Về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa*


Trần Thị Phương Phương

Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là một phạm trù lịch sử. Và ta nên xem xét nó trong hoàn cảnh lịch sử đặc thù; gạn lọc, kế thừa thành tựu, cái mạnh, cái hay, thay thế đổi mới những điểm còn yếu, còn áp đặt. Không vì Liên Xô tan vỡ mà đập vỡ luôn, chôn vùi luôn cả những thành quả văn học nghệ thuật một thời; những sáng tạo cá nhân tuy có gắn với thời thế, thời đại… vẫn là tâm huyết, tài năng. Chẳng hạn hiện nay đã có Bách khoa toàn thư về Sholokhov (2013), hay các tác phẩm điện ảnh kinh điển như Chiến hạm Potemkin, Đàn sếu bay qua, Bài ca người lính… Tính nhân dân, tính nhân văn, niềm tin yêu lạc quan về con người, về lịch sử… có bao giờ lại cũ. Mặc cho bao khó khăn, phức tạp, thiếu ánh sáng lý tưởng trên đường đi tới, chiến tranh, cạnh tranh, cái Ác đôi khi lộng hành, nhân loại vẫn không mất hy vọng. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa không phải là hướng sáng tác duy nhất, độc tôn; và về lý luận ta còn phân vân về cái gọi là phạm trù phương pháp, về sự lắp ghép xã hội chủ nghĩa vào hiện thực còn đơn giản, và nhiều lúc còn điển quy vội vã… còn trong thực tế, đôi khi nó đã bị diễn dịch thô thiển… Nhưng ta vẫn cần công nhận là trong một thời khắc lịch sử nó đã lập nên kỳ tích. Và không có kỳ tích nào là không có tì vết, nhưng dù có tì vết nó vẫn là kỳ tích! Rẻ rúng nó là không có trái tim, không còn ký ức

H.V.

Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là vấn đề được bàn tới nhiều cả trong thời đại Xô viết lẫn thời hậu Xô viết.

Trong nghiên cứu văn học Xô viết, vấn đề nguồn gốc của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa (XHCN) thường được gắn với hệ tư tưởng mác xít. Các nhà nghiên cứu Xô viết cho rằng tuy chủ nghĩa hiện thực XHCN không đồng nhất với chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (điều đã là nguyên nhân của những tranh luận thập niên 1920 với RAPP), nhưng người nghệ sĩ hiện thực XHCN là người chia sẻ thế giới quan duy vật biện chứng và điều đó cho phép người nghệ sĩ phản ánh chân thật hiện thực lịch sử. Trên phương diện hiện thực lịch sử, chủ nghĩa hiện thực XHCN thường được đặt trong thế đối lập với văn học quá khứ: nó chỉ xuất hiện vào thời đại của cách mạng vô sản và XHCN. Cuộc cách mạng đó là chất liệu sống, là mảnh đất trên đó một phương pháp sáng tác mới được nảy sinh(1).

Cuối thời Xô viết và thời gian đầu sau khi Liên Xô sụp đổ (cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990), việc lý giải nguồn gốc chủ nghĩa hiện thực XHCN dựa vào những yếu tố ngoại văn học vẫn tiếp tục, nhưng theo xu hướng khác: cho rằng “chủ nghĩa hiện thực XHCN là sáng tạo của hệ thống chính quyền toàn trị muốn điều hành tất cả từ sản xuất xà bông bột đến thơ ca và văn xuôi”(2).

Tuy nhiên, những quan tâm lý giải nguồn gốc của chủ nghĩa hiện thực XHCN từ chính bản chất văn học của hiện tượng này, dĩ nhiên vẫn trong tương quan với điều kiện lịch sử xã hội trong đó nó được hình thành và phát triển, ngày càng được chú ý hơn. Và những nghiên cứu tập trung chủ yếu vào sáng tác của Maxim Gorky – người được coi là cha đẻ của văn học hiện thực XHCN.

