Về một tiểu thuyết đang có nhiều ý kiến bàn cãi (Đọc Những thiên đường mù)


Phạm Quang Long

Xung quanh một số tập truyện ngắn của Dương Thu Hương dư luận độc giả tương đối gần nhau trong sự khen chê, riêng với tiểu thuyết, từ Hành trình ngày thơ ấu đến Bên kia bờ ảo vọngNhững thiên đường mù lại gây ra nhiều ý kiến đánh giá khác nhau trong đó có những ý kiến đánh giá trái ngược nhau. Âu cũng là lẽ thường.

Nhưng xung quanh mấy cuốn tiểu thuyết của Dương Thu Hương có một số ý kiến đã bàn đến động cơ, thái độ của người viết đối với hiện thực, đã bàn đến cả những ẩn ý, những nghĩa ngầm của tác phẩm. Vấn đề không còn nhỏ nữa. Nó đụng tới nhiều chuyện trong và ngoài văn chương, và nếu không tỉnh táo sẽ dẫn đến những kết luận làm rối thêm không khí văn nghệ hiện nay.

Còn nhớ trong một lần trả lời phỏng vấn phóng viên báo Tiền Phong về chuyện đời và chuyện văn của mình, Dương Thu Hương đã tâm sự: Bộ ba Những thiên đường mù, Quãng đời đánh mất và Dã thú trong vườn (chưa xuất bản) là những phần khác nhau của một bộ tiểu thuyết. Nói tới một bộ tiểu thuyết nhiều tập, chúng ta thường nghĩ ngay tới một bộ sách có chung một chủ đề lớn, xung quanh một vài nhân vật chính sẽ có mặt trong tất cả các phần. Nhưng với Dương Thu Hương, tiểu thuyết bộ ba của chị chỉ thống nhất gắn bó với nhau về chủ đề, và cách đánh giá của tác giả trước các hiện tượng xã hội, về cách đặt vấn đề táo bạo và gay gắt về những “ca” giải phẫu các căn bệnh của xã hội để truy tìm căn nguyên của nó mà thôi. Thực ra, không phải chỉ đến những cuốn tiểu thuyết này Dương Thu Hương mới bộc lộ một số điều từ đó dễ gây ra tranh luận trong độc giả. Những tư tưởng đó, những nhân vật kiểu đó đã xuất hiện trong các truyện ngắn trước; chỉ có điều là ở truyện ngắn những yếu tố đó mới chỉ bộc lộ những nét khởi đầu của một xu hướng thì câu chuyện đã kết thúc. Ở tiểu thuyết, có lẽ chị mới có dịp phanh phui hết những lắt léo, để cho sự vật phơi bày ra trước độc giả. Chưa vội nói đến cái xuất phát điểm của hướng đi này đúng sai ra sao, ở đây tôi chỉ muốn nói tới một đặc điểm dễ nhận thấy nếu đặt các trang viết của Dương Thu Hương cạnh nhau. Tôi không nghĩ rằng Dương Thu Hương cũng giống như phần đông nhà văn hiện nay đang đổ xô vào phê phán quá khứ và những biểu hiện lỗi thời, tiêu cực, cản trở xu thế đi lên của thời đại. Nhiều cuốn tiểu thuyết, nhiều tập truyện ngắn đã viết về hiện thực với một cái nhìn, một tâm sự như vậy. Tôi hoàn toàn không đồng ý với quan niệm cho rằng viết về cái xấu, cái ác trong xã hội ta hiện nay chỉ là đi tìm căn nguyên của nó trong những tàn dư của tư tưởng cũ “lối sống cũ” hay trong “những ảnh hưởng tai hại của chủ nghĩa thực dân, của lối sống hưởng thụ tư sản”. Và hễ viết về cái ác, cái xấu thì phải dè chừng kẻo lại mắc mưu kẻ thù, dễ bị địch lợi dụng.

Hình như Antoconxki có nói rằng: Kẻ nào chạy trốn quá khứ thì không thể nào yên ổn trong hiện tại. Ta không bới quá khứ ra, nhưng cần phải suy nghĩ về quá khứ một cách nghiêm túc và tỉnh táo để sống cho hiện tại và thương lai. Nghĩ như vậy chắc sẽ có ích ít nhiều.

Nhìn lại một chút, có thể thấy tuy không nằm trong bộ ba Những thiên đường mù, Quãng đời đánh và Dã thú trong vườn nhưng Bên kia bờ ảo vọng cũng gần gũi với những cuốn nói trên. Vấn đề mà Dương Thu Hương nêu ra trong cuốn tiểu thuyết này tuy đúng hướng song cách thể hiện, cốt truyện lại không phù hợp với nó. Quả là như một nhà nghiên cứu đã nói, đây là một trong số những “cốt truyện đàn bà” nó là cái áo sơ mi quá chật dành cho một cơ thể cường tráng. Mặt khác, một số chi tiết về cốt truyện ấy lại quá hạn hẹp, chưa thoát ra ngoài chất liệu nên đã làm phương hại tới ý định của tác giả. Và dĩ nhiên điều này cũng làm cho không ít độc giả phải thất vọng.

