Xã hội học văn học trong nghiên cứu của Robert Escarpit và trường phái Bordeaux


Nguyễn Phương Ngọc

Robert Escarpit (1918-2000) là một nhà trí thức người Pháp có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa thế kỷ XX. Ông là một trong những người  đi đầu trong lĩnh vực xã hội học văn học với tác phẩm Xã hội học văn học xuất bản năm 1958. Ông cũng là người sáng lập ra ngành truyền thông và thông tin tại Pháp, đồng thời có ảnh hưởng lớn tới giới báo chí và xuất bản. Để có thể thấy được phần nào các hoạt động đa dạng của ông, xin dẫn lại thông tin đăng trên tờ Nhân đạo ra ngày 20.11.2000 thông báo tin ông từ trần: “Giáo sư chuyên gia văn học Anh, ông là tác giả của khoảng 50 tác phẩm trong đó có các nghiên cứu văn học, xã hội học, cũng như các tiểu luận và tiểu thuyết.

Robert Escarpit sinh ngày 24.04.1918 tại thành phố Saint-Macaire tỉnh Gironde miền Tây Nam nước Pháp. Ông theo học chuyên ngành tiếng Anh tại Ecole Normale Supérieure là một trong những Trường Lớn có uy tín bậc nhất chuyên đào tạo các giáo viên cao cấp. Ông giảng dạy ở trường trung học d’Arcachon (Gironde) từ 1943 đến 1945. Sau Đại chiến Thế giới lần thứ 2, ông đảm nhiệm chức vụ chánh văn phòng, sau đó là giám đốc Trung tâm văn hóa Pháp tại Châu Mỹ La Tinh ở Mêhicô từ 1945 đến 1949. Sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ văn học, ông giảng dạy tại trường Tổng hợp Bordeaux, với tư cách là trợ giảng tiếng Anh và sau đó với tư cách là giáo sư văn học so sánh, trong gần 20 năm từ 1951 đến 1970.  Ông là người sáng lập và lãnh đạo Trường cao đẳng kỹ thuật Bordeaux (IUT) thuộc trường Đại học Tổng Hợp Bordeaux từ 1970 đến 1975. Từ 1975 đến 1978, ông được giao trách nhiệm lãnh đạo trường Đại học Tổng Hợp Bordeaux III”.

Trong suốt quá trình giảng dạy và nghiên cứu, Robert Escarpit luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục và văn hóa đại chúng, đặc biệt là văn hóa viết thông qua việc xuất bản sách. Liên tục trong 30 năm, ông phụ trách một chuyên mục trong tờ báo tiến bộ Le Monde. Ông cũng trực tiếp tham gia vào đời sống xã hội và chính trị với mong muốn góp phần nâng cao dân trí cho đại đa số quần chúng. Trong thời gian Đại chiến thế giới thứ II, ông tham gia kháng chiến chống Đức và được nhận huân chương dành cho những người có công tham gia giải phóng nước Pháp. Những kỷ niệm thời kỳ này được kể lại trong các tiểu thuyết Người trẻ tuổi và bóng đêm (1972), và Những người chân đất (1982). Năm 1982, sau khi rời chức vụ Hiệu trưởng trường Đại học Tổng Hợp Bordeaux, ông được bầu vào Hội đồng vùng Aquitaine với tư cách là thành viên Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1983 ông được trao Bắc đẩu bội tinh, huy chương cao quý nhất dành cho những người có công với đất nước Pháp. Từ năm 1984, mặc dù đã chính thức về hưu, Robert Escarpit vẫn tiếp tục sự nghiệp giáo dục mà ông theo đuổi từ lâu. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết và truyện cho trẻ em, với minh họa do chính ông vẽ, ví dụ như loạt truyện với các nhân vật chính là Rouletabosse, Petit Gambu v.v…

I. Từ văn học so sánh đến khoa học truyền thông và thông tin

Sinh ra trong một gia đình giáo viên, Robert Escarpit bắt đầu sự nghiệp nhà giáo với tư cách là giáo viên ngôn ngữ và văn học Anh. Năm 1952, sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ văn học, ông được bổ nhiệm vào chức giáo sư văn học so sánh mới được thành lập tại trường Đại học Tổng Hợp Bordeaux. Ở vị trí này, ông là người góp phần quan trọng trong việc phát triển văn học so sánh ở Pháp. Tuy nhiên, việc nghiên cứu so sánh tác phẩm một cách “trừu tượng” không làm Robert Escarpit thỏa mãn: “Bàn luận về sách và tác phẩm của các nhà văn là một công việc rất dễ chịu cho bản thân người dạy và cho sinh viên ngồi nghe, nhưng điều đó không mang lại kết quả gì cụ thể”[1].

