Vở kịch bóng chói sáng


Lời dịch giả: Bài báo “Vở kịch bóng chói sáng” của tác giả Thuỵ Điển Ann Lingebrandt giới thiệu Hợp tuyển 12 nhà thơ đương đại Việt Nam lần đầu tiên dịch ra tiếng Thuỵ Điển. Các nhà thơ trong Hợp tuyển (xếp theo thứ tự năm sinh) là: Bằng Việt (1941), Hoàng Hưng (1942), Hữu Thỉnh (1942), Ý Nhi (1944), Nguyễn Duy (1948), Mai Văn Phấn (1955), Nguyễn Quang Thiều (1957), Nguyễn Lương Ngọc (1958- 1996), Ngô Tự Lập (1962), Nguyễn Bình Phương (1965), Phan Huyền Thư (1972), Vi Thùy Linh (1980). Bài đăng trên tờ báo thuộc loại lớn nhất Thuỵ Điển, tờ Helsingbogs Dagblad AB ra ngày 20 tháng 3-2010. 

*

VỞ KỊCH BÓNG CHÓI SÁNG 

 (Về tập Cho ngày hôm qua,hợp tuyển thơ của mười hai nhà thơ Việt Nam, bản dịch của Erik Bergqvist, Maja Thrane, Mimmi Dieu Huong Bergström và Tobias Theander, NXB Tranan, Thụy Điển)

Ann Lingebrandt (Thụy Điển)

 

Việc dịch thơ có nhiều điểm chung với kịch bóng[1] trong hang của Platon. Một bài thơ dịch nhiều khi chỉ là sự phản chiếu không hoàn hảo của bài thơ nguyên bản – chúng ta chỉ đoán được một thứ từa tựa như thế nếu chúng ta không nắm được ngôn ngữ nguyên bản của nó. Vấn nạn lớn vẫn là hiểu thấu đáo ngôn ngữ nước ngoài. Dịch thơ Việt Nam cũng rơi vào trường hợp như vậy.

Trong lời tựa của hợp tuyển thơ, nhà thơ Hoàng Hưng đã cảnh báo về Điều không thể làm được khi chuyển thơ ca Việt Nam ra các ngôn ngữ phương Tây: kết quả nhiều khi hơi vô nghĩa và vô hồn, như kiểu hát các bài thơ trong buổi dạ nhạc, không thể tránh khỏi việc đánh mất đi những lối chơi chữ đầy nhập nhằng, và như thế là đã phủ bóng râm lên chất lượng của bài thơ. Chúng ta chỉ an ủi một điều, như câu tục ngữ Việt Nam mà Hoàng Hưng đã dẫn: “Có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ”.

Chắc chắn chúng ta đành phải hoàn toàn chấp nhận để thưởng thức những nụ hoa – Mười hai nhà thơ hiện đại được giới thiệu trong hợp tuyển thơ, những người được chọn lựa nhằm gửi ý tưởng về sự phóng khoáng của thi ca Việt Nam ngày nay. Hợp tuyển thơ là một kinh nghiệm thi ca, như nét đại cương mang tính chất cung cấp tài liệu về nét văn hoá có một chân đứng trên nền tảng truyền thống còn chân kia thì bước hướng tới việc đập bỏ, trong khi nhà cầm quyền còn để mắt lo ngại tới những bài thơ có mùi vị “Phản động và suy đồi”.

Không có gì đáng ngạc nhiên rằng ở một đất nước có lịch sử thế kỷ 20 đầy máu và nước mắt, khi nhiều nhà thơ cất lên tiếng kêu bi thảm và cay độc, đặc biệt trong các nhà thơ trẻ mới xuất hiện sau này. Chúng ta cần phải làm quen cả với rất nhiều nhà thơ quay trở về từ hải ngoại, những người mà kinh nghiệm của họ đã làm họ trở nên xa lạ. Ý Nhi, một nhà thơ nữ nổi bật của chiến tranh, chủ đề thơ của chị đề cập đến trẻ con lớn lên dưới bom đạn B52 cũng như cả những người lính hiểu cuộc đời thông thường như một giấc mơ: “Thời của bạn trong những địa đạo chằng chịt, dưới mái nhà phủ cọ/ chiến tranh/ những cơn sốt rét, cái đói khủng khiếp, âm thanh của đạn súng trường bắn ra, của kẻ thù đang xáp lại gần“.

Nhưng trong thế hệ thi ca tiếp theo, khi ảnh hưởng phương Tây chảy tràn vào khắp mọi xó xỉnh của tâm hồn với văn xuôi trữ tình siêu thực, lối hành văn rời rạc, sự trung dung, cuộc chiến tranh âm ỉ phủ bóng tối và những tiếng vang của nó. Ngô Tự Lập, một trong những nhà thơ đã gây cho tôi ấn tượng lớn nhất, biện hộ cho đất nước bị giằng xé bi thương này bằng những câu thơ: “Bom đạn đã lặng đi/ Dưới thung lũng xa kia nước mắt người lấp lánh/ Ta vẫn nghe tiếng rên rỉ của người“.

Những nhà thơ trẻ nhất không mấy quan tâm đến quá khứ tập thể hơn sự giải phóng cá nhân, họ nhìn ra ngoài thế giới qua chiếc máy computer của họ. Họ viết cho ngày hôm nay hơn là cho ngày hôm qua. Những hình ảnh nổi loạn được thổi vào với xung điện cao và chớp sét được thấy trong những người đóng góp hợp tuyển thơ, Vi Thuỳ Linh, nhà thơ trẻ sinh năm 1980. Chất thơ tình đầy suy tư ẩn dụ của cô được phô diễn hầu như là sự  Tự-nhận-thức kiểu Edith Södergransk và chảy ào ạt ra cả làn sóng quyến rũ “Tôi vạch con đường trên đại dương với khế ước của trái tim tôi/ Được hộ tống bởi giác quan thứ sáu của tôi/ Thách thức những ngọn sóng, những cơn say với ánh mặt trời

Nếu đây là một vở kịch bóng, thì hợp tuyển thơ này là vở kịch bóng sáng chói, phong phú và đầy màu sắc.

 

Adam Hoàng Hạc dịch từ tiếng Thụy Điển. Nguồn: http://hd.se/kultur/boken/2010/03/20/blandande-skuggspel/ 

Chú thích

[1] Skuggspelet (Shadow play, Kịch bóng): kịch dùng bóng các con rọi chiếu trên tường.

Leave a Reply