Xã hội học văn học ở Pháp


                                                    Phương Thủy(*) – Phương Ngọc(**)

                                                        

Ngay từ tên gọi, xã hội học văn học đã khiến chúng ta có thể nhận thấy mối liên quan giữa văn học với xã hội nói chung. Như chúng ta biết, mối quan hệ này đã có từ rất lâu đời, được đề cập đến từ thời cổ đại với Aristote, Platon…rồi kéo dài trong lịch sử. Nhưng nói đến xã hội học văn học với tư cách một lĩnh vực trong nghiên cứu khoa học văn học thì phải lấy mốc thế kỷ XIX, đặc biệt phát triển trong suốt thế kỷ XX. Trong phạm vi bài này chúng tôi xin giới hạn vấn đề trong một không gian là xã hội học văn học ở Pháp với thời gian về cơ bản trong thế kỷ XX.

            1.Xã hội học văn học là gì?

Trả lời cho câu hỏi ” xã hội học văn học là gì?” một cách thoả đáng không phải là đơn giản. Để tham khảo, chúng tôi xin nêu một số định nghĩa. Trước hết đó là những thông tin từ cuốn Từ điển xã hội học. Trong mục từ “xã hội học văn học”, tác giả  Hans Norbert Fugen đã viết như sau: “Xã hội học văn học với tư cách một bộ môn xã hội học đặc thù, không phải là một ngành khoa học thống nhất về đối tượng, cách đặt vấn đề và phương pháp. Có ba cách tiếp cận quan trọng trong cuộc tranh luận của ba mươi năm gần đây: cách tiếp cận mác xít, cách tiếp cận xuất phát từ thuyết phê phán (trường phái Frankfurt) và cách tiếp cận thực nghiệm. (…) Như vậy mỗi một quan sát khoa học về thi ca và văn học có thể xem như là xã hội học văn học, và nếu nó quan tâm nghiên cứu chủ yếu đến ảnh hưởng về xã hội lên văn học, nếu ngược lại nó tìm hiểu tác động xã hội của văn học và nếu nó làm ta có thể nhận thức được những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau này bằng một minh chứng có thể kiểm tra được”[1].

Trong cuốn Từ điển các nền văn học từ góc độ lịch sử, đề tài và kỹ thuật[2] các tác giả đã định nghĩa như sau về “xã hội học văn học”: “Thật ra, xã hội học văn học là một diễn ngôn hỗn hợp có đối tượng là quá trình văn học với nghĩa đầy đủ nhất của từ này. Xã hội học văn học quan tâm đến tình huống cũng như chức năng, cấu trúc cũng như tính năng động, tóm lại là tất cả các yếu tố của cái có thể được coi là “văn học”: Xã hội học văn học nghiên cứu quá trình phát ra diễn ngôn, tiếp nhận diễn ngôn, vai trò trung gian, cũng như tất cả những gì liên quan tới các quá trình đó trong một dòng chảy lịch sử của quá trình giao tiếp có tính biểu tượng. Đối tượng của xã hội học văn học luôn trong quá trình biến đổi liên tục, luôn không ngừng thay đổi diện mạo, chính vì vậy mà mọi thao tác nhằm khách quan hóa đều chỉ có tính tạm thời và phân tích[3].

Tác giả J.-Y.Tadié trong tác phẩm Phê bình văn học thế kỷ XX  dành toàn bộ chương VI có tên là Xã hội học văn học cho bộ môn khoa học này. Trước khi giới thiệu những gương mặt tiêu biểu trong lĩnh vực này như G. Lukács, L.Goldmann, M.Bakhtine v.v. ông nhấn mạnh: “ Tính đặc trưng của xã hội học văn học là thiết lập và miêu tả những mối quan hệ giữa xã hội và tác phẩm văn học. Xã hội có trước tác phẩm, bởi vì nhà văn bị chi phối bởi xã hội, phản ánh nó, thể hiện nó, tìm cách thay đổi nó; nó tồn tại trong tác phẩm, nơi mà người ta tìm thấy dấu vết của nó, sự miêu tả của nó, nó tồn tại sau tác phẩm, bởi vì có một xã hội học của sự đọc, của công chúng, bộ phận này cũng làm nên văn học từ những nghiên cứu thống kê theo lý thuyết tiếp nhận”[4].

Hai tác giả P. Aron và A. Viala trong cuốn Xã hội học văn học được xuất bản trong tủ sách “Que sais-je?”, đánh dấu một dấu mốc mới trong nghiên cứu xã hội học văn học tại Pháp đã cung cấp một định nghĩa ngắn gọn: “Xã hội học văn học nghiên cứu quan hệ giữa đời sống văn học và đời sống xã hội”[5].

Theo nhà nghiên cứu P.Dirkx trong cuốn Xã hội học văn học[6] ra mắt năm 2000 và cho đến nay vẫn là một nghiên cứu được đánh giá cao, thì cần phải hiểu xã hội học văn học như một bộ môn nghiên cứu bao gồm tất cả các khía cạnh văn học, ở “ngoài” hoặc ở “trong” văn bản văn học: Xã hội học văn học quan tâm đến văn bản văn học cũng như bối cảnh xã hội, hình thức cũng như nội dung, văn học cũng như xã hội.

 Cũng có một khuynh hướng gắn xã hội học văn học với việc phân tích văn bản (thường được gọi là phê bình xã hội học (sociocritique). Thuật ngữ này được Cl. Duchet nêu ra trong một bài báo có tính chất cơ sở trong tạp chí Văn học (Littérature, Larousse, số 1, 1977). Xuất phát điểm của nó là việc quan tâm tới bản chất xã hội trong văn bản văn học, quan tâm đến mối quan hệ của con người với xã hội trong quá trình phân tích văn bản.

Ở Việt Nam, có thể nói người đầu tiên giới thiệu xã hội học văn học là GS.TSKH. Phương Lựu. Năm 1999, trong cuốn sách Mười trường phái lý luận phê bình văn học phương Tây đương đại, ông đã dành 20 trang cho một trong mười trường phái đó có tên là Xã hội học văn học. Cho rằng xã hội học văn học là một trong ba khuynh hướng chính chiếm ưu thế trong bức tranh chung của lý luận phê bình văn học phương Tây hiện đại, tác giả đã khẳng định  mối quan hệ giữa văn học với xã hội, tác dụng xã hội của văn học đã được chú ý từ lâu, ngay trong buổi khởi đầu của lý luận văn học. Để phân biệt xã hội học văn học theo hướng nghiên cứu những quan hệ giữa văn học và xã hội và cách tiếp cận văn học bằng những kiến thức và phương pháp của chuyên ngành xã hội học, tác giả Phương Lựu đã chia thành xã hội học văn học vĩ môvi mô.

Qua một số thông tin trên, chúng ta có thể có thể thấy xã hội học văn học là một ngành nghiên cứu đặc thù liên quan đến hai chuyên ngành văn học và xã hội học, nó nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quan hệ giữa đời sống xã hội và đời sống văn học, gồm các vấn đề thuộc bên trong và bên ngoài tác phẩm, các vấn đề thuộc giai đoạn trước, trong và sau tác phẩm. Để hiểu rõ hơn vấn đề này chúng ta sẽ tìm hiểu phương pháp tiếp cận cũng như những đóng góp của xã hội học Pháp trong thế kỷ XX.

2.Những nhân vật tiêu biểu trong thế kỷ XX 

      Robert Escarpit (1918-2000)

Là giáo sư chuyên gia về văn học Anh, R. Escarpit là tác giả của khoảng 50 tác phẩm trong đó có các nghiên cứu về văn học, xã hội học, xã hội học văn học, cũng như các tiểu luận và tiểu thuyết.

Sau khi theo học trường Đại học Sư phạm nổi tiếng ở Paris, ông giảng dạy ở trường trung học d’Arcachon (Gironde) từ 1943 đến 1945. Sau đó, ông đảm nhiệm chức vụ chánh văn phòng, tiếp theo là giám đốc Trung tâm văn hóa Pháp tại Mexique từ 1945 đến 1949. Bảo vệ luận án tiến sĩ văn học vào năm 1952, ông giảng dạy tại trường Đại học Tổng hợp Bordeaux, với tư cách là trợ giảng tiếng Anh và sau đó với tư cách là giáo sư văn học so sánh, trong gần 20 năm từ 1951 đến 1970. Với tư cách này ông là người có công trong việc phát triển văn học so sánh trong trường đại học Pháp. Tuy nhiên, việc nghiên cứu so sánh tác phẩm một cách “trừu tượng” khiến ông không thỏa mãn, ông cho rằng công việc ấy “không mang lại kết quả gì cụ thể”. Ông tìm đến một con đường mới trong nghiên cứu văn học.

Ông là người sáng lập và lãnh đạo Trường cao đẳng kỹ thuật Bordeaux (IUT) thuộc trường Đại học Tổng hợp Bordeaux từ 1970 đến 1975. Từ 1975 đến 1978, ông được giao trách nhiệm lãnh đạo trường Đại học Tổng hợp Bordeaux III. Là một nhà giáo và nhà nghiên cứu, R. Escarpit vừa giảng dạy đại học vừa tham gia các chương trình nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS).

R. Escarpit quan tâm đến quan hệ giữa ba mặt của văn học (nhà văn-tác phẩm-người đọc) từ rất sớm. Trong một cuốn sách nhỏ nhan đề Lịch sử văn học Pháp được xuất bản năm 1948 tại Mexique khi R. Escarpit làm Giám đốc Trung tâm văn hóa Pháp tại Châu Mỹ Latinh, ông đã nói về vấn đề này như sau: người ta biết rằng trong văn học có các nhà văn (có rất nhiều tiểu sử nhà văn); có tác phẩm văn học (có rất nhiều sách nói về tác phẩm văn học), nhưng còn một khía cạnh khác mà thường không ai nói tới, đó là người đọc. Bài báo đăng trên Le Monde vào khoảng năm 1950 của R. Escarpit tiếp tục phát triển ý tưởng này.

Trong những năm sau đó, ông lặng lẽ đào sâu tìm hiểu quan hệ giữa nhà văn, tác phẩm và độc giả. Kết quả là tác phẩm Xã hội học văn học[7] xuất bản năm 1958, khi đó ông là Giáo sư của Khoa văn học, trường Đại học Tổng hợp Bordeaux. Trong cuốn sách khổ nhỏ chỉ có 127 trang, tác giả đã trình bày những vấn đề lớn liên quan đến những con đường mới cho nghiên cứu văn học. Trước hết ông bày tỏ những mong muốn cháy bỏng của mình bằng những lời lẽ thận trọng: « Có lẽ là khá ngạo mạn quả quyết rằng tôi sẽ trình bày các kết quả chưa trọn vẹn. Sự thực là tôi sẽ trình bày một số kết quả về một phần rất nhỏ của các vấn đề đặt ra. Nhưng cuối cùng tôi tin tưởng rằng có thể đặt ra các vấn đề, và, nếu như tiếng nói của tôi có thể gặp gỡ với những người khác, thì nó sẽ góp phần đánh thức trí tò mò để khởi động những nghiên cứu mới, mà có thể vào những năm tới những nghiên cứu mới đó sẽ phát triển thành một xã hội học văn học đích thực »[8]. Ông thấy rằng lịch sử văn học cũng như phê bình truyền thống thường chỉ quan tâm đến vấn đề tác giả – tác phẩm và cho rằng cần phải bổ sung thêm góc nhìn xã hội học. R.Escarpit quan tâm đến các « sự kiện văn học », coi văn học là hiện tượng xã hội gồm có nhà văn – người sáng tạo; tác phẩm và công chúng – người đọc. Bốn phần của cuốn sách Xã hội học văn học là bốn vấn đề lớn thể hiện những ý tưởng « mở đường » về phương pháp của tác giả, giải quyết từ lý thuyết đến thực tiễn: Phần thứ nhất: Các nguyên tắc và phương pháp (Chương I: Tại sao lại là xã hội học văn học ? Chương II: Làm thế nào để tiếp cận « sự kiện văn hoc ?); Phần thứ hai : Sản xuất (Chương III: Nhà văn trong thời đại; Chương IV: Nhà văn trong xã hội); Phần thứ ba: Phát hành (Chương V: Hành động quảng cáo; Chương VI: Vòng tròn phát hành); Phần thứ tư: Tiêu thụ (Chương VII: Tác phẩm và công chúng; Chương VIII: Việc đọc và cuộc sống).

Ông đi đến kết luận rằng tính văn học (littérarité) nằm trong quá trình đọc, trong cách đọc và cách tiếp nhận văn bản viết. Nói khác đi, không có người đọc thì không có nhà văn, không có người coi tác phẩm là tác phẩm thì không có văn học. Như vậy, hiện tượng văn học về bản chất là một hiện tượng giao tiếp, được hiểu với nghĩa là hiện tượng truyền thông tin từ người phát thông tin (nhà văn) đến người nhận thông tin (người đọc) thông qua phương tiện là chữ viết và sản phẩm là sách. Năm 1958 đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong sự nghiệp khoa học của R. Escarpit cũng như của xã hội học văn học ở Pháp trong thế kỷ XX. Theo quan điểm của ông, đó là một việc làm “có ích” bởi nó không chỉ là các ý tưởng, luận điểm thể hiện trên giấy, qua các cuộc Hội thảo, các cuộc tranh luận (nhiều khi chẳng đi đến đâu) mà trực tiếp thâm nhập vào cuộc sống, vào vòng quay hàng ngày của văn học, những gì liên quan đến người viết ra sách, đến việc làm ra sách và tiêu thụ sách. Cuốn sách đã được dịch ra 23 thứ tiếng và có tiếng vang trên toàn thế giới. Đó là nghiên cứu đầu tiên bằng tiếng Pháp đặt vấn đề nghiên cứu “các hiện tượng văn học” bằng phương pháp xã hội học.

