Vừa sinh ra ở đó – tiếng thơ “thuần Việt”


Lê Hồ Quang

Vừa sinh ra ở đó là một tiêu đề đặc biệt. Sự tối giản của nó đã biến thi phẩm, ngay từ cái tên, trở thành những ám ảnh nghi vấn: ở đó là ở đâu? Ai, cái gì vừa được sinh ra? Tại sao lại là vừa mà không phải là đã, sẽ?… Rất tự nhiên, hàng loạt câu hỏi ấy cứ ám dụ người đọc khai mở thế giới thi tập để có câu trả lời cho riêng mình.

Ấn tượng không gian là ấn tượng thẩm mĩ nổi bật, xuyên suốt tập thơ này. Trước hết, nói đến ở đó là nói đến một không gian thiên nhiên đẹp, thuần khiết, nồng nã sắc hương: Nắng sớm đang phủ lên đỉnh núi/ Làm trong suốt lòng đất, lòng cây; Tiếng chim thổi bung gió lộng; Hương hoa thanh khiết phủ đá núi; Rừng nụ chờ em bước đến mới nở, điệp trùng hoa trắng lan nhanh; Nhụy hồng tươi/ Cánh trắng tinh khôi/ Mở bầu trời hơi thở; Xương cốt mùa đông/ Da thịt mùa xuân/ Hoa loa kèn mở cánh trắng muốt/ Cuống hoa tựa vào anh biếc xanh; Từng cánh hoa trắng muốt/ Giăng kín khoảng không; Từng chùm hoa rạng rỡ trong mưa…

Tĩnh lặng chính là trạng thái đặc biệt của không gian này. Đó là trạng thái tồn tại gắn liền với sự tinh khiết, thanh sạch. Quan trọng hơn, đó là trạng thái mà con người tìm thấy được sự hài hòa cao độ giữa bản thể và tự nhiên, vũ trụ. Bởi vậy, gắn liền với sự tĩnh lặng nội tâm ấy là hình tượng ánh sáng, một thứ ánh sáng vô lượng, được chiếu rọi từ cõi “tâm không” của con người: Ánh sáng/ Chẻ dọc thân cây… Hai nửa cây cùng một màu hoa/ Nở chi chít dọc lưỡi rìu ánh sáng; Giữa quầng sáng quanh tôi/ Và khoảng không tối thẳm/ Ngăn bằng lớp giấy gió; Tiếng chuông gió/ Rơi trong đêm những hạt sáng… Nhưng, tĩnh lặng ở đây không phải là sự tĩnh lặng bất động, chết chóc mà là sự tĩnh lặng ôm chứa mọi chuyển động, sinh sôi huyền vi của sự sống: Trái cây màu đen/ Chín từ đỉnh trời…/ Tóc và vai tôi màu trắng/ Chiếc cuống bắt đầu ngả vàng; Ánh sáng/ Chẻ dọc thân cây/ Bên này màu vàng/ Bên kia tím thẫm…/ Nhựa hai bên cũng khác/ Trắng/ Và đen; Màu đen đang co lại/ Tan nhanh; Bát nước và tôi màu trắng/ Mặt đất ngả vàng/ Cánh đồng phía trước/ Cùng tiếng chuông/ Vàng sậm/… Tôi thỉnh chuông/ Màu vàng/ Màu trắng lan đi… Với ý nghĩa này, tập thơ xuất hiện khá dày những biểu tượng về một cuộc gieo trồng vĩ đại. Ở đó, đất giống như một cơ thể nữ giới phồn thực mỡ màu sẵn sàng cho cuộc hoài thai, sinh nở: Đất ải tơi/ Vạt cỏ đầm sương; Cỏ cây láng ướt bầu trời/ Mưa quần tụ mái nhà gõ nhịp/ Mặt đất mềm hơi thở lan nhanh… Ở đó, nước (với những biến thể của nó như mưa, hơi ẩm, khí lạnh…) tạo sinh một không gian ẩm ướt, thuận lợi cho cuộc gieo trồng: Từng mưa to, mưa rất to/ Tắm táp cho viên cuội nhỏ; Mưa xuân se lạnh…/ Hơi lạnh và gió nhẹ phủ đều; Mở cửa trong ngày mù trời/ Mưa bụi ùa vào ẩm ướt; Mùa diệp lục/ Sinh từ hạt nước… Ở đó, ánh sáng, không khí, gió là những năng lượng trung chuyển sự sống: Nắng sớm đang phủ lên đỉnh núi/ Làm trong suốt lòng đất, lòng cây; Ở đâu bây giờ cũng có gió xuân/ Bức tường vôi vân vi máu chảy; Tiếng chim thổi bung gió lộng… Và ở đó, hạt giống, mầm, nụ như những biểu tượng khởi đầu của sự sống: Từ hốc đen tra hạt/ Đọt mầm bật dậy; Ngày lên thăm thẳm/ Lá mầm che mặt đất sum suê…

