Văn nghệ


Lê Quý Đôn

1 – Khổng tử nói rằng: “Từ đạt nhi dĩ hỹ”. Nghĩa là :Văn từ cần đạt mà thôi. Đạt nghĩa là bình dị (dễ hiểu).

Chu tử nói: “Cái chỗ hay của đạo lý, phần nhiều ở chỗ bình dị”. Ông lại nói rằng: “Đọc sách, nên đọc cho kỹ, đừng có xem qua; nên thấp không nên cao; nên vụng không nên khéo; nên gần không nên xa”.

Thẩm Ước nói: “Văn chương nên theo ba điều dễ: dễ thấy việc, dễ biết chữ và dễ ngâm đọc”.

2 – Văn chương là gốc lớn của sự lập thân, là việc lớn của sự kinh thế.

Người nhà Đường nói: “Dùng kẻ sĩ, nên phải nhằm đức hạnh trước, văn nghệ sau”. Đó là nói cách lấy thư phán, mà xét người lúc bấy giờ, chứ không phải nói chung.

Chu tử nói: “Lời không văn vẻ, thì không đi được xa; bốn điều dạy (tứ giáo)  [Tứ giáo : Bốn điều dạy; là : Văn, hạnh, trung, tín. Gốc ở sách Luận ngữ, thiên Thuật nhi, có câu : “Tứ dĩ tứ giáo: Văn, hạnh, trung, tín”. Khổng tử lấy bốn điều dạy người ta: văn…] của Khổng tử, tất lấy văn làm trước; muốn tóm tắt lấy lễ tất phải biết rộng văn trước”. Vậy văn không khi nào bị coi là việc ngọn.

Sách Luận ngữ nói: “Chí ư đạo, cứ ư đức, y ư nhân, du ư nghệ”; nghĩa là: Lấy đạo làm hướng cho sự lập chí, lấy đức làm chỗ căn cứ, lấy nhân làm nơi nương tựa, lấy nghệ làm thú vui chơi. Xem đó, người xưa cũng chỉ nói ngang nhau, chứ không chia ra điều nào là gốc, điều nào là ngọn.

Truyện kinh Thi của họ Mao nói về chín điều hay:

            1- Kiến bang năng mệnh qui;

            2- Điền năng thi mạng;

            3- Tác khi năng minh;

            4- Sứ năng tạo mệnh;

            5- Thăng cao năng phú;

            6- Sư lữ năng thệ;

            7- Sơn xuyên năng thuyết;

            8- Tang kỷ năng lụy;

            9- Tế tự năng ngữ.

                                    Nghĩa là:

            1- Khi xây dựng một nước, thì biết bói rùa;

            2- Khi đi săn bắn, thì biết ra mệnh lệnh;

            3- Khi làm đồ đạc gì, thì biết làm được bài Minh [Minh (bài): Lời khen, hay lời khuyên răn, được đem khắc vào đá, hay trên các đồ vật dùng, gọi tóm lại là bài minh. Ví dụ: Vua Thang, đời Thương, làm bài minh khắc vào cái mâm, có câu : “Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân”. (Nếu hàng ngày đổi mới thì ngày nào cũng mới, càng ngày càng mới) – (Xem sách Đại học)].

            4- Khi đi sứ, có thể tạo được từ mạng [Tạo mệnh : Tạo ra được mạng. Xưa, vua Tần sai người sang sứ nước Sở; vua Sở định giết. Sứ giả nói : “Tôi chết mà không về nước, tất nhiên vua nước tôi biết, sẽ đem quân chống lại Sở”. Vua Sở thấy nói thế, tha cho về. Thế gọi là “tạo mệnh”].

            5- Khi lên cao, thì biết làm thơ ca;

            6- Trong việc sư lữ, thì biết làm lời thệ quân;

            7- Về núi sông, thì có lý thuyết;

            8- Trong việc tang ma, thì biết đặt tên hèm  [Lụy : Đặt tên hèm. Lúc người ta chết, thì người trong nhà xem đức tính người ấy thế nào, theo đó, mà đặt tên cho, tên này gọi là tên hèm. (Xem : Mao thị chú sớ, của Trịnh Huyền đời Hán, và Khổng Dĩnh Đạt đời dường; thơ Định chi phương trung trong thiên Dung phong; Mao thị, quyển 4].

            9- Trong việc tế tự, thì nói được nghi tiết.

Người quân tử có được chín điều “hay” ấy, thì gọi là người có đức, có thể làm được quan đại phu. Đó là cách tuyển sĩ của nhà Chu, đại khái như thế, sao gọi văn là việc ngọn được?

Đại để, anh hoa phát tiết ra ngoài, là do ở trong có chứa nhiều hoà thuận; cho nên người có đức, tất biết ăn nói; người có hạnh, tất có học; như con phượng thì có cánh, sắc lông săc sỡ; con báo thì có lông trơn mượt; trang sức ở ngoài, với chứa đựng bên trong, vẫn là một.

Chu tử nói: “Uy nghi đúng mức, nói năng phải lẽ, đều là văn”. Ông lại nói: “Ngày xưa đem các môn lễ, nhạc, xạ (bắn), ngự (cầm cương ngựa), thư (viết chữ), số(tính toán) dạy người ta; lẽ nào một người đã học các môn văn ấy mà lại bảo là người thiếu sót về đức hạnh được”. Muốn biết người, nên lấy đó mà bàn, nghĩa là nên nhận xét ở các điều đó, chớ nên lầm lẫn (cho đức với văn là hai).