(…)

Ngày 23-2-1932, Bộ chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô ra nghị quyết về việc “cải tạo các tổ chức văn học nghệ thuật”, trong đó khẳng định vai trò của các tổ chức vô sản trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật đối với việc củng cố những quan điểm văn học và nghệ thuật vô sản. Tuy nhiên, cùng với sự lớn mạnh của đội ngũ nhà văn vô sản, khuôn khổ của các tổ chức như RAPP, VOAPP (Hiệp hội các nhà văn vô sản) trở nên chật hẹp và cản trở quy mô phát triển sáng tạo nghệ thuật, đồng thời hơn thế nữa chúng có nguy cơ bị biến thành phương tiện khuyến khích sự hẹp hòi, khép kín mang tính hội nhóm. Bởi vậy, Bộ chính trị Trung ương Đảng đã ra quyết nghị “xóa bỏ Hiệp hội các nhà văn Nhà văn Maxim Gorky vô sản (VOAPP, RAPP), thống nhất tất cả các nhà văn ủng hộ đường lối của chính quyền Xô viết và mong muốn tham gia vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội vào một liên hiệp thống nhất các nhà văn Xô viết với thành phần cộng sản chủ nghĩa trong đó”(3). Tổ chức thống nhất đó là Hội Nhà văn Liên Xô.

Ba tháng sau nghị quyết của Bộ Chính trị, thuật ngữ “chủ nghĩa hiện thực XHCN” lần đầu tiên xuất hiện trên báo Văn Học (23-5-1932), như một sự đối lập với luận điểm của RAPP đồng nhất máy móc những phạm trù triết học với văn chương (“phương pháp sáng tác duy vật biện chứng”) bằng một khái niệm đáp ứng xu hướng phát triển văn học Xô viết: một mặt nó thừa nhận vai trò của những truyền thống của văn học hiện thực quá khứ, mặt khác khẳng định những phẩm chất mới của chủ nghĩa hiện thực (xã hội chủ nghĩa) được tạo ra bởi đời sống xã hội mới và bởi thế giới quan mới của các nhà văn Xô viết. Mặc dù trước đó, các nhà văn (Gorky, Mayakovsky, A.Tolstoy, Fadeev) và các nhà phê bình (Lunacharsky, A.K.Voronsky) đều đã thử đặt tên cho xu hướng mới này: chủ nghĩa hiện thực vô sản, chủ nghĩa hiện thực có định hướng, chủ nghĩa hiện thực kỳ vĩ, chủ nghĩa hiện thực anh hùng, chủ nghĩa hiện thực lãng mạn…, tuy nhiên tên gọi “chủ nghĩa hiện thực XHCN” nhanh chóng được phổ biến rộng rãi. Tại Đại hội lần thứ nhất Hội Nhà văn Liên Xô năm 1934, nó được chính thức đưa vào Điều lệ của Hội. Gorky trong báo cáo đọc tại đại hội đã nói về phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa như một cương lĩnh sáng tạo hướng tới hiện thực hóa những tư tưởng nhân văn cách mạng:

“Chủ nghĩa hiện thực XHCN khẳng định tồn tại là hành động, là sáng tạo mà mục đích của nó là sự phát triển không ngừng những khả năng quý giá nhất của cá nhân để chiến thắng những lực lượng tự nhiên, vì sức khỏe và sự trường thọ của con người, vì hạnh phúc vĩ đại được sống trên thế gian”(4).

Tóm lại, thập niên 1920 và 1930 là thời kỳ bắt đầu công cuộc xây dựng nhà nước Xô viết liên bang sau Cách mạng tháng Mười (1917) và nội chiến (1918-1921). Cái chết của Lenin năm 1924 đánh dấu sự chuyển giao quyền lãnh đạo đất nước sang Joseph Stalin (1879-1953), bắt đầu một thời đại được gọi tên là “thời đại Stalin” (từ giữa thập niên 1920 đến 1953). Khi nói về thời đại này, trong các tài liệu phương Tây cũng như tài liệu Nga thời kỳ cải tổ và hậu Xô viết, người ta thường nhấn mạnh đến sự hình thành chế độ chuyên chế toàn trị, những cuộc đàn áp đối với một số giai tầng xã hội và sắc tộc, cuộc tập thể hóa nông thôn dẫn đến sự sa sút của nông nghiệp ở giai đoạn đầu và nạn đói những năm 1932-1933, những tổn thất, thương vong và việc chia rẽ thế giới thành hai thế lực thù địch, mở đầu cho cuộc “chiến tranh lạnh” hậu thế chiến thứ hai.

Tuy nhiên, một sự thực khác không thể phủ nhận về “thời đại Stalin” là công cuộc công nghiệp hóa mạnh mẽ đất nước, là chủ nghĩa anh hùng của quần chúng nhân dân trong lao động và chiến đấu, là chiến thắng trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại 1941-1945, là việc Liên Xô trở thành một cường quốc với những tiềm lực mạnh mẽ về khoa học, công nghiệp và quân sự, có ảnh hưởng chính trị to lớn trên phạm vi toàn cầu mà trước đó chưa từng có.