Mặc dù nhà văn cũng là đối tượng nghiên cứu, xã hội học văn học trong các nghiên cứu của R.Escarpit nói riêng, cũng như của trường phái Bordeaux nói chung, chủ yếu quan tâm nghiên cứu sản phẩm văn học là sách, cũng như quá trình đọc và người đọc trong những môi trường xã hội nghề nghiệp khác nhau với mục đích đưa các kết quả nghiên cứu vào áp dụng thực tế. Để nghiên cứu hiện tượng văn học, R. Escarpit thường xuyên sử dụng chất liệu lịch sử văn học phương Tây. Ông đưa ra khái niệm “phản hồi” và cho rằng hiện tượng phản hồi là hiện tượng cơ bản của mọi hoạt động giao tiếp văn hóa. Đối với ông văn học về bản chất là một hiện tượng giao tiếp.

Năm 1960 Trung tâm xã hội học các hiện tượng văn học được thành lập tại Bordeaux, với người đứng đầu là R.Escarpit. Trung tâm quan tâm tới những nghiên cứu thực địa về văn học đứng từ góc độ người đọc và hệ thống phát hành. Cũng từ đây đã hình thành và phát triển “trường phái Bordeaux” mà thành phần tham gia gồm các nhà nghiên cứu theo nhiều khuynh hướng khác nhau: có những người xuất phát từ hiện tượng học, hoặc từ những quan điểm mác xít, có người là đồ đệ của phê bình hiện sinh J.-P. Sartre hoặc từ chủ nghĩa cấu trúc phát sinh của L.Goldmann, lại có cả những người theo quan điểm của R.Barthes. Xuất phát học vấn của họ cũng vô cùng đa dạng: văn học, ngôn ngữ học, xã hội học, tâm lý học, thậm chí là kinh tế học. Vì vậy mỗi người lại có dịp tìm hiểu chuyên môn và kỹ thuật từ người khác, bổ sung cho nhau và chính sự đa ngành đã là nhân tố tích cực cho sự phát triển của nhóm nghiên cứu.

Năm 1970 cuốn sách Văn học và xã hội[9] do R.Escarpit chủ biên đã nói rõ điều này. Trong bài viết của mình với tên gọi được lấy một cách cố ý cho nhan đề cuốn sách Văn học và xã hội, R.Escarpit đã trình bày về những giới hạn của văn học mà trước hết « Không có gì thiếu chính xác hơn khái niệm văn học. Bản thân thuật ngữ « văn học » được dùng trong trường hợp khác nhau và nội dung ngữ nghĩa của nó thì rất phong phú đa dạng, đồng thời không hề thống nhất[10] ». Tiếp theo, ông đề cập đến các đặc thù của văn học. Ba điểm đặc thù đầu tiên là: 1.Văn học khác với các nghệ thuật khác bởi nó vừa là vật vừa là ý nghĩa; 2.Trong xã hội phương Tây văn học có đặc trưng là ở cấp độ siêu ngôn ngữ có sự đồng nhất, hoặc xung đột, giữa hình thức được thể chế hóa và tự do sáng tác; 3.Văn học bao gồm các tác phẩm trong đó thế giới tưởng tượng được tổ chức theo các cấu trúc tương đồng đối với các cấu trúc xã hội của hoàn cảnh lịch sử. R.Escarpit cho rằng: « Có thể dễ dàng nhận thấy rằng ba tiêu chí này xác định văn học như một cái gì đó đang đến, đã được thực hiện, nhưng không giống như cái gì đó được cảm nhận. Tuy nhiên rõ ràng là văn học chỉ là văn học bởi nó được đọc »[11].Từ đó ông đi đến chỗ công nhận đặc tính thứ tư đặc thù của văn học: « một tác phẩm có tính văn học khi nó có “khả năng bị phản bội”, khi nó vẫn là chính nó nhưng lại cho phép người ta sử dụng nó với ý nghĩa khác trong một hoàn cảnh lịch sử khác so với với ý nghĩa ban đầu mà nó thể hiện một cách rõ ràng trong hoàn cảnh lịch sử lúc nó được sinh ra (tác giả nhấn mạnh)»[12]. Ông khẳng định các tác phẩm được gọi là tác phẩm vĩnh cửu khi mà nội dung của nó có thể cho phép các thế hệ người đọc bổ sung thêm ý nghĩa mới. Vậy là tác phẩm càng có tính văn học bao nhiêu (có nghĩa là càng “hay” bao nhiêu ) thì khả năng thích nghi và khả năng truyền thông của nó càng lâu dài và rộng rãi. Một lần nữa, trong công trình này, ông khẳng định cách tiếp cận xã hội học văn học của mình khi mà cùng một độc giả và một tác phẩm, chúng ta có thể thấy nhiều cách đọc khác nhau. Ông xem xét văn học như một « cỗ máy » bao gồm các khâu : sản xuất, thị trường và hoạt động tiêu dùng. Nghiên cứu quan hệ giữa xã hội và văn học theo quan điểm của ông và những nhà nghiên cứu của « nhóm » (từ ông thích dùng hơn) Bordeaux sẽ hướng về những nghiên cứu xã hội học về sách, nghiên cứu về việc đọc và xã hội học về tác phẩm văn học.

Để hiểu rõ hơn các hướng nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của trường phái Bordeaux chúng ta sẽ cùng tìm hiểu chương trình nghiên cứu của Trung tâm xã hội học các hiện tượng văn học.Trong tạp chí Giao tiếp (Communications) số 5 năm 1965, Trung tâm đã công bố 9 chương trình nghiên cứu: Xã hội học và phê bình văn học;  Nghiên cứu việc phát hành sách; Nghiên cứu tâm lý xã hội người đọc vùng Bordeaux; Xã hội học văn học lịch sử; Hành vi của các quân nhân trẻ đối với việc đọc; Nghiên cứu việc đọc trong môi trường công nhân; Xã hội học văn học và xã hội học tôn giáo; Nghiên cứu nội dung xã hội; Từ điển quốc tế các thuật ngữ văn học. Từ các chương trình trên, Trung tâm đã cho ra mắt một loạt các nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực xã hội học văn học. Trong số các cồng trình đó Bản đồ việc đọc ở Bordeaux được R. Escarpit và N. Robine xuất bản năm 1963 là nghiên cứu đầu tiên trong lĩnh vực này. Tiếp theo là các nghiên cứu cụ thể: M.F. Pages về “Nhân vật cha cố trong văn học Pháp từ 1918 đến 1952”; Frugiar về “Đề tài chính trị trong các tạp chí hàng tuần cho trẻ em”; Y. Aguilar và G. Lassartesse về “Xã hội và vấn đề xã hội trong tiểu thuyết trinh thám của tủ sách Đen”; P. Orecchioni về “Các nhà tiểu thuyết Pháp đối với độc giả của họ từ 1830 đến 1848”; Neals về “Các độc giả người Anh của Balzac”; Kubler về “Các độc giả người Đức của Sartre” v.v….

Đối với R. Escarpit, vấn đề của một nền văn học không chỉ là các cuộc tranh cãi nghệ thuật giữa các nhà văn, mà điều chủ chốt vẫn là người đọc. Mục đích của nhiều chương trình nghiên cứu của ông nói riêng và của trường phái Bordeaux nói chung là tìm hiểu cách đưa độc giả từ việc đọc sách một cách thụ động đến việc đọc sách một cách tích cực. Xã hội học văn học có mục đích cụ thể là đưa ra những phương pháp tác động đến toàn bộ hệ thống văn học, trong đó có người đọc. Ông cho rằng dòng chảy văn học giữa tác giả, tác phẩm, nhà xuất bản và độc giả cần được khơi thông và chảy theo hai chiều, chứ không phải luôn chảy theo một chiều duy nhất từ tác giả đến độc giả như thường gặp. Ông tin tưởng rằng quá trình giao lưu và đối thoại này là cơ sở cho một nền văn học có thể luôn vận động và phát triển đồng hành với xã hội bản thân nó cũng luôn trong quá trình biến đổi.

Các nghiên cứu của R. Escarpit nói riêng, trường phái Bordeaux nói chung đã có những cống hiến quan trọng trong lĩnh vực xã hội học văn học ở Pháp trong thế kỷ XX. Nhưng cũng như bất kỳ một nhà khoa học chân chính nào, ngay từ lúc các quan điểm cũng như phương pháp nghiên cứu của mình được áp dụng và ủng hộ, R. Escarpit luôn giữ được thái độ khách quan, thận trọng trong việc nghiên cứu của mình. Vào thời điểm tác phẩm Văn học và xã hội học được công bố 12 năm sau cuốn sách Xã hội học văn học nổi tiếng, ông vẫn cho rằng Xã hội học văn học vẫn chỉ là “một điểm xuất phát”, thậm chí tự đánh giá cho rằng nó thuộc “những dự án đầu tiên có tính tổng hợp còn vụng về”. Từ đó ông đề nghị: “các nhóm nghiên cứu cần được phát triển thêm, trở nên đa dạng hơn và tự xác định vị trí của mình so với các nhóm khác, nhờ đó mà các vấn đề thuộc về lĩnh vực nghiên cứu này sẽ được bàn bạc một cách tập thể nhằm phát hiện những điều chưa biết, những điều thiếu hụt và các điểm còn ngộ nhận. Trong thế giới luôn vận động ngày nay, sẽ là một hành động hoàn toàn không cẩn trọng khi muốn áp đặt một cái nhìn được coi là chân lý về văn học trước chân lý về đời sống xã hội”[13]. Không áp đặt và luôn cân nhắc kỹ càng là những bài học quý giá mà ông đã tặng chúng ta bên cạnh những phương pháp mở rộng đường cho nghiên cứu văn học như chúng ta vừa được giới thiệu ở trên.

Trong suốt nửa sau thế kỷ XX, sau khi Xã hội học văn học của R. Escarpit ra mắt, các nhà nghiên cứu ở Pháp nói chung đều đồng tình với định nghĩa xã hội học văn học là khoa học nghiên cứu quan hệ tương tác giữa văn học và xã hội. Tất nhiên xã hội học văn học hiểu với nghĩa rộng hơn này có nhiều nhánh khác nhau và nhiều khi, như một lẽ đương nhiên, các quan điểm của các nhánh, các nhóm, các cá nhân nhà nghiên cứu không thể đồng nhất hoàn toàn.

             Lucien Goldmann ( 1913 – 1970 )

L.Goldmann là nhà triết học, nhà phê bình văn học Pháp gốc Roumanie, sinh năm 1913 tại Bucarest. Sau một thời gian học ở Vienne, ông chuyển sang Paris, từ năm 1934, ông học triết học, kinh tế và tiếng Đức, tiếp xúc với các tác phẩm của các nhà văn, nhà tư tưởng của thế giới tại thủ đô nước Pháp. Từ năm 1942, ông tiến hành làm luận án và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Cộng đồng nhân loại và vũ trụ của Kant tại Đại học Zurich năm 1945. Trong luận án, ông phân tích các điều kiện xã hội thông qua các cơ quan thể chế và quan hệ xã hội, nghiên cứu mối quan hệ giữa chúng và công việc sáng tạo của các nhà triết học, các nhà văn và các nghệ sĩ. Năm 1946, ông làm việc tại Trung tâm nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp. Năm 1959, ông chuyển sang giảng dạy tại Trường Cao học thực hành tại Paris và phụ trách nghiên cứu ở đó từ 1959 đến 1970. Năm 1961, ông sáng lập Trung tâm xã hội học văn học tại Bruxelles và trở thành Giám đốc của Trung tâm từ 1964. Ông mất tại Paris năm 1970.

L.Goldmann chủ trương xác lập một “xã hội học văn học” đích thực, vượt qua lối viết lịch sử văn học truyền thống thường hay miêu tả các yếu tố bên ngoài và bình tán tác phẩm. Ông quan tâm trước hết đến văn bản, tiến hành “sự phân tích mỹ học nội tại” để tìm ra ý nghĩa khách quan của tác phẩm. Xã hội học văn học theo phương pháp của L.Goldmann coi tác phẩm văn học như một sản phẩm được đặt trong ngữ cảnh xã hội và lịch sử. Tác giả văn học được xác định bởi những điều kiện lịch sử cụ thể, còn tác phẩm của anh ta là sự thể hiện thế giới, là sự sáng tạo có cấu trúc của một vũ trụ riêng, được xác định bằng  các quan hệ xã hội và lịch sử.

Ông tiếp thu các tư tưởng của Marx và không phải vô lý khi có những nhà nghiên cứu xếp ông vào hàng ngũ của các nhà phê bình mác xít.  Đề cập đến những hạn chế của Freud trong những phân tích liên quan đến các vấn đề văn hóa, xã hội và lịch sử, L.Goldmann cho rằng: “Đứng trên phương diện này, theo chúng tôi thì phân tích theo kiểu mác xít tiến bộ hơn rất nhiều, bởi nó không chỉ coi tương lai như một yếu tố có tính chất giải thích mà còn là sự thể hiện ý nghĩa đối với cá nhân của các hành động con người bên cạnh ý nghĩa tập thể của nó”[14].