3- Giáo khoa dạy cả lục nghệ (sáu nghề), trong đó có cả văn sự và vũ bị. Cho nên, những người đã được giáo dục lối ấy, ở trong triều đình thì làm khanh tướng, ra ngoài tỉnh quận thì làm tướng soái, không có cái gì mà không thích dụng. Dựa vào cửu năng mà tuyển người, nghĩa là hợp chính sự với từ hàn làm cùng một thể; cho nên vào triều thì có thể thay vua mà nói, ra ngoài thì có thể tuyên bố mạng vua, làm gì cũng được. Nhân tài thời thịnh ngày xưa, hơn hẳn đời sau như thế. Học giả mà không thấu suốt hoàn bị, thì sao được.

4- Sách Luận hành nói: “Trông cái nhà đẹp, biết là danh gia (nhà có tiếng); thấy cái cây cao biết là nước cũ. Nước có nền văn hoá to tát (hồng văn), ở trong nước dấu hiệu của đời thánh. Nước có thánh quân, thì văn nhân tụ hội; ý chí thánh hiền định ở ngòi bút, bút soạn thành văn, văn  đầy đủ thì tính tình rõ rệt. Người đời cho văn chương là ngọn, ví như cành lá, là chỉ vì họ đã hiểu đâu được lẽ ấy!”

5- Các sách Trang tử, Hoài nam tử, là tổ của văn chương; Sử ký, Tả truyện, là tổ của sử học; Sở từ là tổ của từ phú. Đời xưa chưa có Tử thư [Tử thư : Loại sách của bách gia Chư tử, khởi thủy có từ đời Xuân thu, Chiến quốc; như Lão tử, Trang tử, Tuân tử …].

Xưa kia chưa có từ phú, đến Khuất Nguyên mới  khởi xướng lên ở từ nước Sở, rồi Tống Ngọc, Đường Lặc và Cảnh Sai, hoạ theo; mỗi câu đều bay bướm, mà từ đó thể thơ đổi hẳn.

6- Đọc các sách Tả truyện, Quốc ngữ, mới biết cổ nhân chép việc rất tường; cho đến cả những câu chuyện nói riêng, nói bỡn, nói mộng, xem bói, cái gì cũng chép; mà ta không thấy thế là phiền.

Đọc các sách sử đời Đường, đời Tống mới biết người đời sau chép việc rất lược, đến cả tấu, đối, chương, sớ, điển hiến, điều mục, phần nhiều bỏ sót; mà ta cũng chưa thấy là giản ở chỗ nào.

7- Sách Tả truyện chép cả một đoạn văn của Kính Vương xin nước Tấn xây thành cho Thành Chu. Sử ký chép cả một bức thư của Nhạc Nghị đáp vua nước Yên; cùng là Tam quốc chí chép cả bức thư của Gia Cát Khác gửi cho vua nước Tề. Ba thể văn ấy, lời lẽ lưu loát sáng sủa, ta bảo đọc ký văn tự ấy, sẽ biết được chỗ hay; vì đọc sách nên xem được chỗ thần tình, mà làm văn cũng quí có thần tình.

8- Tô Đông Pha nói: “Ý hết mà lời dừng, ấy là cái lời rất mực trong thiên hạ; song, lời dừng mà ý không tả hết được lại càng hay tuyệt; xem văn Lễ ký và Tả truyệnthì biết”.

9- Trương tử nói: “Đọc sách ít, thì khảo sát nghĩa lý không được tinh; đọc sách nên thuộc lòng, nghĩ kỹ (tinh tứ); thuộc mà không nhớ được, thì không nảy ra tứ. Nhưng, hiểu suốt được đại nguyên (đại thể) rồi, thì sách cũng dễ nhớ; ở chỗ không nghi ngờ mà còn nghi ngờ, thế là học đã tiến”. Sách Thuyết phu nói : “Đọc sách một trăm lần, thì tự nhiên thấy được nghĩa sách”. Lời nói này chính hợp với câu trên đây.

10- Sách Môn sắt tân hoại nói: “Làm văn mà không sử dụng sự việc thì khó lắm; sử dụng sự việc nhiều quá thì cũng khó lắm. Không sử dụng sự việc, thì khó lập ý; sử dụng sự việc nhiều quá, thì khó đưa lời”. Lại nói: “Đọc sách cần nhớ kỹ và lâu, thì ngày trông thấy tiến ích”. Cũng lại nói: “Hoàn Ôn xem Bát trận đồ, thấy nhưhình thế con rắn ở núi Thường sơn, cho là trận đồ ấy không những chỉ là phép để dụng binh, mà cũng là phép làm văn. Văn chương cần phải uyển chuyển, hồi phục, đầu đuôi ứng với nhau, mới là hay”. Đó là những lời danh ngôn đối với văn chương.

Người đời xưa nói: “Làm thơ, làm văn, chép việc, dù nhiều, chỉ sợ không hóa”. Ý bảo nên đem lời và ý của cổ nhân, mà luyện đúc lại cho mới, chứ đừng bước theo lối cũ.

11- Văn tử nói: “Bậc thượng học, lấy thần mà nghe; bậc trung học, lấy tâm mà nghe; bậc hạ học, lấy tai mà nghe; tai nghe thì học ở ngoài bì phu, tâm nghe thì học ở cơ nhục, thần nghe thì học ở cốt tủy”.

12- Thiệu tử nói: “Người biết đọc sách, thiên hạ ít có. Chu tử nói: “Phàm xem văn, thì nên chú ý xem những chỗ các nhà nói giống nhau, khác nhau. Ta ngày trước xem văn, chỉ chuyên xem chỗ giống nhau, khác nhau”. Ông lại nói: “Đọc sách, nên đọc văn bản cho kỹ, nhằm từng chữ một, mới thấy thú vị; thấy chỗ nào không hiểu thấu được, thì nghĩ cho kỹ; nghĩ kỹ không ra mới xem chú giải, như thế mới có ý vị”. Ông lại nói: “Xem giảng giải, không nên câu nệ ở lời văn, mà không tìm lẽ phải trái. Cho rằng lời nói của tiên thánh là đích đáng cả, thì biết đâu rằng những lời nói trong sách xưa sót lại, há không có chỗ quá đáng, không đúng sự thực, hay cũng có chỗ chưa nói đến, hay sao?”. Ông còn nói: “Lúc mới xem, đã lấy ý mình đoán trước; mà lời tiên thánh nói, thì không để vào tai; ấy là cái bệnh của học giả ngày nay”.

