Về sự đọc (1/2)


Roland Barthes

Trước hết, tôi muốn cảm ơn các bạn đã đón tiếp tôi. Có rất nhiều điều gắn bó chúng ta với nhau, bắt đầu là cái câu hỏi chung mà mỗi người chúng ta tùy theo vị trí của mình đặt ra: Đọc là gì? Đọc như thế nào? Tại sao đọc? Tuy nhiên, có một điều ngăn cách chúng ta mà có lẽ tôi không nên tìm cách dấu diếm, đó là từ lâu rồi, tôi không còn hành nghề dạy học nữa: trường học, trường trung học hay trường cao đẳng hiện nay đối với tôi quả là xa lạ. Còn việc hành nghề sư phạm của tôi ở Trường nghiên cứu cao cấp tuy rất quan trọng trong cuộc đời tôi nhưng vẫn là câu chuyện bên lề, vô tổ chức, đối với nội bộ ngành giáo dục giai đoạn hậu học đường này. Vả lại, vì đây là một hội nghị, cho nên điều có lẽ tôi thích hơn cả là mỗi người phải nói lên tiếng nói riêng, tiếng nói nghề nghiệp của mình. Do đó, tôi sẽ không tự ép mình phải chia sẻ hay bắt chước một năng lực sư phạm nào vốn không phải là của tôi, tôi sẽ dừng lại ở một sự đọc cụ thể (hay như mọi sự đọc khác?), tức là sự đọc của cái chủ thể mà tôi tin tưởng chính là tôi đây.

Đối với sự đọc, tôi đang ở trong một tình trạng bối rối về lý thuyết: tôi không có lý thuyết nào về sự đọc, vì thế trước mắt, lý thuyết về sự đọc dần dần sẽ được phác thảo ra. Đôi khi, tôi bối rối đến mức hồ nghi, nghĩa là tôi không biết có cần phải có một lý thuyết về sự đọc hay không, tôi không biết sự đọc về mặt cấu tạo có phải là cái phạm vi số nhiều[1] bao gồm những cách đọc phân tán, những kết quả không thể quy giản hay không, và do đó, tôi cũng không biết có phải bản thân sự đọc của sự đọc, tức sự Siêu đọc, không gì khác hơn là một mảnh vỡ của tư tưởng, của sự sợ hãi, của lòng ham muốn,của sự khoái lạc, của sự đè nén – tùy theo hoàn cảnh – tuồng như là hình ảnh nhiều cuộc hội thảo[2] khác nhau cùng tạo nên hội nghị này, hay không.

Tôi sẽ không tìm cách giảm bớt đi sự bối rối đó (hơn nữa tôi cũng không có phương tiện gì để làm việc này), mà tôi chỉ tìm cách định vị nó, tìm cách hiểu cho được sự tràn ngập mà khái niệm đọc trong tôi rõ ràng là đối tượng của nó. Nhưng bắt đầu từ đâu? Có lẽ từ cái khái niệm cho phép ngôn ngữ học hiện đại khởi động: sự quan yếu.

 

1. Sự quan yếu

          Sự quan yếu – ít ra trong ngôn ngữ học, đó là quan điểm mà từ đó người ta chọn lựa cách nhìn, cách tra vấn, phân tích một tập hợp hỗn tạp như là hoạt động ngôn ngữ. Chỉ khi nào người ta quyết định nhìn hoạt động ngôn ngữ theo quan điểm ý nghĩa thì chỉ với quan điểm đó, Saussure mới thôi dậm chân tại chỗ, không còn hốt hoảng nữa, để có thể xây dựng nền móng cho ngôn ngữ học hiện đại. Bằng cách quyết định chỉ xem xét âm thanh theo sự quan yếu duy nhất về nghĩa, Troubetskoï và Jakobson mới làm cho âm vị học có thể phát triển được. Chỉ khi không điếm xỉa đến những nhận xét khác có thể có để chấp nhận việc chỉ nhìn thấy trong hàng trăm truyện cổ dân gian những tình huống và các vai nhân vật ổn định, có tính hồi quy, tóm lại là chỉ nhìn thấy những hình thức thôi, Propp mới tạo nên lý thuyết Phân tích truyện kể.

Như vậy, nếu chúng ta có thể quyết định được sự quan yếu mà nhờ đó, chúng ta tra vấn sự đọc, chúng ta mới hy vọng dần dần phát triển một ngành ngôn ngữ học hay ký hiệu học, hay chỉ đơn giản (để chúng ta không bị lúng túng vì nợ nần) là lý thuyết Phân tích sự đọc, phân tích về anagnôsis [3], về sự đọc hiểu, tức là lý thuyết Đọc hiểu. Điều đó tại sao không?