Nhiên giới được hình dung như một sinh thể, và “vạn vật hữu linh”, đầy cảm giác, cảm xúc. Xuất hiện trong tập thơ nhiều tính từ cực tả chỉ trạng thái, cảm giác về sự sung mãn, tràn trề năng lượng: căng tràn (nhựa mật), ứ căng (dòng nhựa), chật căng (mầm hạt), bạt ngàn (cây lá), (lá mầm che mặt đất) sum suê, (lá lên) xanh thắm…; nhiều động từ chỉ hoạt động sinh nở, phát triển: nứt vỡ (vỏ cây), chồi lên (thành lộc biếc), rộ lên (từng đợt lá non), vùi vào nhau (hạt mầm bé nhỏ), (đọt mầm) bật dậy…

Hình dung vũ trụ theo quy luật mùa màng, Mai Văn Phấn mô tả con người như những nông phu cần mẫn trên cánh đồng tình ái. Tình yêu của anh và em trong tương quan đó là biểu tượng của cuộc gieo trồng thiêng liêng. Trong cái nhìn sùng mộ và mang tính lí tưởng hóa, hình ảnh em gợi nhắc (và đôi khi được xem như là hóa thân) của Quán Thế Âm Bồ Tát, của Đức Thánh Mẫu, của Mẹ Thiên Nhiên cao cả, vô lượng, cội nguồn sinh thành tất cả, trong đó có chính anh, chủ thể trữ tình. Từ đây, trong giấc mơ thi sĩ, Em buông anh như gieo hạt và Khoảng khắc ấy anh thành hạt giống/ Bật phôi rễ và trổ lá mầm. Cũng trong/bằng giấc mơ, Tưởng tượng em nhặt anh lên, hít hà, cắn ngập vào lớp vỏ mịn. Nâng niu không vỡ hạt. Bao bọc. Chờ mưa phùn gieo anh nơi đất ấm. Và Trong hơi thở gấp anh biết/ Tay mang hạt giống/ Gieo… gieo/ Ta gieo… Những hình ảnh nhục cảm đắm đuối nồng nàn như thế này thường được bao bọc bởi vòng vòng hào quang tượng trưng, do vậy, có khả năng hướng độc giả đến điều gì đó mang tính phổ quát hơn và sâu xa hơn. Trong trường hợp này, cái dấu chỉ hướng tới chính là không gian ở đó. Trong không gian ấy, nhục cảm và thuần khiết là hai tính chất song hành, như thể cặp song sinh của hồn thơ thi sĩ. Ở đó, cái năng lượng libido mạnh mẽ và cường tráng đã được diễn tả theo cách của những cơn mưa to, mưa rất to trong chính thơ Mai Văn Phấn – vừa làm mặt đất ải tơi để gieo mầm sự sống, vừa để thanh tẩy, gột rửa. Không dừng lại ở cái nhìn thi vị hóa, lí tưởng hóa của chủ nghĩa lãng mạn, Mai Văn Phấn đã biến tình yêu lứa đôi thành một hệ hình tượng nhất quán và giàu tính biểu trưng. Cảm quan vũ trụ phối trộn với nhãn quan tình ái thành một “tinh thần thế giới” mang tính đặc thù. Đồng thời, được nhận thức và mô tả trong một bút pháp đậm tính tượng trưng, siêu thực, những hình tượng giàu nhục cảm của thơ ông vẫn hoàn toàn bảo đảm tính thơ trong vẻ gợi cảm/dục sôi nổi lạ lùng của nó. Từ đây, không gian này sẽ được đẩy tới một tầng nghĩa tượng trưng mới: không gian của sự hài hòa bản thể và vũ trụ, cái tôi và cái ta, con người và ngoại giới…