Trong các tác phẩm của mình, L.Goldmann thường xuyên tham khảo các tư tưởng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhưng khác hẳn với quan niệm máy móc của “lý thuyết phản ánh”, ông chỉ ra những điểm bất cập của lối tiếp cận xã hội học văn học chỉ thiên về nội dung, từ đó xác định rõ chỗ đứng của mình.Theo ông, tác phẩm văn học không phải tấm gương phản ánh những hiện tượng kinh tế, xã hội và lịch sử mà là sự góp phần vào việc tạo nên và hình thành nhận thức tập thể. Nhà văn không sao chép hiện thực, không phải là người rao giảng các đạo lý. Nhà văn có vai trò của người sáng tạo ra những con người và sự việc và phải đóng một vai trò năng động trong tiến trình phát triển của tư tưởng trong xã hội. L.Goldmann chỉ ra sự bất cập của lối nghiên cứu xã hội học theo thuyết nhân quả. Theo ông, lối tiếp cận này không thể nắm bắt và giải thích được bản chất của những hiện tượng thuộc về công việc sáng tạo. Chịu ảnh hưởng từ G.Lukács, nhưng ông không đồng ý với quan điểm “phản ánh hiện thực” của Lukács và cho rằng người nghệ sĩ cần “sáng tạo ra những thực thể sống động”.

Thừa kế tư tưởng triết học, khoa học và lý luận văn học từ Hegel, Marx, Lukács, Piaget và chủ nghĩa cấu trúc, L.Goldmann đã xác lập một phương pháp tiếp cận mới trong xã hội học văn học, đó là phương pháp cấu trúc phát sinh. Theo ông: “Phương pháp cấu trúc-phát sinh trong lịch sử văn học là sự áp dụng một phương pháp có tính tổng quát, theo chúng tôi đó là phương pháp duy nhất có giá trị trong khoa học nhân văn, vào trong lĩnh vực này”[15]. Ngay từ tên gọi, rõ ràng phương pháp tiếp cận xã hội học văn học của L.Goldmann đã gợi đến những mối quan hệ đến chủ nghĩa cấu trúc, một trào lưu khoa học lớn của thế kỷ XX, tồn tại gần như suốt thế kỷ và bao trùm nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, tự nhiên cũng như xã hội[16].

Từ chủ nghĩa cấu trúc, phê bình văn học của L.Goldmann dựa vào phương pháp phân tích, đặc biệt ông quan tâm đến tính toàn thể là một trong những khái niệm có tính chìa khóa của chủ nghĩa cấu trúc. Ông tìm cách chỉ ra những tương hợp giữa các cấu trúc của một tác phẩm văn học hay triết học với những cấu trúc xã hội và kinh tế của một nhóm xã hội hay một giai cấp mà nhà văn (hay nhà triết học với tư cách là một tác giả) phụ thuộc vào.

Nhưng khác chủ nghĩa cấu trúc, L.Goldmann cho rằng mỗi một tác phẩm triết học hay văn học có giá trị đều thể hiện cách gắn kết đặc biệt của quan niệm về thế giới của một nhóm xã hội. Ông cho rằng chủ thể đích thực của công việc sáng tạo văn hóa văn học, không thể là cá nhân, mà là chủ thể tập thể, bởi những quan hệ gắn bó giữa cá nhân và tập thể (các nhóm xã hội). Chủ thể tập thể cho phép hiểu tác phẩm văn học là tổng thể những mối quan hệ liên chủ thể được cấu trúc để tạo ra chủ thể đó. Tác phẩm văn học không chỉ là sản phẩm đơn giản của tâm lý cá nhân, mà là sự kết tinh có tính gắn kết của việc thể hiện thế giới thuộc về nhóm xã hội. Từ đây, ông nhấn mạnh tầm quan trọng của nghĩa và thể hiện sự khác biệt của cách tiếp cận của ông với chủ nghĩa cấu trúc. Ông quan tâm đến những cấu trúc của các sự kiện tổng thể, khẳng định có thể hiểu tác phẩm văn học từ trong nguồn gốc, trên cơ sở xét trong mối quan hệ với xuất xứ của nó, có nghĩa từ những cơ chế, hoàn cảnh của xã hội, lịch sử. Tìm hiểu ý nghĩa xã hội của các tác phẩm văn học khi đặt vào xuất xứ xã hội, lịch sử của chúng, đồng thời tiến hành lý giải chức năng xã hội của các cấu trúc mỹ học cũng là điểm khác biệt giữa chủ nghĩa cấu trúc phát sinh của L.Goldmann và các nhà cấu trúc khác. Ông nhấn mạnh việc tìm đến căn nguyên của các giá trị văn học, tức là tìm đến những cấu trúc thuộc xã hội lịch sử, đến các nhóm xã hội, và giai cấp mà các tác giả văn học không thể không có mối quan hệ.

Để hiểu hơn các quan điểm của ông, chúng ta cùng làm quen với một số thuật ngữ có tính chất chìa khóa. Khác với các nhà nghiên cứu thuộc trường phái cấu trúc, L.Goldmann cho rằng mỗi một tác phẩm lớn thuộc triết học hay văn học đều thể hiện một quan niệm về thế giới (vision du monde) của một nhóm xã hội (hay nói khác đi là một chủ thể mang tính tập thể). Cách tiếp cận xã hội học văn học của ông quan tâm đến những cấu trúc hàm nghĩa của các tác phẩm trên cơ sở xuất xứ lịch sử và xã hội của chúng, từ đó hướng tới những phạm trù tổng thể: “Bất kỳ tác phẩm nào thuộc văn học hoặc nghệ thuật có giá trị đều thể hiện một quan niệm về thế giới. Quan niệm về thế giới là hiện tượng của ý thức tập thể đạt đến độ tối đa sự sáng sủa trong quan niệm hay cảm xúc trong ý thức của nhà tư tưởng hay của nhà thơ. Đến lượt họ, nhà tư tưởng hay nhà thơ thể hiện trong tác phẩm quan niệm về thế giới mà được nhà lịch sử nghiên cứu như một công cụ có tính chất khái niệm; nó được áp dụng văn bản, văn bản cho phép rút ra:

a/ Điều cốt yếu trong những tác phẩm mà nhà nghiên cứu quan tâm.

b/ Ý nghĩa của các thành tố bộ phận trong tổng thể của tác phẩm.

Cuối cùng, chúng tôi bổ sung thêm là nhà nghiên cứu lịch sử triết học và lịch sử văn học cần nghiên cứu không những chỉ quan niệm về thế giới, mà đặc biệt là các biểu hiện cụ thể của chúng”[17].

Ông cho rằng với khái niệm quan niệm về thế giới, ngoài bản thân văn bản, ngày nay chúng ta có một công cụ có tính chất lý thuyết cho phép chúng ta tiếp cận tác phẩm văn học bằng một con đường mới và giúp chúng ta hiểu được một cách hiệu quả cấu trúc và ý nghĩa của nó; thế nhưng chúng ta cần phải xác định giới hạn của nó: chỉ có thể tiếp cận được quan niệm về thế giới qua các tác phẩm lớn của quá khứ. Cách tiếp cận của L.Goldmann là ở chỗ đưa cá nhân vào một nhóm xã hội, bởi một cá nhân không thể tự xây dựng một cấu trúc tinh thần có tính chất gắn kết (một quan niệm về thế giới), một cấu trúc như thế chỉ có thể được xác lập trong mối quan hệ với nhóm xã hội, cá nhân chỉ có thể thúc đẩy cấu trúc tinh thần ấy đến độ gắn kết chặt chẽ và chuyển nó về lĩnh vực của sáng tạo và tưởng tượng hoặc của tư duy khái niệm.

Một luận điểm khác của L.Goldmann thể hiện khi ông khẳng định: Tất cả các tác phẩm văn học có giá trị đều có sự gắn kết và thể hiện một quan niệm về thế giới; còn những tác phẩm không có giá trị, theo ông, là bởi chúng thiếu sự gắn kết bên trong và chỉ thuần là những sản phẩm theo quy ước. Ông cho rằng nghĩa của một thành tố phụ thuộc vào tổng thể trong sự gắn kết với toàn bộ tác phẩm và tồn tại sự gắn kết bên trong của các khái niệm cũng như của tổng thể các thực thể sống động trong một tác phẩm văn học. Sự gắn kết của một tác phẩm là ở chỗ nó đã tạo ra những tổng thể mà các bộ phận của chúng có thể được soi sáng lẫn nhau tùy vào mối liên kết giữa bộ phận này với bộ phận kia và giữa các bộ phận với tổng thể.

Khi nghiên cứu một trào lưu tư tưởng, L.Golmann khẳng định rằng, không thể chỉ nghiên cứu bản thân trào lưu tư tưởng đó, mà, một mặt phải làm sáng rõ phần xác đáng và chưa xác đáng của trào lưu nào đó, đồng thời giải thích quan hệ nhân quả có tính chất xã hội sự xuất hiện của nó: tại sao nhóm xã hội này chấp nhận trào lưu tư tưởng này chứ không phải trào lưu khác và điều đó phải được xem xét dưới góc độ kinh tế và xã hội. L.Goldmann hướng tới một lối tiếp cận xã hội học của sáng tạo văn học. Theo ông, tác phẩm văn học không chỉ được phê bình, tìm hiểu trong bản thân nó, trong cấu trúc nội tại của nó (sự sắp xếp các bộ phận khác nhau của trần thuật, phê bình theo lối phong cách học, theo phương pháp hình thức v.v…) mà còn trong mối quan hệ với ý thức khả năng của nhóm xã hội đã sản sinh ra nền văn hóa, trong bối cảnh sản xuất của nó. Chính là trong một tiến trình như thế mà phê bình văn học phải tiến tới sự hoàn thiện.Ông chú ý đặc biệt đến những tác phẩm lớn, những tác phẩm có giá trị và cho rằng giá trị của tác phẩm nằm ở sự gắn kết nội tại của nó. Tác giả của những kiệt tác ấy, với sự thiên tài của mình, đã thành công khi thể hiện được một phần của thế giới.

Một điểm đặc biệt quan trọng trong tư tưởng của L.Goldmann là mối quan tâm đến Sự tương quan đối ứng (L’Homologie). Là người tiếp nối các tư tưởng triết học của Hegel và phê bình văn học của Lukács, L.Goldmann đưa ra khái niệm cấu trúc hàm nghĩa và cho rằng có thể tìm thấy sự tương quan đối ứng giữa tác phẩm và các nhóm xã hội, các giai cấp của thời đại tác phẩm ra đời. Mối quan hệ qua lại giữa bộ phận và cái toàn thể cho phép người nghiên cứu rút ra những tương quan đối ứng giữa các cấu trúc hàm nghĩa của văn bản (một cách khách quan, có nghĩa không phụ thuộc vào mong muốn của tác giả) và những cấu trúc hàm nghĩa của ý thức của một nhóm xã hội (mà tác giả không thể phụ thuộc vào). Ông thiết lập mối quan hệ giữa văn học và hiện thực xã hội trên cơ sở sự tương quan đối ứng của các cấu trúc, đáp ứng được những tiêu chí về mặt hình thức, mà không phải là những tiêu chí tương đồng về nội dung tác phẩm văn học và hệ tư tưởng cũng như hiện thực xã hội.

Quan niệm về sự tương quan đối ứng thuộc cấu trúc theo L.Goldmann được thể hiện ở hai khía cạnh: thứ nhất, tác phẩm có đặc điểm tích cực khi mà nó không phản ánh trực tiếp hiện thực xã hội, mà chuyển các thành tố thuộc ý thức của hiện thực này thành một quan niệm về thế giới một cách gắn kết; thứ hai, từ tác phẩm xuất hiện những mối quan hệ xã hội một cách cụ thể, nó chứa một chức năng tương tự như chức năng có tính khái niệm của triết học biện chứng: nó được coi như là sự thể hiện những hiện tượng xã hội ở trung tâm tổng thể của các mối quan hệ. Nét độc đáo của phương pháp L.Goldmann là ông đặt vào mối quan hệ tương quan đối ứng của các cấu trúc vi mô (các thành tố) với các cấu trúc rộng hơn (thâu tóm tổng thể các tác phẩm), những cấu trúc này lại được đặt trong mối quan hệ với các cấu trúc cơ sở của ý thức khả năng tối đa của một tầng lớp xã hội cụ thể.

Những quan niệm về triết học và lý luận văn học của L.Goldmann được thể hiện cụ thể nhất qua hai tác phẩm nổi tiếng: Thượng Đế ẩn giấu (1956) và Vì một xã hội học tiểu thuyết (1964).

Thượng Đế ẩn giấu là tác phẩm chính của L.Goldmann thể hiện rõ quan niệm tương quan đối ứng giữa tác phẩm và ý thức nhóm xã hội.Ngay từ trang bìa, dưới tên sách Thượng Đế ẩn giấu, Goldmann đã xác định giới hạn nội dung của cuốn sách: Nghiên cứu quan niệm bi kịch trong tác phẩm Tư tưởng của Pascal và trong kịch của Racine. Tác phẩm dày 451 trang, được chia làm bốn phần. Phần thứ nhất: Quan niệm bi kịch; Phần thứ hai: Nền tảng xã hội và trí thức; Phần thứ ba: Pascal; Phần thứ tư: Racine.