Những câu bình luận trên đây, đều là những câu chỉ bảo phép đọc sách cho học giả, nhân tiện ta nêu ra.

13- Nhan Chi Thôi nói: “Từ xưa đến nay, các văn nhân phần nhiều mắc phải cái bệnh khinh bạc: nguyên là cái thể chất văn chương làm cho ý hứng của họ thì bay lên cao vút; tính linh của họ thì phát lộ một cách bồng bột, mà trở thành kiêu căng, quên cả việc trì thủ (giữ gìn), và hăng hái tiến thủ”. Ta cho rằng: đó là vì ít học vấn, thiếu hàm dưỡng; thành ra bị cái khí nó sai sử. Nếu ý hứng, tính linh vẫn giữ được bình đạm, một khi nêu lên, và phát ra, lại càng thấy ung dung; cho nên thánh nhân nói rằng: “Hứng ư Thi” (học kinh Thi để hứng khởi). Người lại nói : “Từ đạt nhi dĩ hỹ” (Lời nói cốt thông đạt ý thì thôi). Cùng là: “Hành hữu dư lực, tác dĩ học văn” (Làm đã thừa sức, rồi mới học văn). Thể chất của văn chương vốn ở trong học vấn mà ra; học vấn có êm đềm, (rộng rãi thoải mái), thì văn chương mới hay. Có lẽ đâu văn chương lại làm cho người ta kiêu căng!

14- Lã Cư Nhân nói: “Học giả nên làm văn hữu dụng. Không nên nói suông. Về văn chương nghị luận, thì lấy văn của Đổng Trọng Thư, và của Lưu Hướng làm chính; cũng nên quán xuyến khảo kỹ những loại văn như Chu lễ, Tân tự,  Thuyết uyển”.

15- Trong sách Điển luận, Tào Phi có nói: “Thể văn tấu nghị nên nhã nhặn; thể văn thư luận nên rành mạch; thể văn minh lụy nên chân thực; thể thi phú nên bóng bẩy”. Thế gọi là tứ khoa.

16- Sách Vân tâm điêu long nói: “Luận, thuyết, từ, tự, thì kinh Dịch là đầu; chiếu, sách, chương, tấu, thì phát nguyên từ ở kinh Thư; phú, tụng, ca, tán, thì kinh Thiđã lập ra thể cách. Minh, châm, lụy, chúc, thì khởi đầu tự kinh Lễ. Ký, truyện, di, hịch, thì gốc ở kinh Xuân thu.

Tăng Nam Phong có nói: “Ở đây ta thấy rõ nghĩa câu: “Văn chương nguyên bản lục kinh” (Văn chương bắt rễ ở lục kinh)”; thực cũng đã hiểu thấu lẽ ấy.

17- Tào Phi nói: “Làm văn lấy ý làm chủ, lấy khí làm phụ, lấy lời làm hộ vệ; những tác phẩm của danh gia đời xưa, không ngoài mấy câu ấy”. Lời phê bình này chắc không phải của Tào Phi tạo ra, chắc cũng là nghe được ở đâu.

18- Người ta gọi văn chương hay là “bát đẩu chi tài [Từ hải, tr.150]. (tài được tám đấu)”. Câu ấy gốc từ lời nói của Tạ Linh Vận. Tạ thường nói: “Tất cả tài trong thiên hạ gộp lại được có một thạch (mỗi thạch 10 đấu); Tử Kiến chiếm mất tám đấu, ta được một đấu, còn một đấu tự xưa tới nay mỗi người được một ít”.

19- Sách Thuyết uyển nói: “Học giả nên có ba sự nhiều: đọc sách nhiều, nghị luận nhiều, trước thuật nhiều. Trong ba điều ấy, thì nghị luận là khó nhất”.

Vĩnh Thúc cũng nói: “Làm văn cần có tam đa (ba nhiều): xem nhiều, làm nhiều, thảo luận nhiều”.

20- Ngô Lai nói: “Trong bụng không có được ba vạn quyển sách; trong mắt không có được núi sông kỳ lạ của thiên hạ, thì chưa chắc đã làm được văn”.

21- Tô Đông Pha nói: “Phàm văn chương, nên làm sao cho thấy khí tượng tranh vanh, màu sắc rực rỡ; càng già càng chín, mới đến chỗ bình đạm”.

22- Sách Độc thư ngẫu kiến nói: “Văn chương quí sao làm được như gió lướt trên mặt nước, sao sáng trên bầu trời. Vì: gió lướt đi, quay lại, thì mặt nước tự nhiên gợn lên những làn hoa; tinh tú bố trí đều đặn, thì ánh sáng tự nhiên rực rỡ!”.

23- Diệp Thích đời Tống thường nói: “Học Kinh phải cho tinh, đọc sử phải cho rộng, làm văn phải bay bướm, làm chính sự phải thông đạt”.

Vương Thú nói: “Sách Kinh thì nuôi căn bản cho con người, sách Sử thì mở mang tài tứ cho con người”.

24- Lý Cao nói: “Nghĩ sâu thì ý xa, ý xa thì lý rành, lý rành thì khí mạnh, khí mạnh thì lời giàu, lời giàu thì văn hay”.

Âu Dương Tu cũng nói:“Muốn văn chương hay cần nên chăm đọc sách; đọc  sách, lại làm văn nhiều, thì tự nhiên văn hay. Ở đời, chưa có ai ít học hỏi, biếng nhác làm văn, mà nổi tiếng văn hay!”.

