Về nghệ thuật tự sự của “Vũ điệu thân gầy” (*)


1.    Mỗi một tác phẩm văn học thực sự có giá trị không bao giờ chịu dừng lại ở một nghĩa rõ ràng, duy nhất, mà phải là một tiềm năng nghĩa có giá trị tạo sinh, có khả năng sinh sôi, nảy nở các tầng nghĩa, lớp nghĩa phong phú và độc đáo khác nhau.
Đa số các truyện  trong Vũ điệu thân gầy bộc lộ những ý nghĩa hoặc rõ ràng, hoặc mơ hồ, nhưng thảy đều nhẹ, không có khả năng ám gợi, không khiến người đọc day dứt. Chúng nhanh bị chuội đi, không có chất keo dính neo bám vào tâm hồn người đọc. Chữ nghĩa nhanh chóng bốc hơi. Hầu hết, chúng là loại truyện một nghĩa.
Một số truyện có ý định làm mờ nghĩa thường theo cách dụng công vào phần kết truyện. Các cách kết truyện ấy thường rơi vào một trong hai trường hợp sau: 1) hoặc thông thường quá, nhẹ quá, không có khả năng xoay chuyển tình thế, không mở ra những vùng nghĩa nào khác ngoài cái nghĩa đã rõ ràng. 2) hoặc có khi ép quá thành ra gượng, thiếu tự nhiên. Riêng chỗ này, tôi đồng ý với ý kiến của Phạm Xuân Nguyên: “Họ, những cây bút trẻ này còn đẩy nhanh tốc độ vận động của truyện bằng nhịp điệu câu, bằng sự lướt qua các chi tiết, bằng chăm chú về đích. Và chính ở điểm cuối này bộc lộ điểm yếu của họ, mà trong truyện này cũng có biểu hiện, là ý đồ tư tưởng truyện phơi ra lộ liễu” (Lời giới thiệu Vũ điệu thân gầy). Ví dụ cách kết của Rỗng (tr.51), Ngày kín (tr.160). Những truyện như Đi vào một ngày không báo trước (Nguyễn Thị Cẩm), Bên kia giấc mơ màu hạt dẻ (Nguyễn Quỳnh Trang) lại có kết thúc quá rõ ràng. Hơi tiếc. Ảo hóa phần kết, hoặc kết dở dang vẫn được xem là một thủ pháp có hiệu quả đối với truyện ngắn. Nghĩa của truyện Trống trải và rộng quá chừng (Lê Nguyệt Minh) thì lại bị phơi bầy ra từ đầu bằng nhan đề truyện và trong suốt cả văn bản truyện.Trong tập truyện này, có một vài tìm kiếm đáng quý. Những đống lửa trên vịnh Tây Tử (Trang Hạ) độc đáo trong đề tài, xáo trộn thời gian trần thuật, hình ảnh đống lửa trở đi trở lại như một điểm nhấn gợi lên nhiều nghĩa, kết bằng một khởi đầu của cốt truyện, văn đẹp, tinh tế, có kỷ luật chữ, chắt lọc và trau chuốt. Trang Hạ rất có mỹ cảm về ngôn từ.
Truyện Phía sau khe cửa trong tập Khi nào anh thuộc về em (NXB Hội nhà văn) của Cấn Vân Khánh vùa mới ra mắt cũng có tìm tòi về cấu trúc. Ba nhân vật, ba điểm nhìn khác nhau. Ba khối rời nhau trên bề mặt văn bản, nhưng có liên hệ bề sâu của ý tưởng. Truyện tạo ra sức gợi. Một cây bút có tên là Nguyễn  Nguyên Phước với cái truyện Trên tàu đăng trên Văn nghệ trẻ (số 24, ngày 17.6.2007), được Bảo Ninh chọn bình, từ đầu đến cuối toàn thoại là thoại. Đọc thấy lạ và gợi nghĩa, đem lại một cảm giác thú vị cho người đọc.

5
Những truyện lạ lạ, mới về nghệ thuật kể chuyện, tổ chức câu chuyện, có hình ảnh ẩn dụ hoặc đạt tới tính biểu tượng, kết dư ba, làm  tâm hồn người đọc cảm thấy ngơ ngẩn, thao thức đang còn ít thấy trong đội ngũ các cây bút trẻ 8X hiện nay.2.    Có thể cắt nghĩa được tình trạng trên không? Theo tôi nghĩ, có thể đây là mấy nguyên nhân chính chăng:

Thứ nhất, đại đa số các cây bút thích kể ra câu chuyện hơn là tìm tòi cách kể. Nói theo GS Hoàng ngọc Hiến, tức là “kể nội dung”, chứ không “viết nội dung”, nghĩa là không có suy tư và thể nghiệm cấu trúc nghệ thuật truyện ngắn.
Thứ hai, tuy các thao tác lắp ghép văn bản truyện, phá vỡ hình thức tuyến tính trong cách kể đã được suy tính và áp dụng, song đang còn đơn giản, dài dòng, thiếu tiết chế, không có những cách lắp ghép biến hóa, năng động, đạt tới tính bất ngờ nhằm tạo hiệu quả nghệ thuật cao.