Ngay từ những dòng đầu tiên ở Lời nói đầu của tác phẩm Thượng Đế ẩn giấu, Goldamnn đã xác định: “Trong khi đề cập đến công trình này chúng tôi nêu lên hai mục đích vừa khác nhau vừa bổ sung cho nhau:

Đưa ra một phương pháp thực chứng trong nghiên cứu các tác phẩm triết học và văn học, và góp phần lý giải một tổng thể có giới hạn và chính xác của các văn bản, tuy có khác nhau đáng kể, nhưng chúng tôi cảm thấy chúng có quan hệ gắn bó một cách chặt chẽ.

Tư tưởng cơ bản của tác phẩm này là ở chỗ các sự kiện nhân văn bao giờ cũng tạo nên những cấu trúc hàm nghĩa tổng thể, vừa mang tính chất  thực tiễn, lý thuyết, đồng thời thuộc cảm xúc và những cấu trúc này chỉ có thể được nghiên cứu dưới góc độ thực chứng, có nghĩa là chúng đồng thời được giải thích và lý giải, trong một quan điểm thực tiễn dựa trên sự chấp thuận của một tổng thể nhất định của các giá trị”[18].

Nhà xã hội học văn học L.Goldmann nhận thấy sự tương đồng giữa các tác phẩm văn học lớn và những trào lưu triết học. Ông khẳng định có sự tương quan đối ứng giữa Descartes và Corneille, Pascal và Racine, Hegel và Goethe và chỉ có thể giải thích hiện tượng này nếu ta gắn nó vào một bối cảnh rộng hơn, đồng thời sử dụng một khái niệm vượt qua phạm trù cá nhân: đó là ý thức tập thể. L.Goldmann cho rằng tác phẩm là sản phẩm của một chủ thể tập thể và tầm quan trọng về mặt triết học hay văn học của nó nằm ở sự gắn kết giữa tác phẩm và ý thức khả năng tối đa của nhóm xã hội mà tác phẩm được nghiên cứu chính là sự thể hiện ý thức ấy. Chịu ảnh hưởng những tư tưởng của tâm lý học từ J.Piaget và chủ nghĩa Marx, nhưng nhà xã hội học văn học L.Goldmann đã thể hiện những nét đổi mới của mình: không còn quan tâm đến nội dung của tư duy, mà chú ý đến cấu trúc hình thức của một kiểu tư duy tập thể. Ông nghiên cứu những cấu trúc đối lập của tư duy bi kịch khi tiếp cận các tác phẩm của Racine và Pascal, từ đó xác định nhóm xã hội và khuynh hướng tư tưởng, những điều kiện xã hội và tinh thần dọn đường cho sự ra đời của tác phẩm đó.

Các quan điểm về xã hội học văn học của L.Goldmann một lần nữa được trình bày rõ qua tác phẩm Vì một xã hội học tiểu thuyết. Trước hết, đó là sự tiếp tục nghiên cứu của ông về các mối quan hệ giữa tác phẩm văn học và thời đại đã sản sinh ra nó, cụ thể hơn là sự nghiên cứu “mối tương quan giữa lịch sử hình thức tiểu thuyết và lịch sử của cuộc sống kinh tế trong xã hội phương Tây”. Cuốn sách được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1964 tại nhà xuất bản Gallimard, một trong những nhà xuất bản hàng đầu tại Pháp, sau đó cuốn sách này còn được tái bản tiếp tục. Bản chúng tôi có trong tay là bản in năm 1992. Sách dày 372 trang gồm năm phần (không dùng số thứ tự): Dẫn nhập các vấn đề của một xã hội học về tiểu thuyết; Dẫn nhập về nghiên cứu cấu trúc của các tiểu thuyết Malraux; Tiểu thuyết Mới và hiện thực; Phương pháp cấu trúc phát sinh trong lịch sử văn học.

Tiếp thu tư tưởng của Marx và tiếp theo đó là Lukács về sự đồ vật hóa, L.Goldmann đã nghiên cứu mối quan hệ giữa những cấu trúc của một nền kinh tế hàng hóa trong xã hội tư bản hiện đại và những biểu hiện văn học từ trong một xã hội mà mối quan hệ ấy đã xảy ra ngoài tầm của ý thức tập thể. Trong tác phẩm này chúng ta sẽ thấy từ việc nghiên cứu thể loại tiểu thuyết sẽ dẫn đến việc thay thế nhóm xã hội trong Thượng đế ẩn giấu bằng toàn bộ xã hội. L.Goldmann định nghĩa tiểu thuyết như việc tìm kiếm những giá trí đích thực mà “nhân vật có vấn đề” mang lại trong một thế giới đang suy thoái. Ông cho rằng một cấu trúc trần thuật tương tự sẽ thể hiện sự tương quan đối ứng chặt chẽ với cấu trúc kinh tế của một xã hội thương mại cá nhân chủ nghĩa. Xã hội này cũng là một thế giới suy thoái, ở đó giá trị phẩm chất của mọi vật đã bị giá trị đo đếm của tiền bạc chế ngự. Tiểu thuyết được coi như thể loại đặc trưng cho xã hội hàng hóa được xem xét một cách toàn thể mà không phải một thể loại đặc trưng (như bi kịch của thế kỷ XVII) của một nhóm xã hội nào đó (một bộ phận của xã hội). Sự tương quan đối ứng còn được L.Goldmann đề cập tới khi nghiên cứu sáng tác của Malraux, đặc biệt là ba tiểu thuyết của ông: Những người đi chinh phục (1928); Con đường Hoàng gia (1930); Thân phận con người (1933).

Tiếp nối tư tưởng của Marx về “sự bái vật hóa hàng hóa” và tư tưởng của Lukács về “sự đồ vật hóa”, L.Goldmann đã giải thích sự biến mất của các nhân vật trong tiểu thuyết Mới, cụ thể hơn, trong các tiểu thuyết của N. Sarraute và A.Robbe-Grillet. Từ hai bài trình bày của hai nhà văn này, mà theo L.Goldmann, là những “tác phẩm phê bình văn học một cách xuất sắc và vô cùng thông minh”, L.Goldmann trước hết tỏ thái độ đồng thuận với những quan điểm của các nhà tiểu thuyết Mới: “Trong khi nhiều nhà phê bình và phần lớn công chúng nhận thấy ở tiểu thuyết Mới một tổng thể những thực nghiệm thuần túy về hình thức, và trong những trường hợp đúng nhất, là những toan tính vượt ra ngoài hiện thực xã hội, thì trái lại, hai đại diện tiêu biểu nhất của trường phái này vừa nói với chúng ta rằng tác phẩm của họ được nảy sinh từ những cố gắng nghiêm túc và triệt để nhất có thể để chiếm lấy hiện thực của thời đại chúng ta trong những nét cơ bản nhất”[19]. Ông khẳng định hai nhà văn  N. Sarraute và A.Robbe-Grillet đã áp dụng một hình thức khác với các nhà tiểu thuyết thế kỷ XIX là bởi xã hội đã thay đổi. Với tư cách là một nhà xã hội học, L.Goldmann nêu lên những biến đổi xã hội đã tạo ra nhu cầu đòi hỏi phải có hình thức tiểu thuyết mới, đồng thời giải thích một số đặc điểm của “hiện thực nhân văn kiểu mới” được thể hiện trong tác phẩm của hai nhà văn, từ đó đưa đến những kết luận hết sức thú vị: “(…) nếu người ta đem lại cho thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực ý nghĩa sáng tạo một thế giới mà cấu trúc của nó tương tự như cấu trúc cơ bản của hiện thực xã hội mà tác phẩm được viết ra từ trong lòng xã hội ấy, N. Sarraute và A.Robbe-Gillet được liệt vào trong số những nhà văn hiện thực triệt để nhất của văn học Pháp đương đại”[20].

Phương pháp cấu trúc phát sinh của L.Goldmann đã được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng (như trường hợp của Charles Castella hoặc Jacques Leenhardt…), nhất là vào những năm 60, 70 của thế kỷ XX. Thậm chí sang đến thế kỷ XXI vẫn có một số nghiên cứu áp dụng lý thuyết của ông về “quan niệm về thế giới” nhất là ở một số nước nói tiếng Pháp. Như bất kỳ phương pháp tiếp cận văn học nào, phương pháp cấu trúc phát sinh của L.Goldmann không thể là một chìa khóa vạn năng, có thể đáp ứng mọi yêu cầu và đòi hỏi của một công việc khó khăn, phức tạp là nghiên cứu văn học. Trong thực tế, phương pháp này đã thể hiện những bất cập của nó, bởi nếu như chỉ quan tâm đến các tác phẩm “lớn”, đặc biệt là những tác phẩm trong quá khứ đã được vinh danh cùng với sự trường tồn của thời gian, đã trở thành “bất tử”, thì có vẻ như không bao quát được (dù là tương đối) bức tranh toàn cảnh văn học. Nhiều sản phẩm văn học là những tác phẩm “trung bình”, hoặc những tác phẩm không thuộc loại “chính thống” như cận văn học, trong thực tế đóng vai trò nào đó trong tiến trình phát triển văn học, đã bị ông loại khỏi đối tượng nghiên cứu. Mặc dù L.Goldmann có nghiên cứu các tác giả đương đại như Malraux, Sarraute, Robbe-Grillet, nhưng về cơ bản ông cho rằng phương pháp cấu trúc phát sinh chỉ thực sự thích hợp với những tác phẩm lớn trong quá khứ, những tác phẩm đã thuộc về vĩnh cửu, vậy là mảng văn học đương đại thật khó lọt vào tầm ngắm của nhà nghiên cứu. Nhấn mạnh hiện tượng văn học như là một hiện tượng xã hội, dù cho có những lúc nhà xã hội học L.Goldmann có nhắc nhở, lưu ý đến đặc trưng văn học của tác phẩm, nhưng cách tiếp cận của ông vẫn khiến người ta có cảm giác đôi khi bị thiếu đi tính văn học, điều không thể thiếu trong công việc nghiên cứu văn học. Mặc dù không thể tránh khỏi một vài giới hạn như bất kỳ phương pháp tiếp cận nào, xã hội học văn học của L.Goldmann vẫn có một vị trí nhất định,  bổ sung thêm cho sự đa dạng của bức tranh toàn cảnh của phê bình, lý luận văn học trên toàn thế giới ở thế kỷ XX.

           Pierre Bourdieu ( 1930 – 2002 )  

P. Bourdieu đóng vai trò quan trọng trong lịch sử xã hội học Pháp và phương Tây thế kỷ XX, trước hết bởi số lượng đồ sộ các công trình nghiên cứu của ông, tiếp đó, bởi ảnh hưởng trực tiếp của ông đến rất nhiều nhà nghiên cứu ở Pháp và ở nhiều nước trên thế giới, cũng như bởi các khái niệm và phương pháp do ông đưa ra đã tham gia vào việc đổi mới tư duy xã hội học vào nửa sau thế kỷ XX. Cho đến nay ở Pháp, các cuộc tranh luận về P.Bourdieu và phương pháp nghiên cứu của ông vẫn còn rất sôi nổi và có thể nói rằng sau P.Bourdieu giới xã hội học Pháp chưa có một tên tuổi nào có tầm cỡ như vậy.

Là cựu sinh viên Trường Đại học Sư phạm nổi tiếng nhất ở Pháp, sau khi thi lấy bằng thạc sĩ triết học, trong thời gian giảng dạy triết học (1958-60) tại Khoa văn Alger, P.Bourdieu bắt đầu nghiên cứu dân tộc học và xã hội học Algérie. Trên cơ sở các nghiên cứu thực địa, ông đi đến phê bình chủ nghĩa cấu trúc của Lévi-Strauss, đặc biệt thông qua vấn đề dòng họ ở Algérie ông thấy thực tế không phù hợp với mô hình do chủ nghĩa cấu trúc đưa ra. Từ 1960 ông về Paris, làm thư ký của Trung tâm xã hội học châu Âu, được phong Phó giáo sư của Đại học Tổng hợp Lille. Năm 1968 ông thành lập Trung tâm xã hội học Giáo dục và văn hóa, triển khai hàng loạt nghiên cứu trên hai lĩnh vực này. Trong nhiều năm P.Bourdieu nắm giữ các vị trí quan trọng trong giới giảng dạy và nghiên cứu ở Pháp: từ 1982 đến 2001 là Giáo sư xã hội học ở Viện Collège de France (nơi tập trung những tài năng lớn nhất của Pháp), từ 1985 đến 1998 là Giám đốc Trung tâm Xã hội học châu Âu thuộc Collège de France và Trường Cao học khoa học xã hội, từ 1975 đến 2002 là người sáng lập và chủ biên tạp chí Kỷ yếu nghiên cứu khoa học xã hội. P.Bourdieu đã hội tụ một loạt các điều kiện để có thể được coi là một trong những trí thức hàng đầu của Pháp vào nửa cuối thế kỷ XX.

Đối với lịch sử xã hội học phương Tây, P.Bourdieu có đóng góp quan trọng về mặt lý luận từ việc tiếp thu và tổng hợp các lý thuyết của K.Marx, E.Durkheim và M.Weber. Ngoài ra, với hành trang tri thức được trang bị kỹ càng, Bourdieu cũng tiếp nhận ảnh hưởng của M. Mauss, Cl. Lévi-Strauss, cũng như của các nhà triết học như M. Merleau-Ponty và hiện tượng học của Husserl. Phạm vi hoạt động khoa học của P. Bourdieu rất rộng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, từ những nghiên cứu về xã hội học nói chung, xã hội học chính trị, xã hội học kinh tế nói riêng đến những nghiên cứu về triết học, về các vấn đề cụ thể như về gia đình, về trí thức… Riêng các tác phẩm của P.Bourdieu thuộc về xã hội học văn hóa cũng rất nhiều và đa dạng: văn học, ngôn ngữ, truyền thông, nhiếp ảnh, bảo tàng, hội họa v.v..