Những thiên đường mù mang một ý nghĩa khác. Có thể coi việc Dương Thu Hương quay trở lại một trong những đề tài phức tạp này là một sự dũng cảm. Cần nói thêm rằng ở cuốn tiểu thuyết này, ngòi bút vốn đã có sức công phá khá mạnh lại càng tỏ ra xông xáo khi dựng lên một số nhân vật đại diện cho cái xấu, cái ác, cho những thói giả trá, đê tiện nhưng lâu nay vẫn khoác áo đạo đức, rao giảng luân lý. Tôi hoàn toàn không tán thành lối đánh giá tác phẩm mà lại cứ chăm chú vào việc đi tìm xem nhân vật này khoác cái áo xã hội gì, nhân vật kia giữ vai trò gì, rồi từ đó đối chiếu với những quy ước những tiêu chuẩn (cũng đầy tính ước lệ) mà loại người đó được xã hội thừa nhận, để xác định ý nghĩa tác phẩm rồi suy diễn về thái độ của nhà văn đối với xã hội. Chúng ta đã phải trả giá cho những ấu trĩ của mình trong vấn đề này. Đã có một thời, người ta lầm lẫn giữa các giá trị bằng cách đánh đồng giữa tên gọi với phẩm chất của sự vật, sở dĩ phải dài dòng như vậy vì Những thiên đường mù có đề cập đến thời kỳ cải cách ruộng đất và những sai sót của nó, đến những cá nhân cán bộ tuyên huấn hành động như những con rối… và vì thế đã có người vội vã đưa ra kết luận về động cơ của tác giả là không trong sáng. Vấn đề này đúng hay sai và mức độ của nó thế nào cần phải xem xét một cách kỹ lưỡng trên văn bản, trong hệ thống nghệ thuật của nhà văn.

Thực ra Những thiên đường mù không chỉ nhằm một mục đích là viết lại một trong những thời kỳ có nhiều bi kịch của dân tộc, mà nhà văn cố gắng lý giải một vấn đề khác có gắn với nó. Chúng ta đã phải trả giá, phải tiếp tục giải quyết những hậu quả của nó và cuốn tiểu thuyết này chỉ bắt đầu từ đó hoặc coi đó như một cái mốc cho những biến cố tiếp theo mà thôi.

Câu chuyện bắt đầu từ bức điện khẩn của một học viên trường Đảng Liên Xô là Chính gửi cho Hằng – cô cháu gái đang lao động ở một thành phố cách Moskva hơn một nghìn kilomet với nội dung “Cậu ốm nặng, Hằng lên ngay”. Cô cháu gái đã ngần ngại trước khi quyết định, vì cô vừa từ bệnh viện trở về, và vì những ấn tượng không đẹp về ông cậu từ khi còn ở trong nước. Nhưng rồi cô vẫn lên đường và lo âu cho sức khỏe của người thân. Nhưng sự thật thực đắng cay, tàn nhẫn: ông cậu đang thiếu tiền gửi hàng về nước và muốn nhờ cô cháu trong “phi vụ” không mấy dễ chịu này. Cuộc hành trình của Hằng lên Moskva gắn liền với cuộc hành trình trong tâm tưởng ngược dòng thời gian về với những số phận bi thảm vật vã, những chứng nhân và căn bệnh của thời đại. Có thể nói ngay rằng kết cấu cuốn tiểu thuyết theo kiểu này không phải là mới mẻ và chứa đựng một nguy hiểm: rất dễ sơ lược, nhàm chán. Song Dương Thu Hương trong Những thiên đường mù là đã xây dựng được một loạt nhân vật.