Tác phẩm Xã hội học văn học, đánh dấu mốc quan trọng trong xã hội học văn học ở Pháp trong thế kỷ XX là câu trả lời cho nhu cầu “làm việc có ích” đó. Tiếp nối nghiên cứu này và tiếp thu các thành tựu nghiên cứu của Lukacs và Goldmann, vào năm 1960 ông được tạo điều kiện thành lập Trung tâm xã hội học các hiện tượng văn học về sau sẽ trở thành Viện nghiên cứu văn học và kỹ thuật nghệ thuật đại chúng (ILTAM). Trung tâm này nằm ở thành phố Bordeaux, vì vậy thường được biết tới với tên gọi “trường phái Bordeaux”.

Năm 1965 Robert Escarpit cho ra mắt tác phẩm Cuộc cách mạng sách trong đó ông đưa ra các kết quả nghiên cứu đầu tiên về hiện tượng sách bỏ túi dành cho độc giả đại chúng. Năm 1972, cùng với Ronald Baker ông công bố tác phẩm có nhan đề Đói sách bàn về nhu cầu xuất bản, đặc biệt là nhu cầu trong lĩnh vực văn học, tại các nước đang phát triển. Cũng trong năm 1972, ông cùng với một tập thể tác giả và nhà nghiên cứu trong đó có Roland Barthes, thành lập một tổ chức về sau sẽ trở thành Hội các khoa học về thông tin và truyền thông Pháp(SFCIC).

Thông qua Hội SFSIC, cũng như Trung tâm đa chuyên ngành về thông tin và truyền thông  (UPTEC) do chính ông sáng lập năm 1969, Robert Escarpit xây dựng cơ sở cho khoa học về thông tin và truyền thông. Có thể nói rằng năm 1976 là năm chính thức khai sinh ra ngành khoa học mới này. Đó là năm xuất bản tác phẩm Lý thuyết tổng quát về khoa học thông tin và truyền thông trong đó Robert Escarpit trình bày lý thuyết về truyền thông do nhà toán học C. Shannon đưa ra, cũng như các nét chính của khoa điều khiển học, được ông áp dụng vào lĩnh vực nghiên cứu thông tin và truyền thông. Cho tới nay, tác phẩm đã trở thành kinh điển này vẫn là cuốn sách gối đầu giường đối với tất cả những ai quan tâm đến lĩnh vực khoa học này.

Vào năm 1978, trung tâm do Robert Escarpit thành lập năm 1960 với nhiệm vụ nghiên cứu các hiện tượng văn học, sau khi mở rộng đối tượng nghiên cứu ra các kỹ thuật đại chúng khác như điện ảnh và truyền hình đã đổi tên và trở thành Viện nghiên cứu thông tin và truyền thông (LASIC) đồng trực thuộc trường Đại học Tổng Hợp Bordeaux và Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS). Năm 1982, Robert Escarpit cho ra mắt Cuốn sách trắng về truyền thông, đánh dấu chặng cuối một sự nghiệp nghiên cứu khoa học đồ sộ.

Sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy của Robert Escarpit cho thấy rằng, trong quá trình đi từ văn học so sánh tới khoa học thông tin và truyền thông, ý tưởng chủ đạo mà ông theo đuổi là nghiên cứu quá trình tiếp nhận thông tin và sử dụng thông tin của người đọc và người xem để nâng cao trình độ hiểu biết trong bối cảnh một xã hội ngày càng cần đến tri thức. Xã hội học văn học trong nghiên cứu của Robert Escarpit và các cộng sự của ông cần được xem xét dưới góc độ này.