Trong lĩnh vực xã hội học văn học, một phần rất nhỏ so với toàn bộ sự nghiệp vô cùng đa dạng của ông, P. Bourdieu có những đóng góp quan trọng với một loạt bài báo và đặc biệt là tác phẩm Quy tắc của nghệ thuật. Sự hình thành và cấu trúc của trường văn học (1992) [21] trong đó ông thể nghiệm một hướng nghiên cứu mới về tác phẩm nghệ thuật và về người nghệ sĩ như những sản phẩm xã hội trong một hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể vừa có những đặc tính nội tại riêng, vừa có liên hệ mật thiết với các tác phẩm và nghệ sĩ khác, cũng như các lĩnh vực xã hội khác.

Với tư cách là một nhánh trong nghiên cứu văn hóa, xã hội học văn học theo phương pháp của P.Bourdieu lấy tác phẩm và tác giả văn học làm đối tượng nghiên cứu, không chỉ như một hiện tượng độc đáo và cá biệt, mà như một thành quả của một xã hội. Tác phẩm văn học là một “sản phẩm văn hóa” được hình thành trong một tổng thể các điều kiện rất khác nhau nhưng đều có liên quan đến nhau, và ngay cả những yếu tố tưởng như chỉ đơn thuần nghệ thuật (như một số cách tân về hình thức) thật ra cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố xã hội và kinh tế. Như vậy tác phẩm văn học dưới góc nhìn của P.Bourdieu không phải phương tiện để nghiên cứu xã hội như nhiều người nghĩ (mặc dù trong Quy tắc của nghệ thuật – Sự hình thành và cấu trúc của trường văn học P.Bourdieu dành 70 trang cho việc phân tích tiểu thuyết Giáo dục tình cảm như một tài liệu về thời đại của tác giả Flaubert), mà chính bản thân nó là một sản phẩm xã hội cần được nghiên cứu trong hoàn cảnh lịch sử xã hội khi nó ra đời cũng như khi nó được tiếp nhận, cũng như trong mối tương quan với các tác phẩm khác cùng thời đại.

Trong tác phẩm này, P.Bourdieu đã áp dụng lý thuyết trường phân tích tác phẩm Giáo dục tình cảm của Flaubert một cách độc đáo.Theo P.Bourdieu, muốn hiểu những cái mới trong tiểu thuyết của Flaubert phải hiểu được hoàn cảnh xã hội của thế kỷ XIX, đúng hơn là giữa thế kỷ này, khi mà văn học Pháp đang trong giai đoạn khó khăn, đồng thời từ tình trạng khó khăn ấy hình thành một trường văn học mới với tư cách một nhân tố xã hội thoát dần khỏi ảnh hưởng của tôn giáo và chính trị, tách dần ra để hoạt động với các nguyên tắc độc lập của mình. Từ một xã hội mà tiền bạc ngự trị đã xuất hiện kiểu nghệ sĩ mới chống lại nghệ thuật tư sản, tìm đến “nghệ thuật vị nghệ thuật” với những người mở đường khai phá là Baudelaire và Flaubert.

Trong hệ thống lý thuyết của P.Bourdieu, trường hoặc trường lực (champ) là khái niệm có tính chất chìa khóa, quan trọng và được phổ cập nhất. Với khái niệm này, thực tế xã hội có thể được hình dung dưới dạng các trường  vừa có quy luật hoạt động riêng, vừa chịu ảnh hưởng qua lại với nhau. Không gian xã hội có thể được hình dung như tổng thể các trường rất khác nhau như trường quyền lực, trường kinh tế, trường văn hóa, trường trí thức, trường nghệ thuật, v.v…Khái niệm trường (tiếng Pháp: champ) theo từ điển có thể hiểu là một khải niệm bắt nguồn từ nông nghiệp (như “lĩnh vực”, hay “phạm vi”, “địa phận”, v.v. ), nhưng P.Bourdieu lại dùng thuật ngữ này gắn với vật lý (trường nam châm, trường hấp dẫn hay trường điện từ là một không gian mà trong đó một nam châm, một vật thể có trọng lượng, một vật thể mang điện chịu tác dụng của các lực trái chiều từ hai cực âm và dương).

Khi nào có thể nói rằng xuất hiện trường? Nếu lấy ví dụ “trường sản xuất biểu tượng”  thì theo P.Bourdieu, trường này bao gồm toàn bộ các tác nhân sản xuất, ví dụ như nghệ sĩ và nhà văn trong “trường các sản phẩm nghệ thuật”, khi họ được xếp ở các vị trí khác nhau trong một hệ thống khá tự lập bao gồm các vị trí khác nhau và các quan hệ giữa chúng, và khi họ cùng tham gia thi đua và cạnh tranh nhằm đạt tới vinh quang và quyền lực. Như vậy có thể hình dung một cách đơn giản trường như một không gian có các lực hấp dẫn, giữa cực âm và cực dương, trong đó mỗi tác nhân di chuyển từ vị trí thấp đến vị trí cao hơn nhờ có các khuynh hướng và các loại vốn (tinh thần cũng như vật chất).

Trong lý thuyết trường của P.Bourdieu, khái niệm quan hệ có tầm quan trọng đặc biệt. Sự việc, hiện tượng bản thân nó chưa hẳn đã quan trọng, mà chính là quan hệ giữa chúng mới có ý nghĩa. Khái niệm trường  bao hàm nguyên tắc cơ bản theo đó thực tế xã hội là hệ thống các quan hệ, không phải các quan hệ xã hội theo nghĩa thông thường, mà với nghĩa như các cấu trúc vô hình có quan hệ tương tác và đấu tranh với nhau. Theo P. Bourdieu, nghiên cứu trường có nghĩa là cần phân tích từ nhiều góc nhìn: đồng đại / lịch đại, vĩ mô / vi mô, bên trong / bên ngoài để tìm hiểu quan hệ và cấu trúc của trường (các cực, các vị trí, quan hệ giữa các vị trí và các tác nhân); phân tích mối quan hệ qua lại của trường này với các trường khác, và rộng hơn là quan hệ với không gian xã hội tổng thể; tìm hiểu quy luật và hướng vận động của trường; tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của trường; tìm hiểu các tác nhân và với các đặc điểm của chúng.

Ảnh hưởng của P.Bourdieu bao trùm rộng rãi trên nhiều lĩnh vực như văn hóa, văn học, ngôn ngữ, giáo dục, nhưng trong phạm vi của bài này, chúng tôi chỉ xin nêu một số tên các công trình đã thực hiện áp dụng lý thuyết “trường” cũng như một số quan điểm khác của ông trong văn học để chúng ta cùng tham khảo.

Trước hết là những công trình mang tính tổng quát: J.Meizoz: Góc nhìn xã hội học và văn học, Genève-Paris, Slatkine Erudition, 2004; J.Meizoz: Các hướng nghiên cứu do Pierre Bourdieu chỉ ra cho xã hội học phong cách văn học, trong cuốn: J.Dubois, Y.Winkin, P.Durand (chủ biên): Biểu tượng và xã hội. Tiếp nhận tác phẩm của Pierre Bourdieu trên thế giới, Presses de l’Université de Liège, 2005; G.Sapiro: Về việc sử dụng các khái niệm “tả” / “hữu” trong trường văn học”, Tạp chí Xã hội và Các quan niệm, số 11, số đặc biệt về Nghệ sĩ và chính trị, 2/2001, tr.19-53 v.v

Tiếp theo là mảng nghiên cứu hiện trạng các “trường văn học” vào các thời điểm không gian, lịch sử, xã hội khác nhau: A. Viala: Những thể chế của cuộc sống văn học thế kỷ XVII, Art, Lille, 1985; Chr. Charles: Khủng hoảng văn học thời chủ nghĩa tự nhiên. Tiểu thuyết. Kịch. Chính trị, Paris, Pens,1979; J.Jurt và M. Einfalt (chủ biên): Văn bản và văn cảnh. Những phân tích về trường văn học Pháp thế kỷ XIX-XX, Berlin, Verlag Arno Spitz, 2001; G. Sapiro: Cuộc chiến giữa các nhà văn (1940-1953), Paris, Fayard, 1999; D.Saint-Jacques (chủ biên): Đời sống văn học ở Québec, Québec, Presse Universitaires de Laval v.v…

P.Bourdieu đã hướng dẫn nhiều luận án tiến sĩ thuộc các ngành xã hội học nói chung, xã hội học văn hóa nói riêng, trong đó có những đề tài thuộc xã hội học văn học như: năm 1977, R.Ponton đã bảo vệ  luận án tiến sĩ Trường văn học tại Pháp từ 1865 đến 1905. Vấn đề tuyển lựa các nhà văn, cấu trúc của đời văn và tác phẩm bảo vệ tại trường Tổng Hợp Paris V; luận án của P.Casanova với đề tài Không gian văn học thế giới được bảo vệ tại Trường Cao Học khoa học xã hội tại Paris năm 1997 và được xuất bản dưới nhan đề Nước cộng hòa văn học, Paris, Seuil, 1999 (bản dịch tiếng Anh : The World Republic of Letters, Havard University Press, 2005), v.v…

Nghiên cứu sự hình thành khái niệm, sự xuất hiện của tác giả cũng là mảng nghiên cứu thể hiện những dấu ấn tư tưởng từ các quan niệm của P.Bourdieu.  Nghiên cứu của A.Viala trong tác phẩm Sự ra đời của nhà văn. Xã hội học văn học thời cổ điển, nhà xuất bản Minuit, Paris, năm 1985 cho thấy rằng “nhà văn” là một khái niệm xuất hiện mới cách đây vài thế kỷ ở châu Âu trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Cũng trong cùng mạch nghiên cứu này, Chr. Charles quan tâm đến Thời điểm khai sinh ra các “trí thức” (1880-1900), Paris, Minuit, 1990) mà điển hình là việc nhà văn E. Zola đã lên tiếng bảo vệ Dreyfus vô tội trong bài báo “Tôi buộc tội”  nổi tiếng công bố ngày 14.1.1898. Trong giới trí thức, các nhà văn luôn có vai trò đặc biệt quan trọng và thường là ở vị trí hàng đầu. Tác giả A.Boschetti tìm hiểu về “Huyền thoại về người trí thức vĩ đại” trong Bản đồ lớn các nền văn học xuất bản năm 1990 và được tái bản có bổ sung năm 2003, đồng thời quan tâm tới “Sự sáng tạo ra người nghệ sĩ sáng tạo”, trong tạp chí La Revue de l ’Université de Bruxelles, số1-2, 1990. Trong khi đó D. Naudier tìm hiểu đặc trưng của các nhà văn nữ trong “Lối viết – phụ nữ. Một cách tân thẩm mỹ có tính biểu tượng” (tạp chí Sociétés contemporaines, số 44, 2001, tr. 57-74).

Quá trình hình thành một quan niệm không phải là hiển nhiên, dễ dàng. Để cái mới có thể tìm được chỗ đứng, các nhà văn cũng như các tác nhân trong trường văn học (chẳng hạn nhà xuất bản) thường phải có các chiến lược, đường lối được hình thành một cách có ý thức thậm chí đôi khi không hoàn toàn có ý thức, nhưng luôn có liên quan mật thiết với trạng thái của trường văn học và các vị thế trong trường. Có thể thấy rõ điều đó trong các nghiên cứu của A. Boschetti: “Tính chính thống trong văn học và các chiến lược xuất bản” , (trong Lịch sử xuất bản tại Pháp, tập IV, Paris, Promodis, 1986, tr.481-527) hoặc của P. Casanova :”Việc hình thành tính toàn cầu trong văn học: chuyến “đi vòng quanh châu Âu của Henrik Ibsen, trong Bàn về nghệ thuật và văn hóa với khoa học xã hội, do Eveline Pinto chủ biên và được Trung tâm nghiên cứu triết học về các hoạt động nghệ thuật xuất bản.

Lý thuyết trường của P.Bourdieu đã mở ra một hướng nghiên cứu mới trong nghiên cứu văn học phương Tây. Hướng nghiên cứu này có đặc điểm là tổng hợp được các cách tiếp cận và các kết quả nghiên cứu của nhiều trường phái trước đó, nhất là tổng hợp được nghiên cứu theo hướng “con người và tác phẩm” với các nghiên cứu chỉ chủ yếu quan tâm  đến tác phẩm nghệ thuật như một thực thể độc lập. Qua số lượng các nghiên cứu đa dạng đã hoàn thành, nhiều người đã cho rằng lý thuyết của P.Bourdieu đã tham gia vào việc chấn hưng việc nghiên cứu văn học tại Pháp. Các nghiên cứu có sử dụng lý thuyết trường quan tâm đến một tác giả, một nhóm tác giả hoặc trường phái văn học, một tạp chí, một nhà xuất bản, v.v. nhằm tìm hiểu vị trí của nhà văn, nhà xuất bản, v.v. trong trường văn học vào một thời điểm nhất định, qua đó tìm hiểu cái mới và cái đặc trưng trong tác phẩm của họ.