25- Những người tài tình khoát đạt, thì ý khí thường cao, mắt trông thường xa rộng, không phải người tầm thường theo kịp được. Xem như Bùi Độ, đáp bức thư của Lý Cao, bàn về văn, thì biết. Như ông ta nói: “Lý Cao phê bình văn của các nhà: Tương Như, Tử Vân, Giả Nghị, Tư Mã Thiên, Đổng Trọng Thư, Lưu Hương, rất là xác đáng”.

Ông lại nói: “Văn không uốn lời, mà lời tự đẹp; không gò ép lý lẽ, mà lý lẽ tự tươi mới”. Nói thế rất phải.

Ông cũng lại nói: “Văn trong Điển, Mô, Huấn, Cáo, Quốc phong, Nhã, Tụng, Văn ngôn, Hệ từ, thì lời văn rất giản dị, thẳng thắn. Những văn ấy, dẫu to bao quát cả trời đất, nhỏ không có khe hở, thế mà không có câu nào là kỳ ngôn, quái ngữ; ý tùy văn mà thấy; sự tùy ý mà làm; chỗ nào nên văn hoa thì văn hoa, chứ không nhất định”. Bùi Độ nói thế thực là xác đáng.

Lại như ông bảo Lý Cao rằng: “Gần đây, theo đại ý của đệ, làm văn, thường nghĩ rằng: “Văn đời nay hay dùng nhiều câu biền ngẫu (đối nhau), kết gió, xâu mây, trói âm, buộc vận; đó là cái bệnh làm văn; nên đệ lấy lời hùng, ý xa, mà uốn nắn lại. Ấy là chú ý đến văn chương đấy! Thế nào là văn? Thánh nhân nhờ văn để đạt tâm (giãi tỏ cái nghĩ trong lòng), tâm đã đạt thì thôi, lý đã cùng cũng thôi, không phải cố ý nâng cao lên, hạ thấp xuống, tường thêm ra, hay lược bớt đi. Cho nên, văn giống nhau, hay khác nhau, là ở chỗ nặn nọt, tỉa cắt, từng chương, từng cú, mà bỏ hẳn thanh vận”. Bùi Độ nói thế là đủ thấy kiến thức của ông hơn người khác nhiều. Sự nghiệp Tấn công (Bùi Độ) bình chính, rực rỡ, thông suốt, tròn trặn; mà khí tượng của ông đã đủ thấy ở lời bình phẩm đấy rồi. Cho nên ta nêu ra đây, để làm khuôn mẫu cho đời.

26- Vương An Quốc thường bảo Ngô Xử Hậu rằng: “Cách điệu văn chương nên có quan dạng”. Xử Hậu lại nói rằng: “Văn chương tuy ở tâm thuật mà ra, nhưng có hai bậc: một là văn sơn lâm, thảo dã, thì văn khí khô khan, tiều tụy; một là văn đài các, triều đình, thì văn khí ôn nhuận, phong phú”.

Dương Đại Niên, triều Tống nói: “Tống Lã Công soạn các chiếu chế, lời lẽ đẹp đẽ, thuần hậu; người cũng giống như văn”.

27- Trong sách Đàm Lục, Vương Thù nói: Các bậc Vương công dạy con rằng: “Tuổi trẻ làm văn, nên lấy khí hùng làm chủ, không nên bắt chước những giọng bi ai tiều tụy”. Ta cũng nên biết thế.

28- Chu Biền nói: “Người thợ khéo không cho người ta xem vóc (hòn ngọc), vì sợ người ta thấy vết tích rìu đẽo”. Hoàng Lỗ Trực có một lần tìm được một đoạn bài nháp về Đường sử của Tống Kỳ, đem về xem kỹ, thì văn chương ông ngày một tiến bộ; vì ông được thấy: những câu nào hay, chữ nào sửa đổi cùng với lúc mới tạo ý (mới sơ thảo), không giống nhau, nên biết được ý người làm văn.

Chu tử nói: “Người ta muốn biết làm văn, nên đọc một bộ Tây Hán, đọc văn Âu Dương Tu, đọc văn Tăng Nam Phong, và đọc văn Hàn Dũ”.

29- Trong tập Bút ký, Tống Kỳ nói: “Văn có lối bằng trắc đối nhau, chỉ để cho các quan nha tuyên đọc trong một lúc, mà thi hành cho mau chóng; chứ không dùng lối ấy làm sử truyện. Ta làm sách Đường thư, chưa thấy một tờ chiếu, hay một tờ sắc lệnh nào của người Đường, chép ở truyện; chỉ bỏ hết các văn biền ngẫu, mà lấy lối văn cận cổ, cho vào sách. Đại để, làm sử, nên dùng lối lận cổ; nếu lấy lối biền ngẫu cho vào sử, thì không phải phép”.

Lời bàn ấy chưa phải, vì sử là để chép việc, việc nhờ văn mà được sáng tỏ, nếu không chép cho tường, thì sau mất sự thực. Vậy cần gì bàn đến thể cách văn chương của đời xưa.

Vả lại, từ đời Tam đại đến Đường, Tống, văn thể thay đổi không biết bao nhiêu lần; chọn được văn cận cổ cho vào sử, tưởng cũng hiếm có. Tư Mã Thiên, Ban Cố, làm sử, chỉ cứ sự thực mà chép, chứ không có ý làm văn, cho nên hay. Tống Kỳ thì có ý lấy sử làm văn, cho nên văn không hay.