Nhưng tiếc thay, sự đọc vẫn chưa gặp được Propp hay Saussure của mình. Chúng ta đã không – ít ra là chưa tìm thấy sự quan yếu mong muốn đó, tức là cái hình ảnh về sự giảm nhẹ gánh nặng của nhà bác học vì những quan yếu ngày xưa không còn thích hợp với sự đọc, hay ít ra, sự đọc ngày nay đã vượt qua những quan yếu cũ kỹ đó rồi.

1. Trong phạm vi đọc, không có sự quan yếu về đối tượng: động từ đọc dường như có tính ngoại động nhiều hơn động từ nói, nó có thể bị bão hòa, bị xúc tác bởi hàng ngàn bổ ngữ đối tượng: tôi đọc sách, đọc [4]hình ảnh, đọc [5]thành phố, đọc [6] chân dung, đọc [7]cử chỉ, đọc vở kich, v.v. Những bổ ngữ này đa dạng đến nỗi tôi không thể thống hợp chúng trong bất cứ một phạm trù nội dung lẫn hình thức nào. Tôi chỉ có thể tìm thấy ở chúng một sự thống nhất có tính chủ ý: đối tượng mà tôi đọc chỉ được tạo nên nhờ vào chủ ý đọc của tôi, đơn giản chỉ vì đọc, legendum, thuộc về hiện tượng luận chứ không phải ký hiệu học.

2. Trong phạm vi sự đọc, điều quan trọng hơn là không hề có sự quan yếu của các cấp độ, không hề có khả năng miêu tả các cấp độ đọc, bởi vì không hề có khả năng kết thúc cái danh sách các cấp độ đó. Có thể có một cội nguồn của sự đọc hình họa, đó là việc học các con chữ, các từ được viết ra. Nhưng một mặt, có những sự đọc mà không cần học chữ (đọc hình ảnh) – ít ra là không cần học chuyên môn, nếu không phải là học văn hóa, và mặt khác, khi đã thụ đắc được ngón nghề (technè) này, người ta không biết đến đâu thì độ sâu và sự lan truyền của sự đọc ngừng lại. Phải chăng là khi nắm được ý nghĩa? Nhưng mà ý nghĩa nào? Nghĩa biểu vật hay nghĩa liên hội? Đó là những hiện tượng nhân tạo mà tôi gọi là những hiện tượng đạo đức (éthiques), bởi vì nghĩa biểu vật có chiều hướng được xem như là cái đơn nghĩa, nghĩa thật, nó tạo thành quy luật (có bao nhiêu người chết vì một nghĩa nào đó?), còn nghĩa liên hội thì cho phép (đó là lợi ích đạo đức của nó) đặt ra luật lệ cho cái đa nghĩa và hứa hẹn giải phóng sự đọc. Nhưng giải phóng đến đâu? Đến vô cùng: vì không có ràng buộc về mặt cấu trúc nào đóng lại sự đọc. Tôi cũng có thể đẩy lùi đến vô tận những giới hạn của cái có thể đọc, có thể quyết định rằng mọi cái cuối cùng đều có thể đọc được (có lẽ điều này chắc là khó đọc), mà cũng có thể ngược lại, tôi cho rằng tận cùng của mọi văn bản, nếu cái đọc được đã được hiểu hết thì vẫn còn có cái không thể đọc được. Sự biết- đọc có thể bị hạn chế, bị kiểm chứng ngay từ giai đoạn mở đầu, nhưng nó sẽ nhanh chóng trở thành cái vô cùng, không quy tắc, không cấp độ và không kết thúc.