Dương Thu Hương không giấu giếm thái độ phê phán quyết liệt với những loại nhân vật như Chính và vợ anh ta. Ở con người này sự ngu dốt, thói đê tiện, chủ nghĩa cơ hội, thói che đậy, đạo đức giả và ích kỷ – ích kỷ đến tàn nhẫn là đặc điểm cơ bản nhất. Không ít trường hợp ta phải sửng sốt, kinh hoàng trước con người này. Chính là kẻ đã phá nát hạnh phúc gia đình người chị do ngu dốt, ích kỷ, và cũng vì ích kỷ và cơ hội, Chính cứ như một thứ nhựa độc của cuộc đời ám ảnh, gây tai họa cho mẹ con Hằng và cho biết bao người. Bản chất của Chính như lời của một nhân vật khác đánh giá, là kẻ “đã hao phí gần hết đời sống của mình vào việc vẽ nên một thiên đường dưới trần ai, nhưng trí khôn ngắn ngủi (…) lại không đủ để hiểu thiên đường ấy ra sao và con đường nào đưa tới nó…” Vì thế, khi biết công việc ấy hão huyền thì… “hối hả tìm kiếm miếng ăn thực, nhặt nhạnh những hạt ngũ cốc thực trên mảnh đất bùn lầy”. Chính và những người như hắn đã làm những việc ấy bằng bất kỳ cách nào. “Họ là tấn thảm kịch của chính họ, là tấn thảm kịch cho thế hệ chúng ta” (tr.245). Quả là đích đáng nhưng cũng quả là cay độc, tàn nhẫn. Với Chính, Dương Thu Hương đã “xuống tay” quá nặng. Chị mổ xể cái lối sống của Chính, kiểu hành động máy móc giáo điều theo những nguyên tắc mới thoạt nhìn tưởng là bền vững lắm, nhưng thực ra nó lại quá mỏng mảnh, chỉ cần một tác động rất nhẹ của xã hội là đã tơi tả đến thảm hại. Sự nhẫn tâm của Chính trước đau khổ của người chị gái có thể lý giải được, nhưng sự vô đạo của hắn thì đã trở thành quá quắt (đoạn trao đổi giữa Chính và Hằng khi cô cháu tới báo tin mẹ cô bị tai nạn). Ở đây, tài năng đã không giúp gì được cho nhà văn. Hình như ngòi bút của Dương Thu Hương đã thu nhặt tất cả thói xấu và sự bất cập của con người rồi dồn vào nhân vật này. L. Tolstoi có nói “tình yêu là tài năng”. Dường như ở đây do chị thiếu cái nhìn tỉnh táo của tình yêu đối với con người nên đã đẩy nhân vật của mình đi quá cái giới hạn cần thiết. Chị quyết liệt tới sắc lạnh, bạo liệt. Lỗ Tấn hay N. Gogol khi viết về những cái xấu của nhân dân mình, dân tộc mình cũng rất dữ dội, rất sắc sảo, nhưng đằng sau các trang viết ấy ta cảm nhận được một tình yêu sâu sắc yêu đến đau xót một đối tượng còn nhiều sai lầm, thiếu hụt, què quặt nhưng không thể chối bỏ. Ở đây, ta mới chỉ thấy chị phanh phui và phủ nhận đối tượng rồi thôi, dù cho sự phủ nhận đã có sắc lạnh. Về phương diện xây dựng nhân vật, chị cũng bị sa đà vào những cái cá biệt mà chưa chú ý đúng mức đến tính phổ biến, đến ý nghĩa khái quát của đối tượng. Nó mới chỉ là “lý trí phẫn nộ” chứ chưa phải là sự “phẫn nộ của lý trí”.

Tâm, lại là một kiểu nhân vật khác bộc lộ rõ nhất cả những mặt mạnh và mặt yếu của ngòi bút Dương Thu Hương. Nếu Chính chỉ gợi cho người đọc một cảm giác phẫn nộ và xót xa về một thời đã qua và những lầm lạc không đáng có, thì Tâm lại cứa vào ta một nỗi đau khác vì đó làm một con người bị chà đạp. Vì những thua thiệt và oan trái mà ở Tâm đã vĩnh viễn mất đi mọi tình cảm nhân hậu và yêu thương. Thay vào đó là ngọn lửa căm thù, hằn học và khát vọng trả thù. Tâm đã từng nung nấu “giá phải xé xác mình ra tôi cũng làm miễn đạt được điều tôi ao ước”. Vì không thể nguôi quên những oan ức, Tâm đã hành động theo một phương châm: oán thù chỉ nên buộc chứ không cởi. Nỗi ân hận của Tâm vào giờ phút lâm chung cũng không làm dịu lòng ta, mà trái lại càng khoét sâu thêm nỗi đau khi nhìn về quá khứ. Cái quan niệm “có vay có trả”, ân oán phải rạch ròi mà không cần xét đến những yếu tố khách quan của hoàn cảnh ở Tâm là một cái gì cố chấp và chính cô ta cũng phải trả giá cho quan niệm của mình. Lời sám hối của Tâm với cô cháu gái “cô muốn ấp ủ con, muốn che chở cho con. Vậy mà cô lại đày đọa con, cô hại con” cũng không làm cho câu chuyện bớt ảm đạm đi, cũng không an ủi được ngay cả Hằng. Cả Chính và Tâm vừa là nạn nhân vừa là nguyên nhân cho những bi kịch của chính họ.