Lưu Nguyên Thành có nói: “Sách Tân Đường thư chép việc, thích lời giản dị, cho nên việc bị mờ ám không rõ. Bài Tiến thư biểu có câu rằng: “Sự tăng ư tiền, văn tỉnh ư cựu” (Việc thì chép thêm nhiều hơn trước kia, văn thì chép giảm gọn hơn xưa). Xem thế, ta thấy rõ: Văn Tân Đường thư không bằng văn Lưỡng Hán thư, là gốc ở đấy”.

Lời bàn này có thể làm định án được.

30- Trương Văn Tiềm nói: “Làm văn, mà chỉ muốn dùng lời, dùng chữ, chấm câu, ngắt câu, một cách mới lạ, khác người, đến khi nhẩm đi nhẩm lại, mà cũng chẳng thấy có được gì, thế là vụng làm văn”. Lời bàn này trúng cái bệnh làm văn của đời sau.

31- Đỗ Mục nói: “Sinh sau trăm đời, chưa hẳn là sự không may; vì sách thì đủ, mà việc thì nhiều”. Từ đời Hán trở về sau, đời nào dựng nước, thành, bại, phế, hưng, tông tích, sự nghiệp, một hai ức vạn; xanh, vàng, đen, trắng, hư hay thực, không hay có, đều có thể vẽ tranh được. Mình chỉ cần xét lý do, sửa chỗ dài, thêm chỗ ngắn, mười phần được độ bốn năm phần, cũng đủ ứng dụng việc đời; không như đời xưa, phải học cùng trời, dò thăm huyền bí, theo giấu chỗ không tông tích, tính toán đến chỗ không còn hào hốt [Hào hốt: cũng như hào ly. Không còn hào hốt, nghĩa là nhỏ đến vô cùng].

Nhưng, người đời xưa, với người đời nay, khí bẩm không giống nhau, nguyên ủy cũng khác, cổ nhân học vụ thực, đời sau học vụ danh. Cổ nhân học được một câu, thì đem ứng dụng một câu, học được một chữ thì đem ứng  dụng một chữ; còn đời sau, học mà không làm được.

Vả lại, như họ Quản (Quản Trọng), họ Tuân (Tuân Huống), họ Thân (Thân Bất Hại), họ Thương (Thương Ưởng), học tuy thiên bác (phức tạp, giỏi về một mặt), nhưng phương pháp, kỹ thuật, thuật nghị luận, của họ, cũng tự lập thành một phái; xem các sách và xét những việc làm của họ, thì đều thấy hợp với nhau cả.

Sau nữa, đến như Tô Tấn, Trương Nghi, đều học thực dụng, không phải nói mà không làm. Đời sau, bàn luận Lục kinh, thuộc làu Ngữ, Mạnh, lại còn hiểu thêm các sách tử, sử; đạo lý, chính sự, thì miệng nói lau láu, mà rốt cục, đến lúc làm, thì mờ mờ mịt mịt, không có mấu chốt, ít biết đem suy ra thực dụng; tuy sách đủ, việc nhiều, cũng có ích gì đâu.

32- Trình Y Xuyên nói: “Đọc sách được một thước, không bằng làm được một tấc”.  Lã Hối nói: “Đọc sách không cần nhiều: đọc được một chữ, đem áp dụng làm việc được một chữ, thế là được”. Đó là cách học của các bậc tiên hiền.

33- Hoàng Phủ Thực gửi thư cho Lý Sinh, nói rằng: “Gần đây, phong giáo bạc bẽo, đua nhau hư trương thanh thế để tranh hơn nhau. Làm thơ chưa được câu nào như Lưu Trường Khanh, mà đã gọi Nguyễn Tịch là Lão binh; bút [Bút: chữ bút này có nghĩa riêng của nó; văn có vần gọi là văn; văn không có vần gọi là bút].

Đó là lời dạy bảo hậu học rất là hồn hậu.

Than ôi ! Lão Đỗ [Lão Đỗ: danh từ người ta thường dùng để gọi Đỗ Phủ, thi nhân đời Đường].

                                    Văn chương thiên cổ sự,

                                    Đắc thất thốn tâm tri.

                                    Tác giả giai thù biệt,

                                    Thanh danh khởi lãng thùy.

                                                Dịch nghĩa:

                                    Văn chương sự nghiệp nghìn đời,

                             Dở, hay, tấc dạ biết rồi chẳng sai;

                                    Nhà văn, ai có giống ai?

                             Tiếng tăm để lại, há chơi đâu nào?

Người ta nên tự xét mình xem thế nào. Dù cho tài tứ tốt đẹp hơn cả mọi người trong một thời đại, cũng không ra ngoài được ranh giới, phên dậu của tiền bối. Thế mà dám khoe khoang, khinh bạc, chê bai, chẳng cũng quái gở lắm ru?

Văn chương là của công thiên hạ, ý kiến mỗi người mỗi khác nhau, phân tách thì được, chứ không nên chê mắng.

34- Cuối đời Nam Tống, người học Lục kinh, không đọc bản văn cùng truyện chú tiên nho, chỉ lấy những văn của người trúng cử gần đây, ôn đọc chép lại, chọn xem trong kinh có chỗ nào ra được bài, tự ý nặn nghĩa ra mà làm láo. Việc đó, Chu Khảo Đình (Chu Hi) than tiếc; và đó cũng là cái thông lệ đời sau. Sao mà nhân tâm biến đổi, trái ngược đạo xưa đến thế?

Lấy sĩ tử, mà không xem thực hạnh trước; giảng học, mà không chuyên kinh thuật, thì ngăn cấm sao được những thói phù phiếm. Đọc sách, mà không xem đại ý, ra bài, mà không  chọn chính nghĩa, thì không tránh được cái tệ tỉa cắt tủn mủn! Tất cả các người học khoa cử, thường theo sự ham thích của đời: người trên lấy khoa cử dùng người, người dưới cũng lấy khoa cử mà đáp lại, lẽ tất nhiên như thế.