“Thiên nhân tương ứng” hay “thiên địa nhân hợp nhất” là quan niệm mĩ học quen thuộc của thơ cổ điển phương Đông. Nhưng trong thơ xưa, điều này được hình dung như một quy luật tiên thiên, sẵn có và nhà thơ chỉ việc tìm kiếm và diễn tả những biểu hiện cụ thể của nó. Ngược lại, nhà thơ hiện đại muốn bằng con mắt cá nhân để phát hiện lại thế giới. Do đó, thoạt nhìn có thể thế giới nghệ thuật kia rất gần, rất giống với thế giới tự nhiên nhưng thực ra đã khác về bản chất. Cũng trong cái nhìn phân tích duy lí tỉnh táo của nhiều tác giả hiện đại, tự nhiên chính là một phản đề của đời sống nhân tạo và con người cần trở về với thiên nhiên để gột rửa tâm hồn bụi bặm của mình. Sự hòa hợp giữa con người và ngoại giới trong thơ Mai Văn Phấn được hình dung như những hành động hết sức nhỏ bé, dung dị ngay trong đời sống thường nhật chứ không phải chỉ trong ý niệm: Em gom mùa nào thức nấy/ Chùm hoa bưởi mùa thu/ Trái mận mùa xuân/ Mình là mạch khí, vực sâu, ngực đất/ Chọn nơi ấm áp kê giường tủ/ Nơi thoáng đãng đặt bàn ghế… Những hành động đó thể hiện một tâm thế an nhiên tự tại, thong dong hướng tới sự hài hòa không chỉ với cõi thiên tạo mà cả với cõi nhân tạo. Chính tâm thế nương theo tự nhiên tuyệt đối ấy là điều kiện để Trí huệ vang âm thanh/ Sắc giác, khiến con người và ngoại giới có thể thành một:

Hạt mưa chạm mặt anh khỏa nhẹ.

Tiếng mưa dâng bầy thủy sinh, vây cá lượn lờ. Con tôm cong búng giật trong cơ thể anh nghẹn sóng.

Đừng mưa lây rây, mưa nhỏ giọt, mà xối xả lòng suối lòng hồ, lòng đá mềm giãn nở. Cánh tay trần vực dậy thân cây. Những nụ mầm ướt.

Mưa chạm vào da vào lưỡi, gợi đường cong và eo lưng mưa.

Tiếng sấm nổ vào thời khắc anh hình dung con cá lớn quẫy khỏi cơ thể. Ngoi lên. Ung dung bơi đi trong mưa.

Như một tất yếu, từ đây, tình yêu được nhà thơ hình dung như một phương tiện hợp nhất lí tưởng. Đấy là cách để con người tìm thấy mình trong kẻ khác – một âm/dương bản đẹp đẽ và hơn thế, tìm thấy mình trong cái cao cả, vô cùng của đời sống nguyên khởi. Có lẽ vì vậy mà khi viết Hôn em thật lâu ghi dấu/ Nơi đây. Giờ này/ Đám mây kia xuống thấp/ Buổi uyên nguyên trái đất quay về, nhà thơ đã vô tình gặp gỡ với Erich Fromm trong quan niệm này: “Con đường khác để biết sự “bí mật” là tình yêu. Tình yêu là sự thâm nhập chủ động vào kẻ khác, trong đó ham muốn hiểu biết của tôi được thoa dịu bằng sự hợp nhất”. Tất nhiên, như ta đã thấy trên thực tế, cảm quan triết học này không hề làm thơ tình Mai Văn Phấn trở nên khô cứng, nghèo nàn mà là ngược lại. Nhìn rộng ra, những trạng thái tình yêu luôn hiển hiện trong mọi dòng thơ tác giả này viết về thiên nhiên, cây cỏ, đất đai… Thực chất, thiên nhiên đắm đuối, phồn thực và sung mãn ấy chính là biểu tượng tình yêu phổ quát trong mắt thi sĩ.