Rõ ràng Dương Thu Hương không hề đồng tình với nhân vật của mình. Chị để cho Hằng luôn quan sát và đánh giá hành động của các nhân vật khác và dù trí óc xét đoán của cô gái này trong nhiều trường hợp chưa đủ sức phân biệt đúng sai xấu tốt, nhưng chỉ bằng những cảm nhận mang tính bản năng Hằng đã tự điều chỉnh các quan niệm mà những người thân đang cố lôi kéo cô vào ảnh hưởng của họ. Tuy không phải là nhân vật giữ vai trò kiểm chứng người khác, nhưng Hằng vẫn là nhân vật ấm áp hơn cả. Chỉ có điều đó là “một con bé không may mắn” trong cuộc đời. Và số phận của cô cũng gây cho ta nhiều day dứt, cũng như cái tâm trạng buồn thảm đầy sức ám ảnh này: “sao tôi không nhớ tới cánh đồng xanh thoáng đạt với những con diều bay lượn trên cao… Những thành phố trắng của miền Trung với các loại biển mơ màng… những con đường cheo leo lên Tây Bắc… Không hiểu sao tôi luôn bị ám ảnh bởi một cái ao bèo, những chiếc ao tù hãm, mặt nước nổi bọt vì chất thối rữa, nước nhớt nhát như một thứ dầu… mùi bèo, mùi cỏ dại, mùi bùn, mùi ếch nhái chết… những cánh hoa bèo tím giống như một thứ độc dược, một vẻ đẹp của sự xú uế”. Có thể thấy nét tâm trạng này được lặp đi lặp lại (ở các trang 134, 135, 283 v.v…) nó làm ảm đạm thêm bầu không khí vốn đã ngột ngạt, nhớp nháp. Ngay cả cái kết luận mang tính tổng kết của Hằng sau bao nhiêu thể nghiệm, nghiền ngẫm đầy xót xa cũng không làm cho mảng màu tối này bớt hắc ám đi bao nhiều. “không thể tiêu phí cuộc sống bởi những cánh hoa tàn héo, những tối tăm, lầm lạc của quá khứ mà phải hướng tới ngày mai” (tr.284). Có lẽ do mải “dồn” cho các nhân vật Chính, Thành quá nhiều những thói xấu của người đời mà chi tiết này không thể “kéo” người đọc quay sang một đối tượng khác là Hằng. Vả lại cái đối tượng ấy quá nhẹ.

Nếu coi những lời nhận xét của lãng tử Yến Thanh về những người như Chính như là chủ đề chính của tiểu thuyết, thì không thể không thừa nhận rằng Dương Thu Hương đã sắc sảo khi chọn các chi tiết giàu ý nghĩa phản diện như vậy. Sự phê phán này cũng chưa bao giờ bạo liệt và cay độc đến như thế. Nhưng hai nhân vật phản diện này, khó có thể nghĩ đến một tên gọi khác, đã bị biến thành hình nhân, thành một thứ quỷ sứ hiện hình người, một loại thần ác nào đó. Dương Thu Hương đã mắc phải một cực đoan mà cách đây mấy chục năm, người khác đã mắc phải trong khi khái quát hiện thực: sự phiến diện trong cách nhìn, cách “cảm” các vấn đề của đời sống. Cũng không thể không nhắc tới hai nhân vật loại rác rưởi của cuộc đời ở thời nào cũng có, vốn là chỗ dựa cho Chính khi thực hiện một nhiệm vụ cách mạng quan trọng: mụ Nần và thằng Bích. Cả hai tên ma cô này cùng với Chính và Thành dễ làm cho người đọc nhận thấy sự khái quát của tác giả về một giai đoạn nhiều biến động của lịch sử dân tộc ít nhiều đã bị méo mó đi. Ở điều này Những thiên đường mù gây ra nhiều ý kiến khác nhau hơn cả. Có thể nói không ngoa rằng đó là những ung nhọt của xã hội và chúng ta những độc giả vẫn mong muốn rằng nhà văn cần phải tích cực hơn, có hiệu quả hơn chữa chạy và băng bó những vết thương ấy, chứ không phải chỉ dùng con dao mổ lạnh lùng phanh phui ra các ổ vi trùng đó rồi khoanh tay nhún vai khinh bỉ và bất lực. Mặt khác, như một nhà tư tưởng, một nhà phê bình văn học lớn đã nói: trong sự thật bao gồm cả sức mạnh của tài năng. Nếu tư tưởng của tác giả sai lầm thì ngay với những tài năng lớn nhất tác phẩm cùng sẽ non kém ngay từ phương diện nghệ thuật. Điều này với Dương Thu Hương có lẽ được bộc lộ rõ nhất ở tiểu thuyết Những thiên đường mù.

Nguồn: Văn nghệ quân đội, Hà Nội, số 10 (tháng 10-1989). Rút từ chuyên đề tư liệu “Đời sống văn nghệ thời đầu đổi mới” do 2 nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân và Nguyễn Thị Bình sưu tầm, biên soạn

Leave a Reply