Sự khởi đầu của một “thời đại Stalin” như thế thực chất là sự khởi đầu của văn hóa Xô viết. “Thời đại mới – bài ca mới”, giữa những khuynh hướng văn học hiện thực và phi hiện thực (hay hiện đại chủ nghĩa) trong văn học Nga ba thập niên đầu thế kỷ, xu hướng văn học vô sản đã nổi lên như một hiện tượng đáp ứng tinh thần của thời đại. Những cuộc thảo luận cuối thập niên 1920 – đầu thập niên 1930 là để đưa đến việc “chính danh định phận” cho nó: chủ nghĩa hiện thực XHCN như một phương pháp sáng tác mới và trở thành chủ đạo của văn học Xô viết. Sự tham gia không chỉ của các nhà hoạt động văn học, văn hóa, mà cả các chính trị gia, các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng vào việc này khiến nảy sinh quan niệm đã thành “truyền thống” về chủ nghĩa hiện thực XHCN gắn với chính trị nhiều hơn là với văn học (cả với nghĩa tích cực lẫn tiêu cực): đó là sự phản ánh hiện thực “trong sự phát triển cách mạng” kết hợp “cải tạo và giáo dục tư tưởng theo tinh thần XHCN” (Điều lệ Hội Nhà văn Liên Xô, 1934), là “sự tiếp tục học thuyết của Lenin về tính đảng trong văn học” (Đại bách khoa toàn thư Xô viết, 1947), là “bóng ma lý luận” “sáng tạo của Stalin những năm 1930” (L.P. Egorova, P.K. Chekalov, Lịch sử văn học Nga thế kỷ XX, 1998) , là “nghệ thuật được giới quan liêu trong Đảng chào mời, phục vụ những nhu cầu của xã hội toàn trị trong việc hình thành ‘con người mới’” (Yu.B. Borev, Mỹ học, 2002).

Tuy nhiên, nếu nhìn vào nội dung của những ý kiến thảo luận ở thập niên 1920-1930, có thể thấy cái thực sự được quan tâm ở xu hướng văn học này chính là đặc thù “văn học” của nó: văn học hiện thực XHCN gắn bó với những tư tưởng triết học nhưng không đồng nhất với triết học, phản ánh hiện thực thời đại cách mạng nhưng không phải là “biên bản”, là “tuyên truyền”. Đồng thời, việc người ta nhắc nhiều đến mối liên hệ giữa chủ nghĩa hiện thực XHCN với những xu hướng văn học khác, đặc biệt là với chủ nghĩa hiện thực phê phán và chủ nghĩa lãng mạn, một mặt cho thấy phần nào bản chất linh hoạt và sống động của chủ nghĩa hiện thực XHCN, mặt khác cho thấy sự đa dạng phong phú của đời sống văn học Xô viết “thời đại Stalin”, nơi không phải chỉ có sự thống trị của những giáo điều mang tính chính trị. Điều này có thể giúp lý giải sự hiện diện của những Cuộc đời Klim SamginSông Đông êm đềm… bên cạnh những Người mẹĐất vỡ hoang… trong sáng tác của các nhà văn hiện thực XHCN “kinh điển” như Gorky, Sholokhov, cũng như giúp hiểu được sự chuyển biến của nó vào thời kỳ cuối của sự phát triển ở các thập niên 1960-1980.

Có thể chỉ ra ba nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa hiện thực XHCN:

1) Tính nhân dân: khái niệm này có thể được hiểu là sự gần gũi, dễ hiểu đối với quần chúng lao động cả về đề tài lẫn hình thức thể hiện.

2) Tính tư tưởng: miêu tả đời sống thế tục của nhân dân, sự kiếm tìm những con đường đi đến một cuộc sống mới mẻ, tốt đẹp hơn, những hành động anh hùng để đạt được cuộc sống tốt đẹp đó cho mọi người.

3) Tính cụ thể lịch sử: trong khi miêu tả hiện thực chỉ ra tiến trình phát triển lịch sử, thể hiện quan điểm duy vật về lịch sử (sự thay đổi những điều kiện lịch sử xã hội sẽ dẫn đến những thay đổi trong nhận thức, trong thái độ đối với hiện thực).