Nhưng nhà thơ không mô tả sự hợp nhất này như một cái gì đã ổn định, hoàn tất. Nó được trình bày như một trạng thái đang tiếp diễn, một quá trình tu dưỡng và lắng lọc tinh thần âm thầm, bền bỉ và cũng có khi vướng víu tạp niệm… Sự quan sát nội tâm này không phải của một thiền sư (dù ta không loại trừ sự tham dự của cái nhìn ấy) mà là của một thi sĩ. Cho dù tác giả có nói đến việc thiền, đến tư thế kiết già hay việc gột bỏ tạp niệm nhằm chứng ngộ chân lí, nhưng đó không phải là chân lí của người tu hành, mà là chân lí của nhà thơ, kẻ hành nghề sáng tạo đắm đuối với thơ, với đời và bản thân mình. Do đó, hành thiền không chỉ để hoàn thiện sức mạnh tinh thần mà còn để phát hiện những vẻ đẹp mới trong chiều sâu nội tâm và bản thể. Đấy vẫn là một cái tôi duy mĩ và duy cảm, cái tôi luôn biết phát hiện và tận hưởng mọi vẻ đẹp quyến rũ của đời sống thế tục: Chạm vào anh biết viên sỏi rất mềm, cọng rơm khô trĩu nặng, sợi tóc thở nhẹ; Bánh qua lò bột mịn bông tơi/ Đặt bên cạnh trà thơm, dao sắc… Đấy cũng là cái tôi duy lí, dù đã cố gắng buông bỏ, rỗng không nội tâm nhưng mối buộc của lí trí sắc bén vẫn không hề lơi lỏng (chẳng thế mà cúi xuống đài sen vẫn nhớ mình là viên đạn, cái gai để rồi nhói lên thảng thốt: Lúc này sao còn liên tưởng tới mũi tên, viên đạn, cái gai?… đấy thôi!). Nhưng có lẽ chính điều này đã khiến cuộc hành – thiền – thơ ấy thêm ý vị, nó cho thấy rõ hơn cái dung mạo tinh thần thật sự phức tạp và tinh vi của cá nhân trên hành trình dõi sâu vào bản thể.

Vừa sinh ra ở đó là một bầu sinh quyển đẹp, thuần khiết, có tính lí tưởng, được tạo nên bởi một “thi pháp sinh thái” hiện đại. Ở đó, mọi yếu tố riêng lẻ đều được quy tụ trong cái nhìn mĩ học nhất quán. Đó là không gian của Thiền và của Đời. Không gian nối liền những chiều kích đối lập, xa thẳm, đi từ nhà mình đến nơi cội nguồn thế giới… Cái cốt tủy của không gian thơ này chính là ý niệm về “tinh thần thế giới” như yếu tố gắn kết mọi phương diện của đời sống nhân sinh và vũ trụ. Tinh thần ấy, như Mai Văn Phấn hình dung, là mạch khí nối liền đất đai, sông ngòi, muông thú, con người… Nó hiện diện từ luồng sáng từ mảnh thiên thạch, trong viên cuội nhỏ nằm trên phiến đá cao, hay nơi rau xanh cá quẫy, giếng sâu, sông ngòi, ao chuôm… Tinh thần vũ trụ hiện hữu trong những gì tưởng chừng bé nhỏ nhất. Nó có thể được sản sinh và tái sinh ngay trong thì hiện tại. Đó là một nguồn năng lượng đang vận động. Vì vậy không gian ấy cũng gắn liền với thời gian, hiện diện trong thời gian, thậm chí nó chính là thời gian. (Có thể thấy ở đây ảnh xạ của những quan niệm khoa học và mĩ thuật hiện đại về không gian và thời gian). Cho nên quá khứ có thể đồng hiện trong hiện tại, hóa thân vào hiện tại và cũng chính là hiện tại. Không gian và thời gian, con người và vũ trụ là nhất thể: Tôi nhìn thấy trên đỉnh đồi/ Một bông cỏ may vừa nở và Đúng, rất đúng/ Tất cả chúng ta vừa sinh ra ở đó. Sự “bừng ngộ” ấy thanh lọc nội tâm con người, hình thành nên cái nhìn thấu triệt nhưng dung ái, khoan hòa về đời sống. Nhưng quan trọng hơn, nó đem lại cho thi sĩ một năng lực đặc biệt trong việc phát hiện ra cái đẹp, cái nên thơ của đời sống thế tục.