Có thể chúng ta nghĩ rằng vì thiếu bậc thiên tài nên chúng ta phải chịu trách nhiệm về sự khó khăn trong việc tìm thấy một sự quan yếu làm nền tảng cho một lý thuyết Phân tích mạch lạc của sự đọc. Nhưng chúng ta cũng có thể cho rằng sự không quan yếu gần như là tính chất bẩm sinh của sự đọc, bởi vì có cái gì đó rất hợp lệ làm rối tung việc phân tích các đối tượng và các cấp độ đọc và làm cho mọi chuyện trở nên thất bại, không chỉ tất cả nghiên cứu về tính quan yếu trong lý thuyết Phân tích sự đọc mà còn có thể là bản thân cái khái niệm quan yếu (bởi vì cuộc phiêu lưu này dường như cũng xảy ra đối với ngôn ngữ học và tự sự học). Tôi tin có thể gọi tên (một cách hoàn toàn sáo rỗng) cái gì đó chính là sự Ham muốn. Chính vì mọi sự đọc đều bị sự Ham muốn (hay sự Chán ghét) thâm nhập, nên lý thuyết Đọc hiểu khó lòng, có lẽ là không thể hình thành được – cho dù lý thuyết này từng có cơ hội trở thành sự thật ở nơi mà chúng ta không mong đợi, hay ít ra không đúng vào cái nơi ta mong đợi. Theo truyền thống – gần đây –chúng ta mong đợi nó có liên quan đến cấu trúc; và chúng ta phần nào đã có lý: mọi sự đọc đều diễn ra trong một cấu trúc (cho dù đa dạng và có tính mở) chứ không phải trong cái không gian mạo xưng là tự do của sự ngẫu nhiên cũng mang tính mạo xưng nốt: không có sự đọc “tự nhiên”, “hoang dã” mà chỉ có sự đọc vượt qua cấu trúc: nó phục tùng cấu trúc, nó cần đến cấu trúc, nó tôn trọng cấu trúc, nhưng lại làm cho cấu trúc hư hỏng. Sự đọc, đó chính là cái động tác của cơ thể (bởi vì hiển nhiên là người ta đọc với thân xác của mình)mà cùng một động tác, nó vừa đề cao, vừa phá hỏng trật tự của nó: đó là cái phần phụ hư hỏng nằm ở bên trong.

 

2. Sự dồn nén

 

Đúng ra, tôi không tự hỏi về những biến đổi của sự ham muốn đọc; đặc biệt, tôi không thể trả lời câu hỏi khó chịu này: tại sao ngày nay người Pháp không muốn đọc? Tại sao có khoảng năm mươi phần trăm trong số đó không đọc? Điều có thể giữ chúng ta lại trong một lát, đó là cái dấu vết của sự ham muốn – hay sự không ham muốn – nằm ở bên trong sự đọc, trong chừng mực sự ham muốn đọc đã được thừa nhận rồi. Và trước hết là những dồn nén sự đọc mà theo ý tôi, chúng có hai loại.

Loại thứ nhất là kết quả của những hạn lệ có tính xã hội hay đã được nội tâm hóa bởi hàng ngàn cuộc chạy tiếp sức, chúng làm cho sự đọc trở thành một nghĩa vụ trong đó, chính bản thân hành động đọc được xác định bởi một quy luật: hành động đọc, hay đúng hơn, nếu có thể nói như vậy, hành động đã đọc, tức là cái dấu vết hầu như có tính nghi thức của một sự khai tâm. Do đó, tôi không muốn nói đến những sự đọc “công cụ” vốn cần thiết cho việc thủ đắc một kiến thức, một kỹ thuật mà theo đó, động tác đọc biến mất dưới hành động học tập. Tôi muốn nói đến những sự đọc “tự do”nhưng đã hoàn tất: sự cần phải đọc qua (Công chúa xứ Clèves[8], Phản Oedip[9], chẳng hạn). Từ đâu mà có quy luật này? Từ nhiều trường hợp khác nhau, trong đó mỗi trường hợp được làm căn cứ cho một giá trị, cho một ý thức hệ. Đối với người chiến sĩ tiền phong, cần phải đọc qua Bataille, Artaud. Trong một thời gian dài, khi sự đọc còn mang tính chất tinh hoa một cách nghiêm ngặt thì đã từng có những nghĩa vụ đọc phổ thông. Tôi cho rằng việc đào xới các giá trị nhân văn đã chấm dứt những nghĩa vụ đọc đó và thay vào đó là những nghĩa vụ riêng biệt, gắn với “vai trò” mà chủ thể tự nhận biết được trong xã hội ngày nay. Quy luật đọc không đến từ sự vĩnh cữu văn hóa mà từ một sự kiện kỳ lạ hay ít ra là còn bí ẩn, nằm ở giữa Lịch sử (Histoire) và Thời thượng (Mode). Điều tôi muốn nói là có những quy luật của cộng đồng, những quy luật vĩ mô cần phải có quyền tự giải phóng. Nói cách khác, sự tự do đọc, dù ta phải trả bất cứ giá nào, cũng là sự tự do không đọc. Ai mà biết được phải chăng một vài sự vật sẽ không bị biến dạng, ai mà biết được phải chăng một số sự vật quan trọng sẽ không xảy ra (trong lao động, trong câu chuyện của chủ thể lịch sử) không phải vì hậu quả của sự đọc mà vì tác động của sự quên đọc: phải chăng người ta có thể gọi đó là sự tự do quá trớn của hành động đọc? Nói cách khác, trong sự đọc, sự Ham muốn dù đáng giá với những thiết chế, vẫn không thể tách ra khỏi tính phủ định mang tính chất xung lực của chính nó.