(…)

Các thập niên 1960-1980, xét từ phương diện chính trị xã hội, có thể được gọi tên là “thời Khrushchev và hậu Khrushchev”. Đỉnh điểm quá trình “giải Stalin” một cách đại trà diễn ra vào đầu thập niên 1960: năm 1961, thi hài Stalin bị đưa ra khỏi lăng Lenin trên Quảng trường Đỏ, thành phố Stalingrad đổi tên thành Volgograd, các tượng đài Stalin bị dỡ bỏ, cuộc biểu tình ủng hộ Stalin ở Tbilisi (Gruzia) bị đàn áp. Sau những chấn động chính trị giữa thập niên 1950 là những cải cách, “kế hoạch bảy năm” (1959-1965) thay cho “các kế hoạch năm năm” truyền thống trong kinh tế kế hoạch nhà nước. Đó là một số biến cố trong đời sống chính trị xã hội “thời Khrushchev”. Năm 1964, những diễn biến phức tạp trong nội bộ lãnh đạo dẫn đến việc Khrushchev phải rời bỏ chức vụ lãnh đạo tối cao của Liên Xô, người thay thế là L.I. Brezhnev. Thời kỳ lãnh đạo của Brezhnev kéo dài 18 năm, và vào thời cải tổ, nó được gọi bằng cái tên “thời kỳ trì trệ” (period zastoia, thuật ngữ được cho là bắt nguồn từ báo cáo chính trị do M. Gorbachev đọc tại Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 27 năm 1986). Thực ra, không hẳn giai đoạn này không có những thành tựu: năm 1980, Liên Xô đứng đầu châu Âu và đứng thứ hai thế giới về về tổng sản lượng công nghiệp (nếu như năm 1966, tổng sản lượng của Liên Xô chỉ bằng 55% so với Mỹ, thì năm 1980 đã là 80%). Các ngành khoa học vũ trụ, năng lượng hạt nhân và hàng không của Liên Xô thuộc hàng tiên tiến nhất thế giới. Đây là thời kỳ phát triển hết sức mạnh mẽ việc xây dựng hệ thống giao thông, các công trình nhà ở của dân cư để đáp ứng quá trình đô thị hóa mạnh mẽ (hệ thống tàu điện ngầm được xây dựng ở 11 thành phố, 1,6 tỉ mét vuông nhà ở đã được xây dựng, cung cấp nhà ở miễn phí cho 162 triệu dân; một trong những ví dụ phản ánh điều này trong nghệ thuật là bộ phim nổi tiếng của đạo diễn Eldar Razyanov Số phận trớ trêu). Sau 18 năm lãnh đạo của Brezhnev, thu nhập thực tế của người dân Xô viết tăng 1,5%. Từ năm 1966 toàn Liên Xô đã thực hiện được phổ cập bậc trung học, sách giáo khoa được phát miễn phí cho học sinh các cấp học bên dưới. Liên Xô chiếm vị trí hàng đầu trên thế giới về số lượng chuyên gia có trình độ đại học(5).

Những người ủng hộ quan niệm về sự trì trệ của thời kỳ Brezhnev cho rằng nguyên nhân sự ổn định kinh tế giai đoạn này là do cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới đầu thập niên 1970 đã khiến Liên Xô trở thành nước xuất khẩu dầu khí hàng đầu(6). Tuy nhiên, nhiều lĩnh vực sản xuất không liên quan đến tài nguyên khoáng sản phát triển rất chậm, đất nước lệ thuộc vào nhập khẩu hàng tiêu dùng và lương thực, do sản xuất trong nước không hiệu quả và chất lượng thấp, tình trạng khan hiếm hàng hóa kéo dài.

Sự ổn định kinh tế cũng tạo sức ì cho giới lãnh đạo, khiến họ không có động lực để đổi mới, hiện đại hóa, nhất là trong lĩnh vực công nghệ. Tình trạng tham nhũng trở thành một vấn nạn lớn. Sự kiện mùa xuân 1968 ở Tiệp Khắc, việc đưa quân vào Afghanistan là hai trong số các ví dụ về sự phức tạp về chính trị đối ngoại. Trong nước được cho là có quá trình “ngấm ngầm phục hồi Stalin”, xuất hiện một “chủ nghĩa Stalin mới”(7). Những điều đó đã dẫn đến cuộc cải tổ (perestroika) 1986-1990, mà kết quả của nó hiển nhiên là một sự thất bại với cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng và sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1991.