Vả lại, Hán nho lấy nghĩa trong kinh mà quyết việc ngục, và đoán việc lớn của triều đình. Còn đời sau, thì chuyên lấy ý riêng mà quyết đoán mọi việc. Có một hai tờ tấu sơ việc dẫn kinh truyện, tản mát, không thiết thực, khiến người ta chán không buồn xem, khinh bỉ, cho là vu khoát (viển vông).

35- Sách cổ chưa có bản khắc, người học phải tay sao, học thuộc lòng [Nguyên văn là Bối độc: ngoảnh lưng lại mà đọc, nghĩa là đọc thuộc lòng. Tam quốc chí chép việc Vương Xán cùng đi đường với một người, thấy bên đường có một cái bia, Xán đứng lại đọc hết. Người ấy hỏi Xán: “Anh có nhớ không ?”, Xán đáp rằng có, rồi ngoảnh lưng vào bia đọc không sót một chữ].

36- Văn chương, truyền lại, hay không truyền lại, vẫn còn có phần là may rủi. Xem như bài phú Tây đô của Ban Cố, nói: đời Vũ đế, Tuyên đế, chuộng lễ, xét văn; những bầy tôi chầu gần vua, biết ăn nói, như Tương Như, Thọ Vương, sớm tối bàn luận, ngày đêm dâng nộp. Trên nữa, là công khanh, đại thần, như Đổng Trọng Thư, Tiêu Vọng Chi, thỉnh thoảng cũng có làm văn. Đến đời Hiến, Thành, văn được soạn mà không được chép lại, có đến hơn nghìn tờ tấu sớ. Văn chương đời Hán rực rỡ, cùng với văn chương đời Tam đại ngang hàng. Ấy, thịnh như thế, mà truyền lại đến ngày nay, chỉ còn thấy chép lại một số ở trong Văn tuyển mà thôi, ngoài ra đều là “Tử hư Ô hữu” cả [Tử hư Ô hữu: Không có gì cả. Xưa, Tư Mã Tương Như làm bài phú Tử hư, bịa đặt ra một Tử hư công tử và Ô hữu tiên sinh mà nói. Đời sau, nhân thế gọi, những việc hão huyền không có gì, là “Tử hư, Ô hữu”].

Xem hết mục sách Đường, Tống, không có một bài nào là thể phú của đời Hán cả. Chỉ thấy dẫn ở trong Văn tuyển chú có một vài bài, mà không tìm được bài nào là toàn thiện. Lẽ đâu hơn một nghìn bài đều không đáng truyền lại cả ư? Cho nên biết rằng: sở dĩ văn học cổ nhân rạng rỡ, nghìn năm không thể mai một được, cũng là nhờ trời cả.

Cổ nhân đọc sách không cẩu thả. Xem như việc Hà Tri Chương, đời Đường, khi được vua Huyền Tông đòi vào hỏi về bài phú “U cư” của Tào Thực, vì sao lấy cảnh vật ở tận xa, ý trỏ vào đâu, thì Tri Chương giải thích từng câu một đến vài trăm điều. Nếu Tri Chương không thuộc kỹ từng thiên, sao giải thích được như thế? Xem một việc này mới biết được rằng: trong bụng có uẩn súc đã lâu, mới trả lời được như thế.

37- Đời Tùy Đường, văn giáo thịnh hành, nhà nào cũng gảy đàn đọc sách [Tử hư Ô hữu: Không có gì cả. Xưa, Tư Mã Tương Như làm bài phú Tử hư, bịa đặt ra một Tử hư công tử và Ô hữu tiên sinh mà nói. Đời sau, nhân thế gọi, những việc hão huyền không có gì, là “Tử hư, Ô hữu”], nên không người nào là không đọc sách biết chữ. Nghiệm ngay như các ti tào xử kiện thì biết.

38- Ngự sử đài ký, đời Đường, nói: “Bùi Diễm Chi làm Đồng châu tư hộ, không mấy khi làm văn án. Quan thứ sử, là Lý Sùng Nghĩa, lấy làm lạ. Khi Diễm Chi ra về. Sùng Nghĩa mới hỏi người giúp việc: có bao nhiêu văn án? Người ấy thưa rằng: Hơn 200, sau mỗi bản án, để vài tờ giấy trắng, Diễm Chi bảo chủ sự nói qua ý mình, rồi Diễm Chi dựa cột mà xử đoán, lời lẽ tung hoành, văn chương xán lạn”. Án đệ lên, Sùng Nghĩa chưa cho là lạ. Đến khi xem đến bốn năm mươi bản án, thì thấy lời lẽ càng tinh. Đó há chẳng phải là thường dân đều biết chữ nghĩa, nên Diễm Chi đem văn biền lệ [Biền lệ: Lối văn đối nhau, tức là lối biền ngẫu].

39- Bài tựa sách Quốc sử bổ, của Lý Triệu, đời Đường, nói: “Phàm những câu nào nói đến việc báo ứng, chuyện quỉ thần, thuật mộng bói, chuyện buồng the, thì bỏ đi. Câu nào chép sự thực, dò thăm vật lý, biện biệt nghi hoặc, chỉ bảo, khuyên răn, thì chép”. Âu Dương Tu, làm sách Qui diền lục, cũng bắt chước lối ấy.

40- Trong sách Văn giám, Lã Đông Lai có ghi năm lệ làm văn:

                        1- Chỉ biên chép bài văn nào văn lý hay;

                        2- Văn thì cũng loàng xoàng, mà nhiều người cho là hay;

                        3- Văn tuy không hay lắm, nhưng tác giả có hiền đức, và danh vọng, sợ mai một đi, cũng chép một vài bài;

                        4- Văn tuy không hay mà lý luận thì khá;

                        5- . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . (không thấy).

