ngày 22 tháng 2 năm 1967, ngoài những bản thường in thêm 100 bản đẹp dành riêng cho tác giả, nhà xuất bản và thân hữu. Thư từ, liên lạc về Nxb xin gửi cho Từ Mẫn, bưu điện xin đề tên cô Cao Ngọc Thanh. Giá 120 đồng. Bản điện tử do talawas thực hiện.

Leave a Reply