Trong một bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội như vậy, đời sống văn học dĩ nhiên cũng hết sức đa dạng. Những mặt tích cực tiếp tục tìm thấy sự phản ánh với tinh thần khẳng định, tuy nhiên những thái độ bất bình trước những tiêu cực, những mặt tối của xã hội Xô viết khiến xuất hiện dòng văn học chống đối (dissidence(8)) hoặc của những người Nga lưu vong (hiện tượng “tamizdat” – “xuất bản ở bên đó”), hoặc của những nhà văn trong nước xuất bản không công khai (văn học “dưới hầm” hay “samizdat” – “tự xuất bản” – dòng văn học này cũng đồng thời mang mầm mống của chủ nghĩa hậu hiện đại). Tuy nhiên, ngay trong bản thân dòng văn học hiện thực XHCN, những xu hướng phê phán cũng ngày càng xuất hiện nhiều hơn. Những thảo luận về chủ nghĩa hiện thực XHCN thập niên 1960 đã chỉ ra điều này.

(…)

_____

* Các đoạn trích lấy từ công trình “Những vấn đề văn học Nga hiện đại” (Chương 2: “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Nga hiện đại”) của PGS-TS Trần Thị Phương Phương (Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh). Do số trang có hạn, Hồn Việtchỉ có thể trích in một số đoạn. Các bạn có thể tìm đọc cả chuyên luận này với toàn cảnh văn học Nga thế kỷ XX khi nó được xuất bản trong thời gian tới.

(1) Có thể xem các công trình như: V.P. Shcherbina và các tác giả khác, Nguồn gốc và sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa: Những tư liệu nghiên cứu vấn đề (Tin tức Viện Hàn lâm Liên Xô. Ban Văn học và ngôn ngữ, Moskva 1957) hay: B.V.Veimarn và các tác giả khác, Lịch sử nghệ thuật đại cương, tập VI, Moskva 1966 (Bản tiếng Nga).

(2) Dobrenko E.A. (biên soạn), Giải phóng khỏi những ảo ảnh. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa hôm nay. Tuyển tập các bài báo, Moskva, NXB Nhà Văn Xô viết, 1990 (Bản tiếng Nga).

(3) Nghị quyết Bộ chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô “Về việc cải tổ các tổ chức văn học nghệ thuật” ngày 23-4-1932 (Bản tiếng Nga trên Internet: http://www.hist.msu.ru/ER/Etext/USSR/1932.htm).

(4) Đại hội toàn liên bang Hội Nhà văn Liên Xô lần thứ nhất năm 1934, Biên bản tốc ký, Moskva: NXB Nhà Văn Xô viết, 1990, tr.17 (Bản tiếng Nga).

(5) Số liệu lấy từ: Kinh tế quốc dân Liên Xô, Cứ liệu thống kê, Ủy ban Thống kê nhà nước Liên Xô (Bản tiếng Nga trên Internet:http://publ.lib.ru/ARCHIVES/ N/’’Narodnoe_hozyaystvo_SSSR’’/_’’Narodnoe_ hozyaystvo_SSSR’’.html).

(6 W. Easterley and S. Fischer, The Soviet Economic Decline: Historical and Republican Data, (http:// www.jstor.org/pss/2534530). William Nordhaus, Soviet Economic Reform: The Longest Road (http:// www.nber.org/papers/w4735).

(7) Theo: Shaw, Denis J.B., Russia in the Modern World: A New Geography, Wiley-Blackwell, 1999, tr.81-84.

(8) Vào những năm 1960, thuật ngữ “dissidence” (chống đối) được đưa vào sử dụng để chỉ phong trào đối lập ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Thuật ngữ vốn ban đầu được dùng ở phương Tây, ở Nga thời hậu Xô viết nó cũng được sử dụng rộng rãi. Những “người chống đối” (dissident) chống lại chủ nghĩa toàn trị (totalitarism) mà họ cho rằng đang tồn tại trong xã hội Xô viết, nhưng không chủ trương dùng bạo lực để chống lại chế độ Xô viết và hệ tư tưởng mác xít, mà bày tỏ sự hoài nghi và kháng nghị đối với những đạo luật và các giá trị chính thống của chế độ Xô viết. Các tác phẩm của họ dưới thời Xô viết thuộc dạng “dưới hầm” (xuất bản không chính thức, tự xuất bản hoặc xuất bản ở nước ngoài).

Nguồn: http://honvietquochoc.com.vn

Leave a Reply