Các nghiên cứu sau có đối tượng là một nhà văn: A.Boscetti: Sartre và tạp chí “Les Temps Modernes”, Paris, Minuit, 1985; A.Boscetti: Thơ ca ở khắp nơi. Apollinaire, Người của thời đại (1898-1918), Paris, Seuil, 2001; P.Casanova: Beckett người trừu tượng hóa. Phân tích một cuộc cách mạng văn học, Paris, Seuil, 1997. Tác giả J.Meizoz chúng ta đã gặp ở phần trên với các công trình: Nhà viết tiểu thuyết Louis Aragon và các “thầy tiếng Pháp” của ông, tạp chí Poétique, số 127, 9.2001; Raymond Queneau, các nhà ngôn ngữ học và các nhà văn, tạp chí Poétique, số 115. Nhà triết học vô lại Jean-Jacques Rousseau, Lausanne, Editions Antipodes, 2003 v.v..

Các nghiên cứu tìm hiểu một nhóm nhà văn, một tạp chí, một nhà xuất bản: R.Ponton: Chương trình mỹ học và sự tích lũy vốn biểu tượng. Trường hợp của trường phái thơ Parnasse, Tạp chí xã hội học Pháp, XIV, 1973; R.Ponton: Sự xuất hiện của tiểu thuyết tâm lý : vốn văn hóa, vốn xã hội và chiến lược văn học vào cuối thế kỷ XIX, Kỷ yếu nghiên cứu khoa học xã hội số 4, 1975; L.Pinto: Nhóm Tel Quel, về các nhà trí thức giễu nhại, ARSS, 89, 9.1991; A.Bochetti: Tạp chí Les Temps Modernes trong trường văn học, Tạp chí của những tạp chí, số 7, 1989; A.Simonin: Nhà xuất bản Minuit (1940-1955). Nghĩa vụ bất tuân thủ, Paris, IMEC, 1994.

Một số nghiên cứu tập trung tìm hiểu cách tân văn học, hoặc ranh giới giữa cái cũ và cái mới, giữa cái có thể được chấp nhận và chưa hoặc không có cơ hội được chấp nhận vào một thời điểm lịch sử nhất định, những vấn đề gây chú ý nơi bạn đọc, đặc biệt là loạt bài của tác giả J.Meizoz: Dùng thành ngữ tục ngữ vào năm 1925: nghiên cứu xã hội học và thi pháp học về cách tân của trường phái Siêu thực, Tạp chí Poétique, số134, 4.2003; Tiểu thuyết và cái không thể được chấp nhận. Tranh luận về “Plateforme” của M. Houellebecq, Trong Tạp chí Văn học và đạo đức xã hội, số 4, 12.2003; Tìm hiểu về vị thế: Jean-Jacques Rousseau, trong Tạp chí Văn học, số 126,6.2002; Ngôn từ và vị thế của L.F. Céline, trong Einfalt Michael và Jurt Joseph (chủ biên), Văn bản và văn cảnh. Nghiên cứu trường văn học Pháp thế kỷ XIX-XX, Berlin-Paris, 2002.

Nghiên cứu văn học theo hướng lý thuyết trường cho phép giải quyết vấn đề nan giải của lịch sử văn học: “Ai là người được ghi tên vào Lịch sử (văn học)” ? Thay vì tranh luận về việc nhà văn này hay nhà văn kia đáng được tôn vinh bởi đã có “công lao” đối với lịch sử văn học và/hoặc lịch sử tư tưởng, các nghiên cứu theo góc độ trường quan tâm đến mọi thành phần trong trường, từ những nhà văn hay nhóm nhà văn ở đỉnh cao danh vọng cho đến các nhà văn không có tên tuổi (nhưng “thành công” trong lĩnh vực văn học cũng có nhiều nghĩa: thành công về mặt kinh tế nhiều khi lại ở cực đối lập với thành công về mặt nghệ thuật, mặt khác một nhà văn nổi tiếng vào một thời điểm lịch sử này lại bị quên lãng vào một thời điểm khác hoặc ngược lại). Nghiên cứu trường chủ yếu quan tâm đến các mối quan hệ – quan hệ giữa các nhà văn, giữa các quan niệm nghệ thuật, giữa các tác phẩm, v.v. Chính vì vậy mà tác giả G. Sapiro có thể nghiên cứu “Các khuôn mặt nhà văn phát xít” (trong Huyền thoại về sự dị ứng của người Pháp đối với chủ nghĩa phát xít do Michel Dobry chủ biên, Albin Michel, Paris, 2003). Vấn đề ở đây không phải là tranh luận về vị trí của các nhà văn này (không phải không có tài năng) trên các nấc thang của lịch sử văn học, mà là tìm hiểu nguyên nhân xuất hiện của các nhà văn có thế giới quan theo chủ nghĩa phát xít vào một thời điểm nhất định trong hoàn cảnh lịch sử của châu Âu nửa đầu thế kỷ XX. Cùng hướng nghiên cứu này còn có nghiên cứu của A. Simonin: “Văn học trong lịch sử. Tiểu thuyết Mới và chiến tranh Algérie ở nhà xuất bản Minuit”, Kỷ yếu nghiên cứu khoa học xã hội, số111-112, 3/1996.

Nghiên cứu giao lưu giữa các nền văn học cũng là một lĩnh vực có thể gợi ý cho chúng ta nhiều điều thú vị. Khi nghiên cứu vấn đề dưới góc độ trường, vấn đề được quan tâm là mối quan hệ giữa các nền văn học được nghiên cứu một cách cụ thể nhằm xây dựng các dạng thức giao lưu, đặc biệt là việc dịch tác phẩm văn học. Một loạt bài được đăng trong Kỷ yếu nghiên cứu khoa học xã hội: P.Casanova: Dịch thuật – một sự trao đổi không bình đẳng (số 144, 9.2002); J.Jurt: “Dịch” văn học Pháp ở Đức), (số130, 12.1999); I.Popa: Một sự chuyển giao có tính chính trị: các kênh dịch văn học Đông Âu (1945-1989) (số 144, 9-2002). Cũng ở kỷ yếu này (số 145, 12-2002), tác giả G. Sora có bài Một sự giao lưu không được công nhận. Dịch các tác giả Braxin ở Argentine, chỉ nghe tên bài viết ta đã thấy “có vấn đề” gây sự chú ý nơi độc giả. Đề tài này được tác giả G. Sora tiếp tục trong công trình Dịch ở Braxin. Nghiên cứu nhân học về sự truyền tải tư tưởng trên thế giới, Buenos Aires, Libros del Zorzal, 2003.

Các nghiên cứu này cũng quan tâm đến các hiện tượng văn học “biên giới”, văn học của các nhà văn là người di cư, v.v. Có thể thấy rõ điều đó qua các công trình như J.Meizoz: Ramuz. Một người di cư bất hợp pháp trong “làng văn” Pháp, nhà xuất bản Zoé, Genève, 1997; Quyền được viết sai. Khi các nhà văn Thụy Sĩ nói tiếng Pháp dùng “tiếng Pháp của Paris”, cũng tại nhà xuất bản này vào năm sau 1998. Bức tranh văn học Pháp thế kỷ XX được mở rộng thêm với các nghiên cứu của I.Popa: Vượt qua sự đi đày. Mức độ trung gian và các chiến lược chuyển giao văn học ở những người di cư từ Đông Âu sang Pháp, tạp chí Genèses, số 38, 3- 2000; G.Sapiro: “Nhập khẩu” văn học Do Thái ở Pháp: giữa chủ nghĩa toàn cầu và cộng đồng, Kỷ yếu nghiên cứu khoa học xã hội, số 144, 9.2002.

Lý thuyết trường của P.Bourdieu có nhiều đóng góp vào nghiên cứu lịch sử và phê bình văn học với các nghiên cứu đa dạng, nhất là ở Pháp. Đặc biệt các công cụ của lý thuyết này cho phép nghiên cứu tác phẩm từ nhiều góc độ và từ nhiều cấp độ phân tích, nhưng luôn trong mối quan hệ chặt chẽ giữa hình thức và nội dung, giữa bối cảnh lịch sử xã hội và tài năng của nghệ sĩ, giữa các giá trị xã hội và các đặc trưng tác phẩm, cũng như giữa các nhóm văn học và các nền văn học. Là một nhà nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực với những thành tựu lớn lao, thế nhưng P. Bourdieu không hề tự cho mình là một “chuyên gia” có thể trả lời mọi câu hỏi do xã hội đặt ra như một nhà tiên tri kiểu mới. Ngược lại, ông rất có ý thức về những giới hạn của nghiên cứu xã hội học nói riêng, và của khoa học xã hội nói chung, bởi lý do đầu tiên là chính nhà nghiên cứu cũng là một sản phẩm của xã hội và thời đại mình. Ông ấp ủ một dự án lớn nghiên cứu về các khoa học xã hội, đồng thời luôn nhắc nhở các nhà nghiên cứu phải có cái nhìn phê phán đối với chính mình và chính việc nghiên cứu của mình nhằm tiến tới độ khách quan cao nhất. Cuốn sách tập thể tưởng niệm Bourdieu mang tên Vì một lịch sử các khoa học xã hội (2004)[22] và bản thảo chưa hoàn thành mang tên Tự phân tích (Auto-analyse) là những minh họa cụ thể cho ý tưởng đó. Ngoài những cống hiến to lớn trong nhiều lĩnh vực của khoa học xã hội nói chung, bài học về sự giới hạn của nghiên cứu đặt ra từ tác giả P.Bourdieu rõ ràng đã khơi gợi cho chúng ta thật nhiều điều để suy ngẫm. Thật ra, đây là một vấn đề rất lớn và nghiêm túc đòi hỏi sự đầu tư ở một công trình nghiên cứu riêng.

 

3. Xã hội học văn học ngày nay ở Pháp – Thế kỷ XXI

Mặc dù cho đến nay vẫn còn những ý kiến trao đổi và tranh luận về số phận và sự tồn tại của xã hội học văn học, nhưng ở Pháp cách tiếp cận xã hội học văn học vẫn tiếp tục được ứng dụng trong thực tế phê bình và nghiên cứu văn học.Theo một công trình mới nhất được xuất bản tháng 9 năm 2011 của tác giả R. Sayre, trước khi định cư ở Pháp đã từng giảng dạy ở Harvard thì xã hội học văn học ở Pháp vào thế kỷ XXI vẫn không ngừng phát triển. Trước hết, đó là việc tái bản của một loạt tác phẩm của các tác giả có tên tuổi trong giới xã hội học văn học từ những năm cuối thế kỷ XX: Xã hội học văn học của R. Escarpit, cuốn sách ra đời năm 1958 đã được tái bản năm 1992 và là lần in thứ 8 của cuốn sách này; Hai cuốn sách của P. Zima: Vì một xã hội học của văn bản văn họcSách giáo khoa về phê bình xã hội học được tái bản vào năm 2000 và tiếp theo cuốn Thể chế của văn học tác giả là J. Dubois tái bản năm 2005. Sau 50 năm xuất hiện trong bản tiếng Anh (1951) và bản tiếng Đức (1953) một cuốn sách có tính chất kinh điển của tác giả Arnold Hauser cũng đã tái xuất hiện với bản dịch tiếng Pháp Lịch sử xã hội của nghệ thuật và văn học (2004).

Theo R. Sayre, ngoài các tác phẩm được tái bản, các công trình xuất bản mới về cơ bản vẫn tiếp tục các quan điểm của các nhà xã hội học văn học tiêu biểu của thế kỷ XX, theo các khuynh hướng của R.Escarpit và trung tâm Bordeaux; phê bình xã hội học theo quan điểm của Cl. Duchet. Nhiều nhất là các công trình theo lối tiếp cận từ lý thuyết trường của P. Bourdieu. Một số quan điểm của L. Goldmann như quan niệm về thế giới được các nhà nghiên cứu ở các nước nói tiếng Pháp ngoài Pháp quan tâm và khai thác.

Để có thêm thông tin phục vụ cho vấn đề này, với những tư liệu có trong tay (tất nhiên là không thể đầy đủ) chúng tôi cũng xin giới thiệu cụ thể thêm diện mạo bức tranh xã hội học văn học ở Pháp vào những thập niên đầu của thế kỷ XXI. Trước hết xin cung cấp thư mục sơ lược liên quan đến vấn đề này (theo thứ tự năm).

-Năm 2000, cuốn sách có tính chất giáo trình Xã hội học văn học của tác giả P. Dirkx,Tiến sĩ văn học Pháp, Phó giáo sư Đại học Tổng hợp Rennes-I được xuất bản;

Cũng trong năm 2000 Hội thảo về mối quan hệ giữa văn học và lịch sử được tổ chức tại Trường Đại học Tổng hợp Rennes vào 5-2000;

-Năm 2001, nhân một năm mất của R. Escarpit, N.Robine xuất bản cuốn Tưởng nhớ Robert Escarpit: Nhà giáo, nhà văn, nhà báo, Bordeaux; Tiếp theo là sự xuất hiện của cuốn sách: G. Fabre,Vì một xã hội học của quá trình văn học, Nxb Harmattan, 2001.

-Năm 2002 : Hội thảo về nghiên cứu văn học dưới nhan đề Nghiên cứu được Hội nghiên cứu văn học Pháp thế kỷ XX tổ chức tại Bordeaux; Sách của F. Thumerel được xuất bản: Trường văn học Pháp thế kỷ XX, Nxb Armand Colin;

– Năm 2003: sách của E. Cros, Phê bình xã hội học, Nxb L’Harmattan.

– Năm 2004: Hội thảo Văn học và xã hội học do Hội nghiên cứu văn học Pháp thế kỷ XX tổ chức tại Bordeaux với sự tham gia của hai nhóm nghiên cứu của trường Đại học Tổng hợp Bordeaux 3: Văn bản và văn hóa; Các vấn đề hiện đại hóa;

Cũng trong năm này tác giả J. Meizoz công bố cuốn Góc nhìn xã hội học và văn học; đồng thời xuất hiện cuốn Trao đổi về phê bình xã hội học với Claude Duchet (1995-2001), Nxb Đại học Tổng hợp Lyon;

– Năm 2005: J. Dubois, đồ đệ của P. Bourdieu xuất bản cuốn Thể chế của văn học; ngoài ra còn có sách của tác giả E. Cros, Chủ thể văn hóa-Phê bình xã hội học và phân tâm học, Nxb  L’Harmattan, Paris;

-Năm 2006: Sách của P. Aron, A. Viala, Xã hội học văn học, Nxb PUF;

-Năm 2007: Sách: Nhiều tác giả, Văn học và xã hội học, Nxb Trường Đại học Tổng hợp Bordeaux; tháng 2-2007 tạp chí COnTEXTES (Tạp chí Xã hội học văn học) có bài Vì một cách tiếp cận xã hội học các quan hệ giữa văn học và hệ tư tưởng của G. Sapiro, một trong những  học trò của  P. Bourdieu;

-Năm 2009: Sách Tiểu thuyết như phòng thí nghiệm. Từ kiến thức văn học đến tưởng tượng xã hội học  của hai tác giả A. Barrère và D. Martuccelli;

-Kéo dài từ 2009 đến 2010 là những buổi hội thảo khoa học tại trường Đại học Paris VII- Diderot với nhan đề Balzac và con người xã hội;

-Năm 2011: Sách của tác giả R. Sayre, Xã hội học văn học-Lịch sử, hệ vấn đề, tổng hợp, phê bình, Nxb L’Harmattan; Một cuốn khác áp dụng phương pháp xã hội học văn học của P.Dirkx và P.Mougin, Claude Simon: Các tình huống;

– Năm 2012 với một số sự kiện: Hội thảo về tác giả G. Sapiro ngày 13-4-2012 ở Paris về cuốn sách Trách nhiệm của nhà văn. Văn học, quyền và đạo đức ở Pháp thế kỷ XIX-XX; tháng11- 2012 Hội thảo Quốc tế được tổ chức ở Algerie về Trường văn học và chiến lược của nhà văn; vào tháng 12 Hội thảo mang tên Nghiên cứu về thời thực dân và hậu thực dân-Giữa khách thể và chủ thể với sự cộng tác của nhiều nhà nghiên cứu Pháp. Tạp chí COnTEXTES (Tạp chí Xã hội học văn học) số 10 có bài về Các cuộc tranh luận của nhà văn thế kỷ XI-XX;

Tháng 2-2013 sẽ có Hội thảo tại Metz Hồi ức thiêng liêng – Văn học và tác phẩm của quá khứ.

Có thể thấy xã hội học văn học ở Pháp những năm đầu của thế kỷ XXI vẫn tồn tại và khẳng định sức sống của mình qua sự đa dạng của các hoạt động khác nhau: các sách được tái bản, sách xuất bản mới, các hình thức Hội thảo khoa học, tạp chí có tính chất chuyên ngành…Các đại biểu tiêu biểu cho xã hội học văn học Pháp của thế kỷ XX đều đã không còn, nhưng  các “đệ tử”, các học trò trực tiếp hoặc gián tiếp của họ vẫn đang hoạt động trong các lĩnh vực giảng dạy và nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu, như chúng ta thấy khá là đa dạng và thường mang tính chất liên ngành, không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực văn chương và những vấn đề thuần túy văn học. Từ một số Hội thảo cũng như các công trình tập thể, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh đến nhược điểm của các nghiên cứu văn học đương đại tập trung chủ yếu về hình thức nghệ thuật của văn bản, đồng thời chỉ rõ nhu cầu cần phải mở rộng nghiên cứu quan hệ giữa văn học, nghiên cứu văn học với các khoa học nhân văn khác. Vì vậy vấn đề nghiên cứu liên ngành được đặt ra một cách cấp thiết với mong muốn góp phần tích cực và hiệu quả vào việc đổi mới nghiên cứu văn học tại Pháp và các nước nói tiếng Pháp.

Một sự kiện đáng lưu ý khi các nhà nghiên cứu xã hội học văn học thấy cần thiết phải tổ chức nghiên cứu xã hội học văn học một cách có hệ thống hơn. Lần đầu tiên, một tạp chí chuyên ngành đã được thành lập, đó là tạp chí COnTEXTES, Tạp chí Xã hội học văn học dưới dạng trực tuyến (http://contextes.revues.org/) mà không cần có sự tồn tại của một cơ quan nghiên cứu hoặc giảng dạy chuyên môn. Từ tháng 9.2006 tạp chí chuyên ngành đã thống nhất được đại bộ phận các nhà nghiên cứu. Trang chủ của tạp chí nói rõ rằng :”COnTEXTES, Tạp chí Xã hội học văn học, tập hợp các nhà nghiên cứu tiếp cận văn học theo hướng xã hội đối với mọi nền văn học và giai đoạn lịch sử. Tạp chí không chỉ đưa ra một số các đối tượng nghiên cứu chung, mà đặc biệt là nơi gặp gỡ của các góc nhìn đa dạng cùng có cơ sở là công nhận tính xã hội của hoạt động văn học, ngược lại với một quan niệm có tính thiêng liêng và thần thánh về văn học, cũng như với một cách đọc văn bản như một sáng tạo của thiên tài”.

          4.Khả năng ứng dụng ở Việt Nam

Như chúng ta đã biết, chuyên ngành “xã hội học” là một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam so với các chuyên ngành khác thuộc khoa học xã hội. Đồng thời, có thể thấy rằng hầu như không thể tìm thấy mục từ “xã hội học văn học” trong các sách liên quan đến xã hội học, cũng có nghĩa là xã hội học văn học không thuộc phạm vi nghiên cứu của xã hội học. Chúng ta có thấy điều đó qua một số sách của các tác giả Việt Nam, cũng như một số sách được dịch ra tiếng Việt: Nguyễn Khắc Viện (chủ biên), Từ điển xã hội học[23], Nxb Thế giới, 1994; Nguyễn Sinh Huy, Xã hội học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nôi, 1997; Chung Á, Nguyễn Đình Tấn, Nghiên cứu xã hội học, Nxb Chính trị Quốc gia, 1997; Lê Ngọc Hùng, Lịch sử & lý thuyết xã hội học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002; Vũ Quang Hà, Các lý thuyết xã hội học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2 tập, 2002; Phạm Tất Dong, Nguyễn Sinh Huy, Đỗ Nguyên Phương, Xã hội học đại cương, Nxb Thống kê, 2004; E.A. Capitonov, Xã hội học thế kỷ XX (Nguyễn Quý Thanh biên dịch từ nguyên bản tiếng Nga), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2000.

Nhìn sang lĩnh vực văn học, trong một số từ điển hoặc sách thuộc dạng từ điển văn học (kể cả sách dịch)[24] chúng ta đều không bắt gặp xã hội học văn học với tư cách là một mục từ riêng biệt. Cách đây vài năm, trong bộ Từ điển văn học [25] đã được tái bản có bổ sung và sửa chữa công phu, nhưng tập hợp từ này cũng chưa được nhắc tới. Như vậy có thể thấy lĩnh vực nghiên cứu này vẫn chưa được quan tâm thỏa đáng.

Mặc dù vậy, trong thực tế, từ khoảng hơn một chục năm nay, đã có những nghiên cứu đề cập đến vấn đề này. Năm 1992, trong cuốn Lịch sử văn học Pháp.Thế kỷ XX, Giáo sư Đỗ Đức Hiểu đã nhắc tới Phê bình và xã hội học. Mặc dù chỉ hạn chế trong số trang rất ít ỏi, nhưng xã hội học văn học được giới thiệu là “một bộ phận của khoa học văn học”, “phê bình xã hội học là một khuynh hướng của phê bình Mới” ở Pháp trong thế kỷ XX[26]. Tiếp theo đó, trong cuốn sách Phê bình văn học Pháp thế kỷ XX[27], tên tuổi L. Goldmann đã được nhắc tới với tư cách của một nhà nghiên cứu tiêu biểu của phê bình xã hội học có liên quan đồng thời đến cách tiếp cận mác xít và chủ nghĩa cấu trúc. Không đưa G.Lukács vào khuôn khổ của xã hội học văn học như một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, PGS.TS. Trương Đăng Dung đã dành ba bài nghiên cứu liền để giới thiệu G.Lukács với tư cách một trong những nhà mỹ học lớn nhất trong thế kỷ XX đã quan tâm sâu sắc đến vấn đề mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực khách quan.[28]

Năm 1999, trong cuốn sách Mười trường phái lý luận phê bình văn học phương Tây đương đại, GS.TSKH. Phương Lựu đã dành 20 trang cho một trong mười trường phái đó có tên là Xã hội học văn học[29]. Theo ông, từ công trình Về văn học trong quan hệ với các thể chế xã hội của bà Staël, xã hội học văn học có thể được phân thành nhiều trường phái khác nhau với những nhân vật nổi tiếng như H.Taine, Adorno, L. Goldmann…và “có thể khái quát chung thành xã hội học văn học theo nghĩa rộng, hoặc xã hội học văn học vĩ mô”, còn xã hội học văn học vi mô chỉ xuất hiện vào nửa sau thế kỷ XX mà tiêu biểu là trường phái Bordeaux do R. Escarpit đứng đầu. Nội dung của toàn bộ chương này chúng ta sẽ có dịp gặp lại trong một cuốn sách dày dặn của Giáo sư Phương Lựu xuất bản vào năm 2001[30]. L. Goldmann, một nhân vật tiêu biểu cho xã hội học văn học đã được Giáo sư Phương Lựu  đề cập đến với tư cách của một nhà lý luận mác xít phương Tây trong một cuốn sách mới xuất bản gần đây[31].

Trong cuốn Tác phẩm văn học như là quá trình[32] L.Goldmann và các quan điểm của ông cũng được PGS.TS.Trương Đăng Dung tiếp cận dưới góc độ lý luận văn học mác xít, theo đó, L.Goldmann chịu ảnh hưởng của G.Lukács, nhưng L.Goldmann có điểm khác với người thầy của mình là ông không nghiên cứu sự phản ánh xã hội, “phương pháp nghiên cứu của Goldmann mang tính xã hội học hơn của Lukács”. Cũng cùng trong năm 2004, độc giả Việt Nam  được tiếp xúc với  một cuốn sách thuộc lý luận phê bình văn học, nhưng có một cái tên “là lạ”[33], trong đó PGS.TS. Đỗ Lai Thúy đã nhắc tới L. Goldmann, người đã thành lập trường phái cấu trúc phát sinh. Ông đã dành một số trang cho mục L. Goldmann và xã hội học cấu trúc trước khi giới thiệu một bài viết quan trọng của L.Goldmann được dịch ra tiếng Việt với tựa đề Phương pháp cấu trúc phát sinh trong lịch sử văn học. Xã hội học văn học cũng là một vấn đề được đặt ra trong bài Phê bình văn học phương Tây, nhìn lại và suy nghĩ của PGS.TS. Đào Duy Hiệp[34]. Chiếm khoảng một phần ba dung lượng của bài viết, xã hội học văn học và kèm theo đó là phê bình xã hội học đã được đề cập đến những nét cơ bản nhất với những tên tuổi tiêu biểu như G.Lukács, L.Goldmann v.v…

Điểm qua các bài viết có liên quan đến xã hội học văn học ở Việt Nam trong những năm gần đây, chúng ta có thể thấy không hẳn xã hội học văn học là một vùng đất trống hoàn toàn. Đó là cơ sở thuận lợi đầu tiên để chúng tôi quyết tâm tìm hiểu thêm về xã hội học văn học, trước hết là ở Pháp, hy vọng có những thông tin tham khảo và những gợi ý bổ ích cho công việc nghiên cứu.

Theo chúng tôi, khả năng áp dụng các thành tựu của cách tiếp cận xã hội học văn học là có thể, nó sẽ mở thêm những khả năng, những đường hướng mới, những đề tài nghiên cứu mới, hoặc cách tiếp cận mới. Lâu nay chúng ta đã được tiếp xúc với nhiều trào lưu lý luận nước ngoài khác nhau, trong thực tiễn đã có nhiều thành tựu trong việc áp dụng một số lý thuyết nào như lý thuyết trần thuật học, thi pháp học…Là những người đi sau, phần nào chúng ta đã và có thể tránh được những quan điểm cực đoan của người đi trước, cố gắng chọn lựa cho mình những điều hợp lý trong điều kiện cụ thể của mình..

Từ những công trình nghiên cứu của các nhà xã hội học văn học Pháp, chúng ta có thể tham khảo được nhiều điều. Các nghiên cứu của R.Escarpit và trường phái Bordeaux đã có những gợi ý cho chúng ta trong việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thị trường sách, đến việc xuất bản sách hiện nay, tác động của truyền thông với văn học đương đại, độc giả và vấn đề tiếp nhận của các loại độc giả khác nhau, vấn đề xây dựng chiến lược về sách nói chung, sách văn học nói riêng v.v.…

Đặc biệt, có thể thấy lý thuyết trường của P.Bourdieu có khả năng ứng dụng cụ thể trong các nghiên cứu ở Việt Nam. Từ những nghiên cứu của bản thân P.Bourdieu cũng như các cộng sự của ông chúng ta như được gợi ý đến nhiều vấn đề có thể nghiên cứu.

+ Các đề tài liên quan đến vấn đề “nhà văn” ( được hình thành trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX với tư cách là một nghề, gắn với trường văn học thời Pháp thuộc; chức năng của người viết, trách nhiệm xã hội của nhà văn trong trường văn học của từng thời kỳ trong suốt thế kỷ XX đến nay). Nghiên cứu nhà văn từ góc độ xã hội học có nghĩa là cần phải tìm hiểu toàn bộ đời sống văn học như một hệ thống quan hệ, có nghĩa là mỗi hành động cá nhân hay tập thể đều có tác động nào đấy đối với tổng thể.

+Ngoài ra còn có thể nghiên cứu trường văn hóa với các tác nhân khác nhau như nhà văn, nhà xuất bản, các cơ quan thể chế…. trong các mối tương quan khác nhau. Ví dụ văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX với vai trò phát triển mạnh mẽ của báo chí (nghiên cứu văn học giai đoạn này với tư cách một quá trình sản xuất cần quan tâm đến hệ thống sản xuất sản phẩm văn học, cũng như các tác nhân tham gia quá trình sản xuất, các nhà xuất bản, việc phát hành và lưu thông sản phẩm, cuối cùng là các độc giả ở đây đóng vai trò người tiêu dùng…).

+Để phát hiện cấu trúc trường, P.Bourdieu nhấn mạnh nhiều lần đến việc cần nghiên cứu các nhà văn trong một tổng thể. Khác với lịch sử văn học truyền thống chỉ ghi nhận những tên tuổi nhà văn đã được tôn vinh, nghiên cứu văn học theo lý thuyết trường quan tâm đến toàn bộ giới nhà văn, cả những người không nổi tiếng, hoặc những người nổi tiếng vào thời của họ nhưng không được ghi tên vào lịch sử.

Các đề tài thuộc về nghiên cứu trường hợp (một nhà văn, một nhóm văn học, một trường phái, một phong cách v.v.). Cách tiếp cận xã hội học nghiên cứu trường hợp không phải nhằm mục đích đắp tượng tôn vinh một thiên tài vượt ra khỏi ngoài bối cảnh xã hội và lịch sử của thời đại mình. Cái cụ thể, cái riêng biệt ở đây hướng tới mục đích để tìm hiểu cái chung, cái phổ biến cho một xã hội, một thời điểm lịch sử. Nhưng chính sự hiểu biết về cái chung đó lại cho phép tìm hiểu một cách thoả đáng sự độc đáo, các cách tân của mỗi nhà văn, mỗi nghệ sĩ, so với thời đại mình.

Như vậy nghiên cứu trường hợp từ góc độ trường khác với các nghiên cứu tiểu sử theo truyền thống không phải là tìm cách lý giải « thiên tài » của một nhà văn, mà hướng tới việc tìm hiểu quá trình hình thành tài năng văn học của nhà văn đó, cũng như hoạt động sáng tác với các nét độc đáo riêng trong một bối cảnh xã hội lịch sử cụ thể. Điều này cũng có nghĩa là một nhà văn có thể được nghiên cứu bởi đóng góp đặc biệt vào lịch sử văn học, nhưng đối với một nhà văn không được văn học sử ghi tên thì đời văn của ông ta cũng có đóng góp là cho phép hiểu rõ hơn đời sống văn học thời đó. Nghiên cứu trường hợp cho phép tìm hiểu một cách cụ thể ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử xã hội vào nội dung hay hình thức của văn học, cũng như thành công hay thất bại của các nhà văn.

+ Các vấn đề trong nghiên cứu văn học Việt Nam trong mối quan hệ với văn học nước ngoài rất đa dạng. Ví dụ: vấn đề văn học dịch và tiếp nhận văn học nước ngoài ở Việt Nam (trong giới độc giả thông thường và trong giới độc giả đặc biệt là chính các nhà văn). Các quan hệ giao lưu giữa văn học Việt Nam và thế giới có thể được thấy qua sự phát triển các hình thức văn học với các loại bản dịch. Văn học Việt Nam và văn học Pháp, Nga, Trung Quốc v.v. có những mối quan hệ đặc biệt cần được nghiên cứu. Việc tiếp nhận văn học Việt Nam ở nước ngoài vào các thời điểm lịch sử khác nhau với các tác phẩm được dịch khác nhau cũng là những vấn đề hứa hẹn nhiều điều thú vị.

+Một vấn đề lâu nay vẫn gần như để ngỏ đang cần đến cách tiếp cận khác như vấn đề văn học Việt Nam ở nước ngoài viết bằng tiếng Việt, cũng như các nhà văn gốc Việt dùng tiếng nước ngoài viết về đề tài Việt Nam. Các quan hệ này đều ít nhiều có tác động đến văn học Việt Nam nói chung, văn học thời hội nhập nói riêng, và do đó cần được quan tâm nghiên cứu một cách khách quan và khoa học.

+ Cuối  cùng là vấn đề văn học dịch ở Việt Nam gồm dịch « xuôi » và « ngược » về mặt nào đó được coi như một phương tiện trao đổi văn hoá quốc tế đồng thời là động lực để phát triển văn học dân tộc, cần phải xem xét tìm hiểu mọi tác nhân (các cá nhân và thể chế) tham gia vào quá trình đó cũng như việc hình thành một không gian quốc tế lưu thông văn bản dịch và các tác nhân tham gia vào hoạt động dịch. Các nghiên cứu về dịch văn học này có thể gợi mở một số hướng nghiên cứu cho văn học Việt Nam, đặc biệt trong quá trình hội nhập. Điều quan trọng đặt ra ở đây là khả năng sử dụng một cách sáng tạo và hợp lý các khái niệm vào các vấn đề cụ thể trong nghiên cứu văn học Việt Nam.

Trong thực tế, thời gian gần đây ở Việt Nam đã xuất hiện những nghiên cứu  dựa trên thành tựu của các nhà xã hội học văn học Pháp, cụ thể là từ lý thuyết của P. Bourdieu. Năm 2009, PGS.TS. Vân Dung giảng viên Khoa Pháp tại Đại học Sư phạm ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tiến hành một đề tài cấp Bộ với nhan đề: Xã hội Pháp qua tiểu thuyết Pháp đương đại đầu thế kỷ XXI, trong đó chị áp dụng phần nào lý luận của P.Bourdieu trong nghiên cứu của mình. Trong Hội thảo quốc tế mới đây của Viện văn học và Viện Harvard-Yenching đồng tổ chức đã có nhiều học giả nhắc tới P.Bourdieu và các lý thuyết của ông. Cũng trong năm 2009, bạn đọc được tiếp xúc với một cuốn sách của nhiều tác giả với nhiều vấn đề lý thú nhan đề là Nghiên cứu văn học Việt Nam – Những khả năng và thách thức[35] trong đó có bài của hai tác giả trẻ đã áp dụng những quan điểm từ lý thuyết trường của P.Bourdieu để nghiên cứu văn học Việt Nam: Phạm Xuân Thạch, Ba thập niên đầu thế kỷ XX và sự hình thành “trường văn học” ở Việt Nam; Phùng Ngọc Kiên, Nghiên cứu xã hội học về trường hợp Trần Dần. Đây là những thử nghiệm đáng khích lệ và có triển vọng.

Yêu cầu phát triển nền lý luận phê bình văn học nghệ thuật tại Việt Nam ở thế kỷ XXI, ngoài việc nghiên cứu sâu thêm, kỹ thêm vốn phong phú từ trong di sản dân tộc, không thể không hướng tới những chân trời mới để có thể có tiếng nói của riêng mình giữa muôn vàn tiếng nói của nhân loại.

Xã hội học văn học ở Pháp với ba đại diện tiêu biểu đã có tiếng nói riêng của mình. Có một điều có thể nhận thấy tuy khác nhau trong nhiều vấn đề, nhưng từ công trình nghiên cứu của ba ông chúng ta thường gặp những từ như “toàn thể”, “tổng thể”, “hệ thống”, điều đó đã gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ liên quan đến phương pháp nghiên cứu cũng như đến cách xử lý các vấn đề nghiên cứu.Theo chúng tôi, xã hội học văn học là một hướng tiếp cận rất khả thi. Nó bổ sung, viết thêm nét vào bức tranh phong phú của lý luận phê bình văn học nước ngoài lâu nay đã trở nên quen thuộc ở Việt Nam, hứa hẹn những tiếng nói nhiều chiều trong phê bình và nghiên cứu văn học nước nhà. Đồng thời chúng ta cũng hiểu rằng đây chỉ là một trong số nhiều cách tiếp cận trong phê bình và nghiên cứu văn học, sẽ có hiệu quả hơn khi cùng lúc chúng ta có cái nhìn đa chiều trong tiếp thu và học tập để hy vọng tìm được những gì thích hợp nhất trong điều kiện cụ thể của chúng ta. Điều quan trọng là chỉ cần chúng ta luôn mở lòng sẵn sàng cập nhật các thông tin mới với tinh thần dám thử nghiệm,tìm đến và mở ra những con đường mới./.

 



[1] G. Endruweit và G.Trommsdorg, Từ điển xã hội học, (Ngụy Hữu Tâm và Nguyễn Hoài Bão dịch từ nguyên bản tiếng Đức), Nxb Thế giới, 2002, tr.858-859.

[2] Dictionnaire historique thématique et technique des Littératures, Larousse, Paris, 1990.

[3] Sđd, tr.1537.

[4] J.-Y. Tadié, Phê bình văn học Pháp thế kỷ XX, Pocket, 2002, tr.155.

[5] P. Aron và A. Viala, Xã hội học văn học,PUF, 2006, tr.3.

[6] P.Dirkx, Xã hội học văn học, Armand Colin, 2000.

[7] R.Escarpit, Xã hội học văn học, Nxb PUF, Paris.1958.

[8] R.Escarpit, Sđd, tr.16.

[9] R.Escarpit (chủ biên), Văn học và xã hội, Nxb Flammarion, 1970.

[10] R.Escarpit, Sđd, tr. 9.

[11] R.Escarpit, Sđd, tr. 18.

[12] R.Escarpit, Sđd, tr.28.

[13] R.Escarpit, Sđd, tr.41.

[14] L.Goldmann, Vì một xã hội học của tiểu thuyết, Gallimard, 1992, tr.358.

[15]L.Goldmann,Sđd, tr.337.

[16] Xem thêm: Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Nxb Văn học-Trung tâm nghiên cứu quốc học, 2002.

[17] L.Goldmann, Thượng Đế ẩn giấu, Gallimard, 1959, tr. 28.

[18] L.Goldmann, Thượng Đế ẩn giấu, Gallimard, 1975, trang 7.

[19] L.Goldamnn, Sđd, trang 283.

[20]  L.Goldamnn, Sđd, trang 324.

[21] P. Bourdieu, Quy luật của nghệ thuật. Sự hình thành và cấu trúc của trường văn học, Paris, Seuil, 1992. Văn bản do chúng tôi sử dụng ở đây là văn bản có bổ sung và sửa chữa, được tái bản năm 1998.

[22] J. Heilbron, R. Lenoir, G. Sapiro (chủ biên), Vì một lịch sử của các khoa học xã hội. Tưởng nhớ Pierre Bourdieu, Fayard, Paris,2004, 397 tr.

[23] Trong cuốn này, tuy các tác giả không nhắc đến XHH VH, nhưng ở phần Phụ lục NHỮNG TÁC GIẢ NỔI TIẾNG lại cung cấp những thông tin liên quan đến các nhà xã hội học tiêu biểu trong lĩnh vực XHH VH như  G.Lukács, Th.W.Adorno, L. Goldmann…

[24] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, 1997,2000; Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, 1999; I.P.Ilin và E.A.Tzurganova chủ biên,Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa kỳ thế ký 20,Nxb Đại học Quốc gia, 2003.

[25] Từ điển văn học (Nhiều tác giả),Nxb Thế Giới, 2004.

[26] Lịch sử văn học Pháp. Thế kỷ XX, (Nhiều tác giả), Nxb Thế giới, 1992; tái bản năm 2005 tại Nxb Quốc gia Hà Nội.

[27] Phê bình văn học Pháp thế kỷ XX, (Lộc Phương Thủy chủ biên), Nxb Văn học, 1995.

[28] Xem: Trương Đăng Dung, Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb KHXH, 1998.

[29] Phương Lựu, Mười trường phái lý luận phê bình văn học phương Tây đương đại, Nxb Giáo dục, 1999, tr.240.

[30] Phương Lựu, Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX, Nxb Văn học-Trung tâm văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2001.

[31] Phương Lựu, Tư tưởng văn hóa văn nghệ của chủ nghĩa Mác phương Tây, Nxb Thế Giới, 2007.

[32] Trương Đăng Dung, Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb KHXH, 2004.

[33] Sự đỏng đảnh của phương pháp, (Đỗ Lai Thúy chủ biên), Nxb văn hóa Thông tin-Tạp chí văn hóa-Nghệ thuật, 2004.

[34] Xem: Đào Duy Hiệp, Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại, Nxb Giáo dục, 2008.

[35] Nhiều tác giả, Nghiên cứu văn học Việt Nam-Những khả năng và thách thức, Tuyển tập chuyên khảo do Viện Harvard-Yenching tài trợ, Nxb Thế giới, 2009.

Nguồn: Bản tác giả gửi Phê bình văn học. Copyright © 2013 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC .

Leave a Reply