Loại dồn nén thứ hai có lẽ là sự dồn nén của Thư viện. Tất nhiên, vấn đề không phải là nghi ngờ thiết chế thư viện và không quan tâm đến sự phát triển tất yếu của nó. Đơn giản, vấn đề ở đây chỉ là nhận biết cái dấu vết dồn nén ở bên trong nét đặc trưng cơ bản và không thể thiếu của Thư viện công cộng (hay đơn gian là Thư viện tập thể): tính giả tạo của nó. Tự thân tính giả tạo không phải là con đường dồn nén (Tự nhiên không hề có người giải phóng của riêng nó). Nếu tính giả tạo của Thư viện ngăn cản sự Ham muốn đọc, đó là vì hai lý do.

1. Về mặt cương vị xã hội, dù kích thước như thế nào đi nữa thì Thư viện vẫn là vô cùng, trong chừng hạn nó luôn luôn (cho dù nó được nhận thức như vậy) vừa ở bên này vừa ở bên kia sự yêu cầu: cuốn sách mong muốn thì có xu hướng không có ở đó, trong khi đó, người ta lại đề nghị cho bạn một cuốn sách khác. Nghĩa là Thư viện là không gian của những cái thay thế sự ham muốn. Trước cuộc phiêu lưu của hành động đọc, nó là cái có thật ở chỗ nó nhắc nhở sự Ham muốn phải trật tự: Bao giờ nó cũng vừa quá lớn, vừa quá nhỏ, cho nên về cơ bản, nó không phù hợp với sự Ham muốn. Muốn giải thoát niềm vui thú, thỏa mãn ra khỏi Thư viện, chủ thể phải từ bỏ Trí tưởng tượng dạt dào của mình, phải tạo ra cho mình mặc cảm Oedip – cái mặc cảm không chỉ hình thành từ năm lên bốn tuổi mà hình thành từng ngày trong cuộc đời mà tôi muốn. Ở đây, chính sự thừa thãi sách vở mới là quy luật, là sự thiến.

2. Thư viện là khoảng không gian để người ta thăm viếng, nhưng không bao giờ là nơi người ta cư trú. Trong tiếng nói tất nhiên là hoàn thiện của chúng ta, cần phải có hai từ khác biệt: một từ dành cho sách của Thư viện và một từ dành cho sách tại gia (gạch dưới, đây là một ngữ đoạn tự trị chỉ cho một đối tượng đặc biệt) – một từ dành cho sách “mượn” – thường là qua một trung gian bàn giấy hay theo đơn (magistrale) và một từ dành cho sách bị tóm lấy, bị níu kéo,bị dụ dỗ, được lấy ra như thể nó từng là một thần vật; một từ dành cho loại sách-đối tượng của một món nợ (cần phải trả) và một từ dành cho cuốn sách-đối tượng của một ham muốn hay của một yêu cầu trực tiếp (không qua trung gian). Cái không gian tiết kiệm (không phải công cộng) ấy rút ra từ sách vở mọi chức năng dường như có tính xã hội, văn hóa, thiết chế (ngoại trừ trường hợp các cosy-corner[10] chứa các loại sách cặn bã). Chắc chắc, sách tại gia không phải là một mảnh ham muốn thuần khiết: nó (nói chung) phải thông qua một trung gian không hề sạch sẽ cho lắm: tiền. Nghĩa là người ta phải mua nó và do đó, không mua được những cái khác. Nhưng cho dù chúng là cái gì đi nữa thì bản thân tiền là một sự dồn nén – chứ không phải Thiết chế là sự dồn nén. Mua có thể là dồn nén, nhưng mượn chắc hẳn không phải như thế. Trong cái xã hội không tưởng của Fourier[11], sách vở hầu như không có giá trị gì cả, nhưng dù sao thì chúng cũng được chấp nhận nhờ trung gian của vài đồng xu. Chúng được che chở bởi một sự Tiêu dùng và nhờ đó mà sự Ham muốn vận hành được chức năng của nó: một cái gì đó đã được giải tỏa.