Thứ ba, hiếm thấy truyện nào có những chi tiết nghệ thuật độc đáo, đột xuất, hàm chứa nhiều nét nghĩa. Thông thường, trong truyện ngắn, ngoài những chi tiết đại trà có chức năng vật liệu để kể tả thông thường, còn có loại chi tiết có khả năng trở thành biểu tượng. Loại chi tiết này không nhiều, nhưng một truyện ngắn hay thường phải có vài ba chi tiết có tính biểu tượng như vậy. Chúng gói mở, lấp lánh nhiều nét nghĩa. Nhà văn Nga K.Pauxtovxki gọi đó là những chi tiết “vàng ròng”. Tiếc là các cây bút trẻ chưa thấy hết tầm quan trọng và ý nghĩa của chi tiết nghệ thuật, nên chưa biết dụng công tìm kiếm và cài cắm. Sự kể tả sẽ trôi đi hết, không có khả năng níu giữ người đọc dừng lại nếu không có những chi tiết nghệ thuật sáng giá.
Thứ tư, hầu hết các tác giả chưa đầu tư thích đáng vào ngôn từ. Hiện nay, truyện ngắn của họ đang chủ về nhịp điệu câu văn: tốc độ nhanh, gấp, nhiều câu ngắn, nhiều điệp ngữ, lắm khi ào ạt, xô đẩy, thậm chí giật cục, đập vỡ cấu trúc ngữ pháp thông thường. Nhưng họ lại không dụng công nhiều vào chữ. Ở cực này thì là toàn những từ ngữ trần sì, trắng trợn, mang tính khẩu ngữ, tính báo chí, nghĩa của chữ trắng phớ ra hết. Ở cực khác, lại sáo mòn, trơn tay, nông. Đây là một vài trong rất nhiều ví dụ: “Mặt Phạm nhăn nhúm chuyển màu. Màu vàng bia thành sền sệt máu đỏ. Vẫn từng vết từng vết trên cát. Có phải trinh tiết em tự trọng em cô độc em đang ứa máu (…) Mờ mịt ảnh hình. Phạm tan vào cát” (tr.210), và “Loài hoa không rõ tên gì huyễn hoặc một làn hương lan tỏa đều khắp màn đêm” (tr.215 – Bên kia giấc mơ màu hạt dẻ). Hoặc: “Từ đâu đó tiếng mẹ tôi rống lên bi thiết” (Lơ lửng trên cao, tr.131)…
Nguyên nhân gốc của tình trạng trên là hầu hết các cây bút trẻ chưa cật lực xác lập cho mình một quan niệm sâu sắc và vững chãi về đời sống cũng như nghệ thuật.  Họ phơi bày cái tôi một cách nóng nảy, sốt sắng. Họ cố thủ trong cảm hứng tự tôn thái quá. Họ lên tiếng chống thói a dua bầy đàn, nhưng kỳ thực họ lại không cắt rốn được khỏi nó. Họ chăm chú vào việc tìm kiếm cái khác lạ ở đề tài chứ chưa thực sự ráo riết tìm kiếm cái khác lạ ở nghệ thuật tự sự, tức là cách kể, và cấu trúc. Họ chưa đủ mạnh để đạt được tính dân chủ và đối thoại trong sáng tạo.

3.    Nhìn rộng ra một chút, thấy văn chương của các tác giả 8X trong tập này hầu hết là các cây bút đô thị, hoặc được/ bị đô thị hóa cả.

Trong khi đó, một số cây bút cuối 7X, hay mới chớm gác sang 8X thực sự có  thành tựu lại không phải là các cây bút đô thị. Họ toàn ở những vùng xa hút xa hắt, rừng núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền Trung hoặc miền Tây Nam bộ. Như Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa, Nguyễn Ngọc Tư, Niê Thanh Mai, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Nguyên Phước, Đỗ Phước Tiến… Điều này đáng để cho chúng ta suy nghĩ. Ít nhất thì ở họ cũng có một điểm chung là: họ không bị vướng bận với những phong trào đám đông – mà đã gọi là phong trào thì đều hời hợt và nông nổi. Nhờ vậy, họ có điều kiện tìm kiếm độc lập và đi đến cùng sự lựa chọn của mình hơn cánh đô thị. Đô thị bao giờ chẳng có nhiều yếu tố gây nhiễu!
Tôi vẫn nghĩ rằng nếu không có cộng hưởng lớn giữa cái tôi phong phú, bí ẩn và sống động của mỗi người cầm bút với tâm trạng xã hội hiện thời thì sẽ không có được những tác phẩm hay. Tập truyện này (cũng như tập Truyện ngắn 8X xuất bản năm ngoái) vẫn chỉ là những nỗ lực khởi đầu của những cây bút trẻ có nhiều khát vọng văn chương.
Ngày Nhà báo Việt Nam, 21.6.2007.

Chú thích(*) Tập truyện ngắn của 12 cây bút nữ  thế hệ 8X do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành 2007.

Leave a Reply