Phép tuyển văn như thế, cũng đã kỹ càng. Sau tập Tuyển túy, không sách nào hơn nữa.

41- San hồ thi thoại nói: “Tiền nhân làm thơ chưa biết hoạ vần. Đến đời Đường, Bạch Lạc Thiên và Nguyên Huy Chi, làm Quan sát sứ hai tỉnh Chiết (2), qua lại với nhau, đặt ra bưu đồng [Bưu đồngBưu là chạy trạm, đồng là ống tre. Ống tre, bỏ thư vào đấy, giao cho trạm dịch đem đi].

42- Giải Tấn nói: “Học thơ, trước hết nên trừ bỏ năm điều tục, rồi tích cực tam lai”.

            Ngũ tục là: thể tục, ý tục, cú tục, tự tục, vận tục.

            Tam lai là: thần lai, khí lai, tình lai.

43- Sách Liễu hoa uyên nhàn lục chép: “Những người hay làm thơ đều hâm mộ thơ Đường, vì thơ Đường lấy thanh, sầu, cảm, oán, làm chủ cho thi cách. Đã đành ý nói của thơ thanh thiết [Thanh tao và thiết thực], thoát sái [Thanh thoát và trơn tru].

44- Thơ Đường sở dĩ nổi tiếng là vì đời Đường thi cử bằng thơ, người ta đua nhau cố ý nặn nọt cho khéo. Đến đời Tống, thi cử bằng phú, các tiến sĩ không để ý đến thơ, nên ít có bài truyền tụng.

45- La Đại Kinh nói: “Làm thơ nên dùng kiện tự [chữ chắc, như danh từ, tính từ, v.v…] làm cột trụ, và hoạt tự [những chữ đưa đẩy] mà đưa đẩy cho linh động”.

46- Cổ nhân bàn về thi pháp rất nhiều. Nhà sư Thích Hiệu Nhiên, đời Đường, đặt cách thức làm thơ như sau:

Thơ có tứ bất (bốn điều không nên), là:

                        1- Khí cao nhi bất nộ (Khí cao mà không giận dữ);

                        2- Lực kính nhi bất lộ (Sức cứng mà không lộ);

                        3- Tình đa nhi bất ám (Tình nhiều mà không tối tăm);

                        4- Tài thiệm nhi bất sơ (Tài đầy đủ mà không thô sơ).

            Thơ lại có tứ thâm (bốn điều sâu sắc), là:

                        1- Khí thế nhân huân, do thâm ư thể khí (Khí thế nghi ngút vì thể thế xấu);

                        2- Ý độ bàng bạc do thâm ư tác dụng (Ý độ rộng rãi vì tinh thâm vế tác dụng).

                        3- Dụng bút bất trệ do thâm ư thanh đối (Bút viết ra không khó khăn vì tinh thâm về thanh âm tương đối);

                        4- Dụng sự bất trực do thâm ư nghĩa loại (Dùng sự kiện, không quá thẳng, vì tinh thâm về nghĩa loại).

Thơ có nhị phế (hai điều phải bỏ), là:

                        1- Tuy dục phế sảo thượng trực nhi tứ trí bất đắc trực (Tuy muốn bỏ khéo, chuộng thẳng, mà tứ trí không được trực trần, bày thẳng không có hình tướng);

                        2- Tuy dục phế từ  thượng ý nhi điển lệ bất đắc di (Tuy muốn bỏ lời mà chuộng ý, nhưng không được bỏ điển lệ, nghĩa là nhã đẹp).

Thơ có tứ ly:

                        1- Tuy đạo tính nhi li tịch thâm (Tuy tả được tình, nhưng phải xa lìa cái gì quạnh vắng, thầm kín);

                        2- Tuy dụng kinh sử nhi li thư sinh (Tuy dùng kinh sử, nhưng phải xa lìa cái thói thư sinh);

                        3- Tuy thượng cao dật nhi li vu viễn (Tuy chuộng cao siêu, mà phải xa lìa cái viển vông);

                        4- Tuy dục phi động nhi li khinh phù (Tuy muốn bay bướm, nhưng phải xa lìa cái khinh bác).

Làm thơ có lục mê, là:

                        1- Dĩ hư đản nhi vi cao cổ (Lấy hư không, huyền hoặc, làm cao cổ);

                        2- Dĩ hoãn mạn nhi vi xung đạm (Lấy chậm chạp làm điềm tĩnh);

                        3- Dĩ thác dụng ý nhi vi độc thiện (Lấy dụng ý sai mà làm giỏi riêng của mình);

                        4- Dĩ quỉ quái nhi vi tân kỳ (Lấy qủi quyết kỳ quái mà làm mới lạ);

                        5- Dĩ lạn thục nhi vi ổn ước (Lấy nát nớt mà làm ổn ước);

                        6- Dĩ khí lực thiểu nhược nhi vi dung dị (Lấy khí lực ít ỏi, yếu ớt, mà làm dễ dàng).

Làm thơ có lục chí, là:

                        1- Chí hiểm nhi bất tích (Rất hiểm mà không xa xôi quạnh vắng);

                        2- Chí kỳ nhi bất sai (Rất lạ mà không sai lầm);

                        3- Chí giản nhi tự nhiên (Rất giản dị mà phải tự  nhiên);

                        4- Chí khổ nhi vô tích (Rất khắc khổ mà không hình tích);

                        5- Chí cận nhi bất vu (Rất phóng khoáng mà không vu khoát);

Làm thơ có bảy đức, là:

                        1- Thức lí (Biết lý lẽ của sự vật);

                        2- Cao cổ (Cao siêu cổ kính);

                        3- Điển lệ (Điển nhã, mỹ lệ);

                        4- Phong lưu (Phong lưu, lịch sự);

                        5- Tinh thần (Có tinh thần);

                        6 – Chất cán (Mộc mạc);

                        7- Thể tài (Có thể cách đúng).

Nhà sư Thích Phổ Văn, bàn về thơ, có nói: “Luyện chữ không bằng luyện câu, luyện câu không bằng luyện cách”.

Thơ trong thiên hạ, không ngoài nhị cú (hai cú pháp):

                        1- Ý  (cú pháp về ý);

                        2- Cảnh cú (cú pháp về cảnh).

Cảnh cú còn dễ mài rũa, ý cú thật khó chế tạo.

47- Tư Không Đồ nói: Thơ có 24 phẩm:

                          1- Hùng hồn (Hùng hồn);

                          2- Sung đạm (Điềm tĩnh);

                          3- Tiêm nùng (Tinh tế mà nồng nàn);

                          4- Thâm trước (Đào sâu mà rõ);

                          5- Cao cổ (Cao siêu cổ kính);

                          6- Điển nhã (Điển nhã);

                          7- Tẩy luyện (Sạch sẽ, điêu luyện);

                          8- Kinh kiện (Cứng mạnh);

                          9- Ỷ lệ (Xinh đẹp);

                        10- Tự nhiên (Tự nhiên);

                        11- Hàm súc (Hàm súc);

                        12- Hào phóng (Hào phóng);

                        13- Tinh thần     (Tinh thần);

                        14- Thân mật (Kín đáo);

                        15- Sơ nhã (Sơ sài mà nhã nhặn);

                        16- Thanh kỳ (Thanh kỳ);

                        17- Ủy khúc (Ủy khúc);

                        18- Thực cảnh (Thực cảnh);

                        19- Bi khái (Xót thương mà cảm khái);

                        20- Hình dung (Hình dung);

                        21- Siêu nghệ (Tuyệt vời);

                        22- Phiêu dật (Phấp phới);

                        23- Khoáng đãng (Khoáng đãng);

                        24- Lưu động (Lưu động);

48- Hứa Ngạn Chu nói: “Làm thơ có năm phép”:

                        1- Thể chế;

                        2- Cách lực;

                        3- Khí tượng;

                        4- Hứng thú;

                        5- Âm tiết.

Thơ có 9 phẩm:

1- Cao, 2- Cổ, 3- Thâm, 4- Viễn, 5- Hùng, 6- Hồn, 7- Phiêu dật (bay bướm), 8- Bi tráng (thương xót mà hùng tráng), 9- Thê uyển (thê thảm mà dịu dàng).

Thơ có ba sự khéo:

                        1- Khởi kết (Khởi đầu và kết thúc);

                        2- Cú pháp (Phép đặt câu);

                        3- Nhãn tự (Chữ tinh luyện làm chủ não trong thơ).

Thơ có 2 đại khái (Hai phong cách lớn):

                        1- Ưu du bất bách (Thong thả không vội);

                        2- Thống khoái (Thống thiết khoái ý).

Thơ có một cực trí (hay nhất), là nhập thần (vào đến chỗ thần diệu).

Học thơ không cần trước đề (chú ý vào đề) quá; không cần về nhiều sự kiện. Áp vận không cần có xuất xứ; dùng việc không cần lai lịch. Hạ chữ, quí cho kêu; đặt lời, quí cho tròn; ý quí thấu triệt, lời quí trôi chảy.

Nói, kỵ thẳng. Ý, kỵ nông. Mạch, kỵ lộ. Thi vị, kỵ ngắn. Âm vận, kỵ tán hoãn và bách xúc. Từ khí (lời thơ) lên bổng xuống trầm (hiệt hãng), không nên trái ngước (quai lệ). Bàn về thơ đến như thế, không còn sót gì nữa.

Nhưng lại thử bàn lại. Thơ phát khởi tự  trong lòng người ta. Ba trăm bài thơ trong Kinh Thi, phần nhiều là của nông dân, phụ nữ làm ra, mà cũng có những bài mà văn sĩ đời sau không theo kịp được, như thế là vì nó chân thật.

Những bài ca, bài hành của Nhạc phủ, đời Hán, đời Ngụy, còn có ý vị đời cổ. Từ đấy về sau, bó buộc về thanh luật, hạn chế về âm vận, người có tài còn lo vấp váp, người vô tài khổ về câu nệ, mà lời thơ ở tự trong tâm phát ra không được thực.

Cho nên, ta thường cho làm thơ có ba điểm chính: một là Tình, hai là Cảnh, ba là Sự. Thiên lãi (tiếng sáo thiên nhiên) [Thiên lãi: Sáo trời. Đó tức là tiếng của người nói, tự nhiên thành văn, không phải cầu kỳ, điêu luyện, như tiếng gió thoảng qua, gọi là Thiên Lãi].

Trong ba điều cốt yếu ấy, lại nên lấy ôn nhu, đôn hậu, làm gốc. Còn như thể thế, chỉ thú, âm tiết, cách điệu, đều là bàn thêm thôi.

Tình là người, cảnh là trời, sự là hợp cả trời đất mà quán thông. Lấy tình tham cảnh, lấy cảnh hội việc, gặp việc thì phát ra lời nói, nhân nói thành tiếng. Cảnh không hẹn đến mà tự đến, nói không mong hay mà tự hay, cứ như thế có thể lên đến bậc thơ tao nhã được.

Những lời bàn của tiên hiền cũng không ngoài điều ấy.

Trong bài Thí bút, Âu Dương Tu có nói: “Làm thơ nên đọc nhiều thơ của người đời xưa và đời nay, lối văn khác cũng thế”. Cho nên các bậc tiền bối nước ta thường nói: “Thi thiên, phú bách, văn sách năm mươi” (Thuộc kỹ nghìn bài thơ trăm bài phú, và 50 bài văn sách) có thể quyết khoa được.

TRẦN VĂN GIÁP dịch

Leave a Reply