Viết cho Hội nghị Viết ở Luchon, 1975.

 In trong Le Francais aujourd’hui, 1976.

(còn nữa)

Lý Thơ Phúc dịch từ nguyên tác tiếng Pháp Sur la lecture in trong cuốn Le bruissement de la langue, Seuil, 1984, pp 37-48,của Roland Barthes. (24/10/2012)



[1]Tác giả dùng từ pluriel. Tính từ này ngoài nghĩa chỉ số nhiều ngữ pháp còn có một nghĩa phái sinh mà theo tự điển Larousse Multidico (bản điện tử) định nghĩa là: “Dont le contenu est formé d’éléments multiples, sous-jacents à un sens unique non repérable immédiatement : Lecture plurielle d’un texte. (Tạm dịch: Có nội dung được cấu tạo bởi nhiều yếu tố khác nhau nhưng ngầm ẩn một ý nghĩa duy nhất không thể xác định trực tiếp được). Khó tìm thấy trong tiếng Việt một từ tương ứng với nội hàm này, do đó, chúng tôi tạm sử dụng từ số nhiều ở đây với nghĩa”có nhiều cách đọc khác nhau”.

[2] Tác giả dùng từ atelier. Ở đây không thể dịch là xưởng thợ, dù đây là nghĩa chính của nó. Chúng tôi chọn từ tiếng Anh tương đương với nó là workshop với nghĩa “hội thảo”.

[3] Trong nguyên tác, Barthes dùng hai từ là anagnose anagnosologie. Từ này có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là ana-gignôsco có nghĩa là “đọc-hiểu). Đây là lý thuyết chung về sự đọc, bắt nguồn từ ngôn ngữ học và ký hiệu học, được Barthes xem xét lại vào năm 1984 để đáp lại từ “lecturologie” của Kristeva (1969), nhằm thống nhất các trào lưu và tư tưởng rất phân tán trong sự đọc của sự đọc, hay nói cách khác trong sự “Siêu đọc (Métalecture). (dẫn lại theo nguồn: http://coursgabrielle.free.fr/metalangage/A.htm)

[4] Dịch theo nguyên tác nhưng cần hiểu động từ đọc ở đây có nghĩa là xem.

[5] Dịch theo nguyên tác nhưng cần hiểu động từ đọc ở đây có nghĩa là nhận ra.

[6] Dịch theo nguyên tác nhưng cần hiểu động từ đọc ở đây có nghĩa là đoán.

[7] Dịch theo nguyên tác nhưng cần hiểu động từ đọc ở đây có nghĩa là hiểu.

[8]La Pricesse de Clèves là một tiểu thuyết được Marie-Madeleine de là Fayette xuất bản ẩn danh vào năm 1678. Tiểu thuyết lấy khung cảnh cuộc sống ở triều đình Valois “trong những năm cai tri cuối cùng của Henri Second”, như người kể chuyện đã chỉ ra ở mấy dòng đầu của tác phẩm. Như thế có thể xác định đây là một tiểu thuyết lịch sử, cho dù dưới nhiều khía cạnh nó mở đầu cho truyền thống tiểu thuyết phân tích hiện đại.

Tiểu thuyết La Princesse de Clèves cũng cho thấy vai trò quan trọng của phụ nữ trong văn chương và trong đời sống văn hóa thế kỷe XVII được đánh dấu bởi trào lưu kiểu cách. Với tư cách là tiểu thuyết nền tảng, La Princesse de Clèves được xem như là một trong những khuôn mẫu văn chương đã gợi cảm hứng cho Balzac, Raymond Radiguet và kể cả Jean Cocteau. (Theo Wikipédia).

[9]L’Anti-Œdipe là tập 1 trong số 2 tập sách có nhan đề là Chủ nghĩa tư bản và chứng tâm thần phân liệt do hai nhà triết học và phân tâm học Gilles Deleuze và Félix Gauttari hợp tác viết.

[10] Tạm dịch: góc tiện lợi.

[11] Tức là Charles Fourier (1772-1837), triết gia Pháp theo phái xã hội chủ nghĩa không tưởng, nổi tiếng nhờ tạo ra thuật ngữ “nữ quyền” vào năm 1837, ông bênh vực cho quyền tự do xã hội và chính trị của phụ nữ.

 

Nguồn: Bản dịch giả gửi http://phebinhvanhoc.com.vn. Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply