Về một vài chức năng của văn học


Umberto Eco

Chuyện kể rằng, và nếu không thực thì cũng đã từng được lưu truyền, một hôm Staline hỏi: “Thưa đức giáo hoàng, có bao nhiêu sư đoàn?”. Phần tiếp của các sự kiện đã chứng tỏ rằng trong một vài trường hợp các sư đoàn có vai trò quan trọng, nhưng không phải là tất cả. Tồn tại những quyền lực phi vật thể, không có ý nghĩa về mặt trọng lượng nhưng lại luôn có sức nặng.

Chúng ta bị bao quanh bởi những quyền lực vô hình giống như một học thuyết tôn giáo, những quyền lực không giới hạn ở cái mà chúng ta vẫn gọi là giá trị tinh thần. Đó chính là một thứ quyền lực phi vật thể như của những con số căn, mà quy luật của nó vượt qua hàng thế kỷ, qua các sắc lệnh của Staline hay Giáo hoàng. Trong số những quy luật đó, đối với tôi quan trọng hơn cả là quy luật của truyền thống văn học, nghĩa là tổng thể các văn bản được loài người tạo ra không vì những mục đích thực dụng (như ghi sổ kế toán, ghi chép các quy luật và công thức khoa học, ghi chép các biên bản hội nghị hay cung cấp bảng giờ tàu chạy của ngành đường sắt), mà đúng hơn là gratia sui (bởi tình yêu đối với văn bản văn học – tiếng latin-ND.), bởi bản thân tình yêu của chính họ – người ta còn đọc vì thú vui, vì nuôi dưỡng tinh thần, để mở rộng kiến văn, thậm chí là để giải sầu, mà không phải là bắt buộc (ngoại trừ vì những lý do bắt buộc mang tính trường quy).

Nói tóm lại, các đối tượng của văn học chỉ là phi vật thể một nửa, vì chúng hoá thân thành các phương tiện thường được làm từ giấy. Nhưng xưa kia, chúng hoá thân vào giọng kể của người kể lại truyền thuyết truyền miệng, hay trên các tảng đá, và ngày nay chúng ta tranh cãi về tương lai của những cuốn sách điện tử, những thứ có thể cho phép chúng ta đọc như một thứ truyện danh ngôn (truyện vui) kiểu như Thần Khúc trên một màn hình tinh thể lỏng. Tôi thích nói ngay rằng tôi không hề có ý định nói về vexata quaestio (vấn đề rắc rối-tiếng latin- ND) của cuốn sách điện tử. Tất nhiên tôi thuộc vào số những người thích đọc một cuốn tiểu thuyết hay một bài thơ bằng tập giấy, mà tôi nhớ từng chút một và những quyẻn sách có gấp góc, nhưng người ta nói với tôi rằng có một thế hệ những hacker (kẻ tấn công máy tính-ND), những kẻ không bao giờ đọc một quyển sách trong cuộc đời của mình, nay nhờ có sách điện tử (e-book) cũng lần đầu tiên đọc và yêu thích Don Quichotte. Nhận được bao nhiêu cho trí tuệ của họ thì cũng mất đi chừng ấy cho cái nhìn của họ. Nếu các thế hệ tương lai có được một mối quan hệ tốt (cả tâm lý và thể chất) với sách điện tử, thì quyền năng của Don Quichotte sẽ không thay đổi.

Vậy thứ của cải phi vật thể vốn là văn học có vai trò gì? Có lẽ chỉ cần đáp, giống như tôi đã làm, rằng đó là một thứ của cải được tiêu thụ gratia sui (bởi tình yêu đối với văn bản văn học – ND), và do đó mà nó chẳng phục vụ gì cả. Nhưng một cái nhìn coi nhẹ sự thích thú văn chương có nguy cơ biến văn học trở thành trò chạy bộ (jogging) hay trò chơi các ô chữ – cả hai vốn đều phục vụ cho cái gì đó, sức khoẻ thân thể, hay giáo dục từ vựng. Hôm nay, đieù tôi muốn là nói có một loạt các chức năng của văn học đối với đời sống cá nhân của chúng ta và đời sống xã hội.

Văn học duy trì sự hoạt động của ngôn ngữ

Trước tiên văn học duy trì sự hoạt động của ngôn ngữ như một thứ di sản tập thể. Ngôn ngữ, theo định nghĩa, đi tới nơi mà nó muốn, không một sắc lệnh nào từ bên trên, của chính trị, từ Viện Hàn lâm có thể làm nó dừng bước, và làm nó lệch hướng về những tình huống được coi là tối ưu.