Như thường thấy, thơ Mai Văn Phấn mạnh về ý tưởng, tư tưởng hơn là những chi tiết, câu chữ cụ thể. Thơ ông hấp dẫn bởi không gian tạo nghĩa hơn là những ẩn dụ riêng lẻ. Nếu ở một số tập trước (Hôm sau, Và đột nhiên gió thổi, Bầu trời không mái che…), tính siêu thực đậm nét thì đến Hoa giấu mặt, và bây giờ là Vừa sinh ra ở đó, thơ Mai Văn Phấn nghiêng về tính tượng trưng. Tập thơ là sự trở về với đời sống tâm linh phương Đông, với hồn cốt Việt, trên nền trữ lượng tinh thần mạnh mẽ của kiểu tư duy hiện đại. Sự tiết chế trong kĩ thuật, tính biểu tượng trong cấu trúc không gian, sự cô đặc và giản dị trong ngôn từ và hình ảnh… là những yếu tố quan trọng tạo nên tính tượng trưng đậm nét trong tập thơ này. Ngôn ngữ, hình ảnh thơ tái hiện và hòa hợp một cách tự nhiên, sắc nét với trực giác, xúc cảm, làm trực hiện một thế giới của tâm linh, của trí tưởng tượng song vẫn hết sức gần gũi. Nhìn chung trong toàn bộ tập thơ, cái lõi tinh thần triết học đã tìm được một cách diễn đạt sát hợp, dung dị và giàu tính ám gợi. Tuy nhiên, nếu quan sát kĩ, có thể thấy khi nhà thơ buông lỏng sự kiểm soát của mình thì trạng thái hài hòa ấy hiện lên một cách rất rõ nét, song khi ông cố gắng phân tích và thâu tóm nó thì trạng thái hòa hợp ấy lại dường như… biến mất. Cái tôi lí tính thức nhận thế giới một cách tỉnh táo (thể hiện qua hàng loạt động thái tôi nhìn, tôi thấy, tôi cảm, tôi nghĩ, tôi tưởng tượng…) vô tình đã trở thành vật cản trên hành trình giác ngộ tâm linh. Bên cạnh đó, xuất phát từ mục đích tìm đến một cách diễn đạt “thuần túy và tượng trưng” (Bích Khê), nhằm gây một ấn tượng triệt để và tập trung về mặt ý tưởng đôi khi kéo theo kết quả ngược lại. Chẳng hạn trong Tỉnh dậy trong mưa (27), khi tác giả viết: Cùng em nhìn muôn mặt cắt khuất lấp/ Biết mình đã đổi thay và mãi ngây thơ/ Ngày mai đang yêu/ Trái tim rộn rã thuở ban đầu… thì có phần màu mè, dễ dãi; hoặc ở phần Tĩnh lặng (37) thì hơi cạn nghĩa và thiếu sức gợi (dù nhìn trong chỉnh thể toàn bài/tập, hoàn toàn có thể hiểu sự góp mặt của chúng).

Hướng thơ về những chủ đề triết học chính là một cách tìm kiếm những năng lượng sáng tạo mới, gia tăng sức gợi, độ mở và vẻ đẹp minh triết của thơ ca. Là một gương mặt cách tân thơ quyết liệt và nổi bật của thế hệ cầm bút sau 1975, những đóng góp nghệ thuật của Mai Văn Phấn đã được nhiều người khẳng định. Ở đây, tôi chỉ muốn nói thêm rằng, ông là một nhà thơ có tư tưởng và đó là nguyên nhân cơ bản đem lại chiều sâu cũng như sức bền của ông trên con đường sáng tạo. Với tập thơ thứ 11 – Vừa sinh ra ở đó, con đường cách tân của Mai Văn Phấn ngày càng gần hơn đích đến, và diện mạo của một tiếng thơ “thuần Việt” – như khát vọng của nhà thơ – ngày một hiển lộ. Dĩ nhiên, đó phải là một tinh thần Việt trên nền tảng chắt lọc và phát triển tinh hoa truyền thống và hiện đại, dân tộc và thế giới… Bởi vậy, đó hẳn vẫn là một con đường mở, đòi hỏi nhiều nỗ lực tiếp tục tìm kiếm, sáng tạo.

Ở đó là ở đâu? – Là ở nơi cội nguồn thế giới. Nơi tất cả chúng ta được sinh ra và luôn được tái sinh. Đó cũng chính là không gian sinh thành và tồn tại của cái đẹp, tình yêu và sự sáng tạo nghệ thuật. Dẫu vậy, bất chấp những nỗ lực phân tích tường minh, ở đó vẫn mãi là một địa chỉ quyến rũ bất định của thi ca và trí tưởng tượng. Chẳng biết sau Vừa sinh ra ở đó, con – tàu – thơ Mai Văn Phấn vẫn tiếp tục tìm về ở đó hay sẽ bẻ ghi theo hướng khác.

Nguồn:http://vannghequandoi.com.vn/

Leave a Reply