Ngôn ngữ đi tới nơi mà nó muốn, song nó cũng nhạy cảm với những gợi ý của văn học. Không có Dante, sẽ không có một ngôn ngữ Italia thống nhất. Trong De vulgari eloquentia (Những bài hùng biện tầm thường – ND.), ông phân tích và kết án các phương ngữ Italia khác nhau, và dự định tạo nên một ngôn ngữ bình dân mới có tính thống nhất. Có lẽ không ai đánh cược với một hành động kiêu ngạo như vậy, tuy nhiên với Thần khúc thì ông đã giành được chiến thắng. Quả là để trở thành thứ ngôn ngữ được sử dụng khắp nơi, cần tới vài thế kỷ cho ngôn ngữ bình dân của Dante, nhưng nó đã tới đích bởi vì cộng đồng của những người tin vào văn học đã tiếp tục theo mẫu hình này. Và nếu không có mẫu hình này, ý tưởng về một sự thống nhất về chính trị có thể sẽ không bao giờ vạch ra được con đường của mình. Chắc vì điều này mà Bossi(1) không nói một thứ tiếng nói phổ thông quen thuộc.

Văn học, trong khi đóng góp vào việc tạo dựng ngôn ngữ đã tạo nên một bản sắc và một cộng đồng. Tôi đã nói về Dante, nhưng sao không thử nghĩ tới chuyện nền văn minh Hy lạp không có Homère, bản sắc Đức không có việc dịch Kinh Thánh của Luther(2), ngôn ngữ Nga không có Puskin, và văn minh Ấn Độ không có những bản sử thi khởi đầu của mình.

Nhưng việc thực hành văn học cũng duy trì sự hoạt động ngôn ngữ cá nhân của chúng ta. Hiện nay, nhiều người thấy chẳng hay ho gì sự xuất hiện của một thứ ngôn ngữ tân-điện báo (néo-télégraphique) trong thư điện tử và các văn bản mẫu của các máy tính xách tay, ở đó người ta tiến tới viết anh yêu em với một chữ viết tắt (sigle); nhưng không bao giờ được quên rằng bản thân những thanh niên trẻ này, người gửi những thông điệp trong hình thức đánh máy mới, ít nhất phần nào, cũng chính là những người chen chúc trong các giáo đường mới này của sách như các cửa hàng sách mégastore(?). Ngay cả nếu như chỉ cho lật qua mà không mua, thì họ cũng bước vào giao tiếp với những phong cách văn chương trí tuệ và tinh luyện, mà cha ông của họ chắc chắn chưa bao giờ tiếp xúc.

Việc đọc các tác phẩm văn học buộc chúng ta thực hiện trung thành và tôn trọng đối với sự  tự do trong việc cắt nghĩa tác phẩm

Có một lối phê bình tà thuyết đầy hiểm nguy, tiêu biểu cho thời đại của chúng ta, theo đó người ta có thể làm điều họ muốn từ một tác phẩm văn chương, và đọc được ở đó mọi thứ mà xung năng không thể kiểm soát nổi của chúng ta gợi ra. Không đúng. Các tác phẩm văn chương cho phép ta tự do trong cắt nghĩa, bởi vì chúng giới thiệu cho chúng ta một diễn ngôn nhiều mức độ đọc, và đặt chúng ta đối mặt trước sự mơ hồ của ngôn ngữ và đời sống. Nhưng để đi xa hơn trong trò chơi này, theo đó mỗi thế hệ đọc các tác phẩm văn chương theo cách khác nhau, cần phải được thúc đẩy bởi một sự tôn trọng sâu sắc đối với điều mà ở nơi khác tôi gọi là ý định của văn bản.

Một mặt, chúng ta có cảm tưởng rằng thế giới là một cuốn sách “đóng kín” chỉ cho phép một cách đọc duy nhất, bởi vì nếu có một quy luật chi phối lực hấp dẫn thiên thể, thì hoặc là quy luật đó chính xác, hoặc là nó sai; tương tự như thế thì vũ trụ của một cuốn sách đối với chúng ta như một thế giới mở. Nhưng hãy thử tiếp cận, một cách khách quan, một tác phẩm tự sự và đối chiếu các giả thiết mà chúng ta có thể nói về tác phẩm ấy với những giả thiết mà chúng ta phát biểu về thế giới. Về thế giới, chúng ta nói rằng các quy luật của lực hấp dẫn vũ trụ là các quy luật được Newton phát biểu, hoặc quả thực là Napoléon chết ở đảo Saint-Hélène ngày 5.5.1821. Tuy nhiên, nếu có một trí tuệ mở, chúng ta vẫn luôn sẵn sàng xem xét lại niềm tin của mình, vào cái ngày mà khoa học sẽ phát biểu một công thức khác với các quy luật vũ trụ quan trọng, hay vào lúc mà một nhà sử học sẽ tìm ra các tài liệu chưa công bố chứng minh rằng Napoléon chết trên một con tầu của phái Bonaparte trong khi đang chạy trốn. Ngược lại, so với thế giới của những quyển sách, các giả thuyết kiểu như Sherlock Holmes độc thân, Cô bé quàng khăn đỏ bị sói ăn thịt nhưng lại được bác thợ săn cứu thoát, Anna Karénina tự vẫn sẽ luôn là đúng đắn và sẽ không một ai có thể bác bỏ. Không ai chối bỏ rằng Giê-su là con của Chúa Trời, một vài người nghi ngờ sự tồn tại có tính lịch sử của ông ta, số khác ủng hộ niềm tin rằng ông ta là Con đường, Sự thật, Cuộc sống, số khác nữa cuối cùng nghĩ rằng Lễ Mixa còn cần diễn ra và dù ý kiến của chúng ta như thế nào đi nữa thì cũng phải xử sự tôn trọng với những quan điểm này. Nhưng không ai sẽ xử sự một cách tôn trọng với người khẳng định rằng Hamlet đã cưới Ophelia hay Siêu nhân (Superman) không phải là Clark Kent(3).

Các văn bản văn chương nói với chúng ta một cách rõ ràng những điều mà chúng ta không bao giờ có thể đặt lại vấn đề lần nữa, nhưng khác với thế giới bên ngoài, các văn bản ấy với một sự đảm bảo tuyệt đối báo cho chúng ta biết, trong bản thân chúng, điều cần được coi là quan trọng và điều mà chúng ta không thể coi như điểm xuất phát cho những cách cắt nghĩa tự do.

Cuối chương 35 của Đỏ và Đen, chúng ta biết Julien Sorel tới Nhà thờ, bắn vào bà de Rénal. Sau khi quan sát thấy tay của nhân vật run rẩy, Stendhal cho chúng ta biết rằng Julien bắn phát đầu tiên và bắn trượt, rồi anh ta bắn phát thứ hai và bà ta ngã xuống. Giờ hãy tưởng tượng người ta khẳng định rằng cánh tay run rẩy, cũng như việc phát súng đầu tiên bắn trượt vào không khí, chứng tỏ rằng Julien không tới Nhà thờ với một ý định ban đầu giết người rõ ràng nhưng bị thúc đẩy bởi một xung năng mãnh liệt không kiểm soát nổi. Theo cách cắt nghĩa này, người ta có thể tưởng tượng một điều khác, Julien ngay từ đầu đã có ý định giết người nhưng đó là một kẻ hèn nhát. Văn bản cho phép hai cách hiểu.

Hãy giả thiết rằng có ai đó tự hỏi xem viên đạn đầu tiên kết thúc ở đâu. Câu hỏi thú vị cho những ai ưa thích Stendhal. Cũng tương tự như ai ưa thích Joyce tới Dublin để tìm hiểu hiệu thuốc mà Bloom có lẽ đã mua một chiếc bánh xà phòng nho nhỏ như một quả chanh (và để làm hài lòng những người yêu thích này, hiệu thuốc đó quả là có tồn tại và đã lại bắt đầu sản xuất những bánh xà phòng nho nhỏ), người ta có thể tưởng tượng rằng những người hâm mộ Stendhal, tìm cách khám phá trong thế giới đó ngôi nhà thờ Verrière, còn khảo sát tỉ mỉ từng cây cột để khám phá ra điểm chạm của viên đạn. Có lẽ đó là một chương fanship(?) khá thú vị. Nhưng bây giờ hãy giả thiết rằng một nhà phê bình muốn thiết lập ra một cách cắt nghĩa của mình về số phận viên đạn bị lạc trong tác phẩm. Thời gian trôi đi, đúng là không như thực, rồi cũng có thể ai đó căn cứ vào vị trí của bức thư so với ống khói mà đọc Bức thư bị đánh cắp của Poe. Nhưng nếu Poe chỉ một cách rõ ràng vị trí thích đáng của bức thư, thì Stendhal lại không quan tâm tới viên đạn đầu tiên đó, và do vậy ông loại trừ nó ra khỏi số lượng các thực thể hư cấu. Nếu bám sát văn bản của Stendhal, thì viên đạn này lạc mất hẳn, và việc biết nó đi đâu hoàn toàn không quan trọng về mặt kể chuyện. Ngược lại, cái điều không được nói ra của nhân vật Armance(4) về chứng bất lực rất có thể của nhân vật chính lại thúc đẩy độc giả tới những giả thiết đầy mãnh liệt để hoàn chỉnh câu chuyện không được kể ra, và trong Những vị hôn phu, một câu như “cô gái bất hạnh trả lời” không có nghĩa tới mức là Gertrude gây ra tội lỗi của mình với Egidio, nhưng cái quầng tối của các giả thiết ứng với độc giả đã tham gia vào sự hấp dẫn của trang giấy có sự tỉnh lược đầy e lệ đó.

Trong phần đầu của Ba người lính ngự lâm, rõ ràng là D’Artagnan tới Meung trên một con ngựa gầy gò xấu xí mười bốn tuổi, vào ngày thứ hai đầu tiên của tháng tư 1625. Với một người đọc ưa tư duy logic, có thể xác lập ngay đó là ngày 7.4. Một nét tinh tế cho trivia games (những trò chơi tầm phào) giữa những điểm tinh tế tuyệt đối kiểu Dumas. Liệu người ta có thể lập ra trên dữ liệu đó mộtsiêu cắt nghĩa (sur-interpretation) của tiểu thuyết? Tôi có thể nói là không, vì rằng các trang tiếp theo không hề cho thấy sự quan trọng của dữ liệu này. Diễn biến của tiểu thuyết không coi trọng việc D’Artagan tới nơi có đúng vào ngày thứ hai hay không, trong khi đó quan trọng chính là phải vào tháng tư (hãy nhớ rằng để không chứng tỏ cái dây đeo súng rực rỡ được thêu lên phía trước, Porthos đã mặc một chiếc áo khoác dài bằng nhung màu đỏ sẫm dù thời tiết không đòi hỏi phải như thế – sao cho người lính ngự lâm cần phải làm ra vẻ như bị sổ mũi).

Điều đó có thể xuất hiện ở nhiều chuyện hiển nhiên, những chuyện đó (lại thường bị lãng quên) nói với chúng ta rằng thế giới của văn học cho phép có các giả thiết không được nghi ngờ, và do vậy cung cấp cho ta một mẫu hình, sự tưởng tượng nếu chúng ta muốn, về sự thật. Sự thật văn học đó được phản ánh theo cái mà chúng ta nói là D’Artagnan bị thúc đẩy bởi một tham vọng đồng tính luyến ái đối với Porthos, rằng Kẻ vô danh bị dẫn dắt tới điều xấu xa bởi một mặc cảm Oeudipe không cưỡng lại nổi, hay Panurge hành động như vậy là bởi sự căm thù việc chủ nghĩa tư bản đang hình thành, chúng ta luôn đáp rằng, trong các văn bản được đối chiếu, không thể tìm thấy bất cứ một sự khẳng định, một gợi ý, một lời bóng gió cho phép chúng ta nhượng bộ cho các thử thách cắt nghĩa đó. Thế giới văn học là một thế giới trong đó có thể làm các thử nghiệm để xác lập xem một người đọc có khiếu hiện thực hay anh ta là miếng mồi cho chính những ảo tưởng của mình.

Các nhân vật di trú (migrer)

Chúng ta có thể có những khẳng định thật sự về các nhân vật văn học bởi vì điều xảy ra với họ đã được ghi lại trong văn bản, và một văn bản giống như một bản nhạc chia bè. Quả thật Anna Karenina chết vì tự vẫn đúng như là Bản giao hưởng số 5 của Beethoven được viết ở cung đô thứ (chứ không phải ở cung fa trưởng như của bản giao hưởng số 6) và bắt đầu bằng “sol, sol, sol, mi giáng”. Nhưng xẩy ra chuyện – tuy không phải là tất cả – một vài nhân vật văn học rời khỏi văn bản nơi chúng được sinh ra và di trú trong một vùng vũ trụ mà người ta rất khó xác định giới hạn vũ trụ ấy.

Các cuộc di trú từ văn bản này tới văn bản kia (và thông qua những cách chuyển thể hoàn toàn khác nhau về chất, từ sách thành phim hay thành vở ba lê, hay từ truyền thuyết truyền miệng thành sách) đã xảy ra đối với các nhân vật đến từ huyền thoại cũng như đối với các nhân vật của lối kể “phi tôn giáo”, Ulysse, Jason, Arthur hay Parsifal, Alice, Pinochio, d’Artagnan. Khi chúng ta nói về các nhân vật của loại này, phải chăng là chúng ta dựa vào một bản chia bè chính xác? Hãy thử xem xét truyện Cô bé quàng khăn đỏ. Hai bản nổi tiếng nhất, của Perrault và của anh em Grimm, hoàn toàn khác nhau. Trong bản thứ nhất, cô bé bị sói ăn và câu chuyện kết thúc ở đó, do vậy nó tạo ra các suy nghĩ nghiêm khắc mang tính đạo đức về các hiểm họa do sự bất cẩn. Trong trường hợp thứ hai, người đi săn tới giết con sói, cứu sống cô bé và người bà. Happy end (kết thúc có hậu – ND).

Hãy tưởng tượng giờ đây một bà mẹ kể truyện cổ cho con và dừng lại ở chỗ con sói ăn thịt Cô bé quàng khăn đỏ. Lũ trẻ có thể phản đối và muốn có một câu chuyện “thực sự”, câu chuyện mà ở đó Cô bé quàng khăn đỏ được cứu sống, và không cần tới việc bà mẹ phải tuyên bố mình là nhà một ngữ văn học biết tuân thủ một cách nghiêm chỉnh. Lũ trẻ biết một câu chuyện “đích thực” là Cô bé quàng khăn đỏ sống lại và câu chuyện này gần với bản kể của Grimm hơn là của Perrault. Tuy nhiên bản kể đó không trùng khít với phần chia bè của Grimm, bởi vì nó bỏ qua một loạt các sự kiện thứ yếu – ở đó bản Perrault và bản Grimm khác nhau, chẳng hạn như là kiểu quà mà Cô bé quàng khăn đỏ mang tới cho bà, và cũng ở đó lũ trẻ dễ dàng đồng ý với nhau, bởi vì chúng dựa theo một cá nhân có tính sơ đồ hơn, mơ hồ trong truyền thuyết, phân bố theo nhiều bè khác nhau, mà chủ yếu là truyền miệng.

Như vậy, Cô bé quàng khăn đỏ, d’Artagnan, Ulysse, Bà Bovary trở thành những cá nhân sống ngoài các bè ban đầu, và những ai chưa bao giờ đọc bè cổ mẫu (archétype) đều có thể tự tin đưa ra các khẳng định thật sự về các nhân vật đó. Trước khi đọc Oeudipe làm vua, tôi đã biết rằng Oeudipe cưới Jocaste. Mặc dù các bè có phần mơ hồ, song chúng cũng không phải là không thể kiểm tra được: có lẽ ai đó nói rằng Bà Bovary dàn hòa với Charles và sống hạnh phúc với anh ta đều hứng thú với các cách trừng phạt của những người có lương tri, hệt như là những người này đồng ý về nhân vật Emma.

Ở đâu những cá nhân mơ hồ đó? Điều này còn phụ thuộc vào khuôn khổ của bản thể học chúng ta, nếu nó chứa cũng những số căn, như ngôn ngữ Êtơrui và hai ý niệm về Thánh Ba ngôi (Très Sainte Trinité); đó là ý niệm của người La mã, đối với họ (ít nhất là cho tới hôm kia) Thánh Linh (Saint-Esprit) xuất phát từ Cha và Con (ex patre Filioque procedit – nguyên bản Latin, ND.); và ý niệm của người  Byzantin, đối với họ Thánh Linh chỉ xuất phát từ Cha. Nhưng bản thể này có một quy chế rất mơ hồ và chứa đựng những thực thể với độ dày khác nhau, bởi vì chính vị Lão trưởng của Constantinople (sẵn sàng va chạm với Giáo hoàng nhân nói tới filioque (Cha – ND) có thể đồng ý với Giáo hoàng để nói rằng quả thật Sherlock Holmes sống ở phố Baker và rằng Clark Kent và Siêu nhân chỉ là cùng một con người.

Đôi khi, người ta đã viết trong các cuốn tiểu thuyết hay các bài thơ rằng – tôi khám phá những ví dụ một cách ngẫu nhiên – Asdrubal giết Corinthe hay Théophraste yêu điên cuồng Théodoline, tuy nhiên không ai nghĩ rằng người ta có thể đưa ra những khẳng định đích thực về chủ đề của chúng, bởi vì đó là những nhân vật không may mắn hay sinh ra không may, họ không hề di trú và không tới tham dự vào trí nhớ tập thể. Tại sao trong thế giới này việc Hamlet không cưới Ophelia lại đúng đắn hơn so với việc Theophraste đã cưới Theodolinde? Đâu là bè của thế giới này, nơi Hamlet và Ophelie sống chứ không phải là Theophraste bất hạnh?

Những nhân vật kiểu như Hamlet hay Anna Karenina trong chừng mực nào đó được tập thể coi là có thật bởi vì cộng đồng đã tạo nên những cảm hứng say mê, trong hàng thế kỷ và hàng năm. Chúng ta tạo ra các cảm hứng say mê mang tính cá nhân trên hàng đống những ảo tượng mà chúng ta có thể lập ra dưới đôi mắt mở to hay lim dim. Chúng ta thực sự có thể xúc động khi nghĩ tới cái chết của một người mà chúng ta yêu quý, hay cảm nhận được những phản ứng sinh lý khi tưởng tượng trong một mối quan hệ tình dục với cô ta, cũng như vậy, bằng những cách thức nhận diện hay có tính phóng chiếu, chúng ta có thể xúc động về số phận của Emma Bovary, hoặc giống như điều đó xảy đến với một vài thế hệ, hay bị thu hút tới việc tự tử do những âm mưu của Werther hay của Jacopo Ortis. Nhưng nếu ai đó hỏi chúng ta liệu cái con người mà ta tưởng tượng về cái chết của anh ta có chết thật hay không, chúng ta có thể sẽ đáp rằng không, rằng đó là hiệu quả của trí tưởng tượng cô lập của chúng ta. Ngược lại, nếu người ta hỏi chúng ta liệu có phải Werther có tự vẫn thật không thì chúng ta đáp rằng có, và trí tưởng tưởng mà chúng ta nói tới không còn cô lập nữa, đó là một hiện thực văn hóa, mà toàn thể cộng đồng đều nhất trí về nó. Vì thế chúng ta cho là điên kẻ nào chỉ tự tử bởi vì kẻ đó tưởng tượng (trong khi biết rằng đó là một sản phẩm của trí tưởng tượng của anh ta) rằng cô người yêu của anh ta đã chết, trong khi đó chúng ta cố gắng chứng minh, bằng cách này hay cách khác ai đó tự tử (dù biết rằng anh ta khóc về một nhân vật hư cấu) vì sự tự sát của Werther.

Chúng ta sẽ cần tìm ra một không gian của vũ trụ, nơi các nhân vật đó sống và cần xác định các hành vi ứng xử của chúng ta, tới mức chúng ta coi chúng như những hình mẫu của cuộc đời, của chúng ta và của những người khác, và chúng ta hiểu nhau rất rõ khi chúng ta nói về ai đó có mặc cảm Oeudip, một món ăn kiểu Gargantua, một hành vi ứng xử kiểu Don Quichotte, sự ghen tuông của Othello, một sự nghi ngờ của Hamlet hay nói rằng anh ta là một người theo kiểu Donjuan không sao chữa khỏi. Trong văn học, điều đó không chỉ xảy ra với các nhân vật, mà còn với cả các tình huống, các đồ vật. Tại sao những nàng tiên cá tồn tại mãi lại là những ẩn dụ đầy ám ảnh, luôn sẵn sàng nói lại với chúng ta bất kỳ lúc nào rằng ta là ai?

Các thực thể ấy của văn học ở ngay gần chúng ta. Nhưng chúng không có ở đó từ muôn đời nay (có thể lắm) như các số căn  và những định lý của Pythagore, mà giờ đây, sau khi chúng đã được văn học sáng tạo và nuôi dưỡng bằng nhiệt hứng của chúng ta thì chúng ở đó, và chúng ta cần phải tính tới sự tồn tại của chúng. Để tránh những tranh cãi về bản thể học và siêu hình học, chúng ta cần nói rằng các thực thể đó tồn tại như những thói quen văn hóa, những quan điểm mang tính xã hội. Nhưng ngay cả sự cấm kỵ mang tính phổ quát của loạn luân là một thói quen văn hóa, một ý niệm, một quan điểm, thì cấm kỵ đó lại có sức mạnh làm chuyển động những số phận của những cộng đồng con người.

Những siêu văn bản (hypertexte) mở và những câu chuyện kết thúc

Ngày nay ai đó nói với chúng ta rằng ngay cả các nhân vật văn học cũng có nguy cơ trở nên mờ dần, thay đổi, không ổn định, và mất đi sự xác định của chúng vốn áp đặt cho ta để không được chối bỏ số phận của chúng. Chúng ta đang bước vào thời đại siêu văn bản, và các siêu văn bản điện tử không chỉ cho phép đi du lịch qua một mạng chằng chịt văn bản (dù đó là một từ điển hoàn toàn hay opera omnia) không vì vậy mà “vét cạn” mọi thông tin nó chứa đựng, bằng cách thâm nhập vào nó như một chiếc kim đan vào một mạng lưới đan len; nhưng siêu văn bản cũng sinh ra việc thực hiện một lối viết sáng tạo tự do.Trên Internet, bạn tìm thấy những chương trình để bạn có thể viết theo lối tập thể những câu chuyện, bằng cách tham gia vào những lối kể chuyện cho phép làm thay đổi sự tiến triển của câu chuyện, cho tới vô cùng. Nếu người ta có thể làm điều đó cho một văn bản mà người ta đang sáng tạo cùng một nhóm bạn ảo, tại sao lại không làm điều đó cũng cho các văn bản văn học đã tồn tại bằng cách mua những chương trình cho phép thay đổi những câu chuyện lớn vốn đã ám ảnh chúng ta có thể từ hàng trăm năm nay.

Hãy thử tưởng tượng một chút, bạn đọc say mê Chiến tranh và Hòa bình và tự hỏi liệu Natacha có nhượng bộ trước những lời tán tỉnh của Anatole hay không, liệu chàng công tước André có chết thật hay không, liệu Pierre có đủ dũng cảm để bắn vào Napoléon, và giờ đây, bạn có thể làm lại Tolstoi của mình, bằng cách gắn cho André một cuộc đời dài hạnh phúc,và biến Pierre thành người giải phóng Châu Âu, hay hòa giải Emma Bvary với ông chồng Charles tội nghiệp, bà mẹ hạnh phúc và nguôi ngoai; và chúng ta cũng có thể định đoạt việc Cô bé quàng khăn đỏ đi vào rừng và gặp ở đó Pinochio, hay là cô bé bị người mẹ ghẻ bắt cóc và bắt làm việc dưới cái tên Lọ Lem đang phục vụ cho Scarlett O’Hara, hay là cô bé gặp ở đó một người hảo tâm huyền thoại có tên là Vladimir Ja.Propp, ông ta tặng một chiếc nhẫn có phép thuật, nhờ đó cô bé khám phá ra Aleph trên một hòn đảo huyền thoại, vị trí người ta có thể nhìn thấy toàn thế giới, và ở đó từ rất xa, ngoài cả tấm gương của Alice, người ta nhận thấy Jorges Luis Borges trong khi ông ta đang nhắc Funes el memorioso là không được quên trả Anna Karenine cho thư viện Babel.

Sẽ là tồi chăng? Không, bởi vì cũng điều ấy, văn học đã từng làm, rất lâu trước các siêu văn bản, với dự định về Livre (sách) của Mallarmé, những cái thây tao nhã của các đại diện siêu thực, hàng tỷ bài thơ của Queneau, những cuốn sách di động của phong trào tiền phong thứ hai. Đây cũng là cái mà jam session (tính ngẫu hứng trong nhạc jazz – ND) làm nên. Nhưng sự tồn tại của lối chơi jam session, mỗi một tối lại thay đổi số phận theo một chủ đề, không ngăn chúng ta, không hề ngăn bước chúng ta vào trong căn phòng hoà nhạc, nơi Bản Sonat cung si giáng thứ opus số 35 vẫn luôn là như vậy.

Ai đó nói rằng đối với trò chơi theo những cơ chế liên văn bản, người ta thoát khỏi hai hình thức kiềm chế, tuân theo những cuộc phiêu lưu do người khác định đoạt và việc kết án về sự chia rẽ xã hội giữa những người viết và những người đọc. Điều đó làm tôi cảm thấy ngốc nghếch, nhưng chắc chắn là chơi theo cách sáng tạo với các liên văn bản, bằng cách thay đổi những câu chuyện và góp vào để tạo nên những câu chuyện khác, có thể là một hành động say mê, một bài tập hay để thực hành ở trường học, một dạng thức mới trong cách viết rất gần với jam session. Tôi tin rằng có thể là tốt, và cũng đầy tính giáo dục khi cố gắng thay đổi những câu chuyện đã tồn tại, cũng giống như sẽ thú vị khi viết lại Chopin cho đàn mandoline: điều đó có thể sẽ dùng để mài sắc tính sáng tạo âm nhạc, để hiểu tại sao âm sắc của piano lại đồng chất đến như vậy ở bản sonate cung si giáng thứ. Lao vào những dán ghép để giáo dục cho gu nhìn và cho việc thám hiểm các hình thức, trong khi cố gắng cùng sáng tạo những mẩu, mảnh của Đám cưới của trinh nữ(5), của Những cô gái ở Avignon(6) và của câu chuyện mới đây nhất của Pokémon. thực sự, rất nhiều nghệ sĩ đã từng làm điều đó.

Nhưng những trò chơi này không được đánh tráo với chức năng giáo dục thật sự của văn học, vì chức năng giáo dục không giới hạn việc chuyền tải những những ý niệm đạo đức, dù là chúng tốt hay xấu, hay ở việc giáo dục cảm nhận về cái đẹp.

Yuri Lotman, trong Văn hóa và sự bùng nổ, nhắc lại yêu cầu nổi tiếng của Tchekov, theo đó nếu trong một truyện kể hay một vở kịch, người ta cho thấy ngay ở phần mở đầu một khẩu súng được treo trên tường, thì trước khi kết thúc khẩu súng đó phải được bắn. Lotman khiến cho chúng ta hiểu rằng vấn đề thật sự không phải là biết xem liệu khẩu súng đó có thực sẽ bắn hay không. Đúng là không cần biết liệu có phải khẩu súng ấy sẽ bắn hay không, miễn là chuyện đó có đối chiếu ý nghĩa với cốt truyện. Đọc một truyện kể cũng có nghĩa là bị cuốn vào một niềm say mê, một cơn co thắt (spasme). Khám phá cho tới cùng việc khẩu súng phát nổ hay không không mang giá trị đơn giản của một thông tin. Đó là khám phá ra rằng các sự vật tiến triển, và luôn là vậy, theo một cách nào đó, ngoài những ham muốn của độc giả. Người đọc phải chấp nhận kết quả này, và thông qua đó cảm nhận sự rung động của Số phận. Nếu người ta có thể định đoạt số phận của nhân vật, điều đó sẽ giống như đi tới quầy hàng của một hãng du lịch: “Thế nào, ông muốn tìm thấy Cá voi ở Samoa hay ở Aleutines? Khi nào? Ông có muốn bản thân mình giết nó không hay là để Quinquez làm chuyện đó?”. Bài học thật sự của Moby Dick(7) là Cá voi đi tới nơi mà nó muốn.

Hãy nghĩ tới những đoạn miêu tả của Hugo về trận chiến Wateloo trong Những người khốn khổ. Khác với Stendhal người miêu tả trận chiến với con mắt của Fabrice, kẻ ở bên trong trận chiến và chẳng hiểu gì đang diễn ra, Hugo miêu tả trận chiến đó với con mắt của Thượng đế, ông nhìn nó từ trên cao: ông biết rằng nếu Napopléon đã biết rằng ở phía bên kia của cao nguyên Mont-Saint-Jean có một vườn nho (nhưng người hướng đạo của ông ta lại không nói cho ông ta biết), thì các đội quân thiết kỵ của Milhaud sẽ không bị nghiền nát dưới chân đội quân Anh: rằng nếu người mục đồng nhỏ tuổi làm hướng đạo cho Bỹlow đã gợi ý một con  đường khác thì đội quân Phổ có thể sẽ không tới đúng lúc để định đoạt số phận của trận chiến.

Với một cấu trúc siêu liên kết, chúng ta có thể viết lại trận chiến Waterloo bằng cách làm sao cho những người Pháp từ Grouchy tới vị trí người Đức ở Blỹcher, và có những war games (trò chơi chiến tranh – ND) cho phép làm điều đó, và rất thú vị. Nhưng sự vĩ đại mang tính bi kịch trong các trang văn của Hugo nằm ở việc (ngoài ý muốn của chúng ta) là mọi chuyện diễn ra như nó vốn có. Vẻ đẹp của Chiến tranh và hòa bình là sự giễu cợt mỉa mai của công tước Andrei được kết thúc bằng cái chết, dù điều đó không làm chúng ta không hài lòng. Nỗi đau đáng kinh ngạc mà mỗi lần đọc những bi kịch lớn mang lại chúng ta, đó là nhân vật của những tác phẩm đó, vốn đáng lẽ có thể trốn khỏi một số phận cay đắng, do sự yếu mềm hay mù quáng, lại không hiểu họ hướng về cái gì, và vội vàng lao về vực thẳm mà họ đã đào sẵn bằng chính bàn tay mình. Tuy nhiên đó chính là cái Hugo nói với chúng ta, sau khi đã đã chỉ ra cho chúng ta thấy một vài sự trùng hợp ngẫu nhiên mà Napoléon đáng lẽ có thể nắm lấy: “Napoléon liệu có thể thắng trận chiến này không? Chúng ta đáp rằng không. Tại sao? Vì Wellington? Vì Blucher? Không. Vì Chúa.”.

Đó là cái tất cả những câu chuyện lớn kể với chúng ta với nhu cầu thay thế Chúa bằng số phận, hay bằng những điều luật không cưỡng được của cuộc sống. Chức năng của những câu chuyện kể “không thể thay đổi” chính là điều này: cưỡng lại mọi ý định của chúng ta đối với việc thay đổi số phận, chúng buộc chúng ta chạm ngón tay vào cái không thể thay đổi chúng. Bằng cách làm như thế, dù câu chuyện mà họ kể là như thế nào, họ cũng vẫn kể câu chuyện của chúng ta, và chính bởi vậy chúng ta đọc và yêu thích chúng. Chúng ta cần bài học nghiêm khắc “mang tính trấn áp” của các cuốn sách đó. Tính trần thuật siêu văn bản có thể giáo dục chúng ta về sự tự do và tính sáng tạo. Tốt, nhưng không phải là tất cả. Các câu chuyện “đã được kể” cũng dậy chúng ta cách chết.

Tôi tin rằng việc giảng dạy về Số phận và cái chết là một trong những chức năng cơ bản của văn học. Còn có thể có những cái khác, nhưng tôi chưa nghĩ tới.

Phùng Kiên dịch

(Magazine Littéraire số 11-2000)

——————

(1)  Umberto Bossi, chính khách Italia, thư ký Liên đoàn phương Bắc, người  chủ trương ly khai khỏi Italia, lập nước Cộng hoà tưởng tượng Padanie bao gồm tám vùng phía bắc Italia nhưng bị phản đối kịch liệt.(ND).

(2)  Martin Luther (1483-1546), nhà thần học và cải cách tôn giáo Đức có ảnh hưởng lớn tới đạo Cơ đốc.(ND)

(3) Một nhân vật dạng hiệp sĩ thời hiện đại xuất hiện lần đầu trong các truyện dài kỳ năm 1938 của hai tác giả Jerry Siegel và Joe Shuster (1914-1992).  Trong truyện đó, nhân vật Siêu Nhân đó từng là một nhà báo tên là Clark Kent. (ND)

(4) Tên nhân vật trong một truyện ngắn của Stendhal dường như là về chuyện đồng tính luyến ái (ND)

(5) Bức tranh Nhà Thờ cũng được biết dưới cỏi tờn Sposalizio, thuộc về những sáng tác đầu tiên của  Raphael.(ND)

(6) Tên một bức tranh của Picasso báo hiệu chủ nghĩa lập thể.(ND)

(7) Moby Dick, tiểu thuyết của Herman Melville, (1851) xuất bản ở Anh với tờn gọi The Whale (Cỏ Voi), sau đó là ở Mỹ với tên Moby Dick. Đó là câu chuyện kể về chuyến đi săn cá voi của thuyền trưởng Achab (ND.).

Nguồn: Tạp chí Văn học số 05/2003

Leave a Reply