II. Xã hội học văn học

Về tác phẩm Xã hội học văn học

Tác phẩm Xã hội học văn học được xuất bảntrong tủ sách nổi tiếng Que sais-je ? vào năm 1958, sau đó được dịch ra 23 thứ tiếng, trong đó Robert Escarpit đặt cơ sở cho một bộ môn mới có nhiệm vụ nghiên cứu quá trình sản xuất, phát hành và tiêu thụ văn bản viết. Phần thứ nhất,  Nguyên tắc và phương pháp đặt vấn đề “văn học là gì ?” và đưa ra các nguyên tắc tìm hiểu hiện tượng văn học. Phần thứ hai Sản xuất đề cập tới vấn đề nhà văn trong lịch sử và trong xã hội. Phần thứ ba Phát hành tìm hiểu hiện tượng xuất bản và các hệ thống phát hành sách. Phần thứ tư Tiêu thụ đề cập tới vấn đề người đọc với hai chương nhan đề “Tác phẩm và độc giả” và “Quá trình đọc và đời sống”.

Khi phác thảo bức tranh nghiên cứu phê bình ở Pháp và ở nước ngoài trước khi xác định những luận điểm của mình, Robert Escarpit đã tận dụng những thế mạnh của một chuyên gia về văn học so sánh trước khi chuyển hướng sang lĩnh vực xã hội học văn học. Ông nhắc tới thời điểm năm 1800, khi bà Stael cho công bố tác phẩmVề văn học trong quan hệ với các thể chế xã hội và cho rằng cùng với các khái niệm quan trọng về Tinh thần thời đại, Tinh thần dân tộc được hình thành trong nhóm những người bạn Đức của bà de Stael, đó là “thời điểm văn học có ý thức về yếu tố xã hội của mình”[2].Lý thuyết nổi tiếng của H.Taine về chủng tộc, môi trường và thời điểm trong nghiên cứu văn học cùng với những hạn chế của nó mà sau này G. Lanson đã chỉ ra cũng được Robert Escarpit đề cập đến. Cho rằng “triết học mác xít có hiệu quả hơn tư tưởng của Taine trong nghiên cứu văn học”[3], ông đồng thời chỉ ra những mặt còn bất cập của lối phê bình này, ví như bản thân các nhà triết học mác xít như Marx, Engels đã không thể quan tâm nhiều đến các vấn đề văn học, còn trong nghiên cứu phê bình Xô viết như của Plekhanov hoặc Jdanov thì nghiên cứu văn học bị chính trị hóa, họ chỉ coi tác phẩm văn học như những bằng chứng xã hội và coi tiêu chí đánh giá tác phẩm chỉ ở “độ phản ánh trung thành hiện thực”. Khẳng định xã hội học của Durkheim, Comte, Spencer…phát triển theo hướng riêng của chuyên ngành, đã “bỏ qua văn học” Robert Escarpit khẳng định: “Trong lĩnh vực phê bình văn học ở trường Đại học thì rõ ràng văn học so sánh, bộ môn được thành lập muộn màng nhất trong các bộ môn văn học, đã có nhiều đóng góp hơn cả cho xã hội học văn học”[4]. Ông nhấn mạnh vai trò khởi xướng của G.Lukacs trong lĩnh vực xã hội học văn học, đồng thời xác định việc góp phần  hình thành bộ môn “một cách có hệ thống sau Đại chiến thế giới thứ II” của học trò của Lukacs là Lucien Goldmann. Đáng chú ý ở đây là những nhận định thú vị của Robert Escarpit liên quan đến các lĩnh vực tưởng như hoàn toàn không liên quan đến xã hội học văn học đã được ông bổ sung vào bản xuất bản năm 1986 (lần xuất bản thứ 7 có bổ sung và sửa chữa”: “Từ 1960 sự phát triển của chủ nghĩa cấu trúc đã mở ra các chân trời mới cho xã hội học văn học, đặc biệt là dưới ảnh hưởng của Roland Barthes vào thời kỳ đầu. Các khoa học ký hiệu học đã nhấn mạnh tới văn bản viết và văn bản như không gian xã hội học. Các nghiên cứu được công bố trong tạp chí Tel Quel là đại diện tiêu biểu cho trào lưu cũng chịu ảnh hưởng của triết học mác xít này”[5].

Cùng với tác phẩm Xã hội học văn học, Robert Escarpit đã phát triển thêm các luận điểm của mình trong một số bài viết từ cuốn Văn học và xã hội[6]hướng đến một xã hội học văn học mang những đặc điểm của riêng ông đồng thời thể hiện qua các nghiên cứu của trường phái Bordeaux mà ông là “thủ lĩnh”.

Văn học là một quá trình giao lưu

Hiện tượng văn học được Robert Escarpit hình dung như một tổng thể bao gồm ba mặt liên kết hữu cơ gồm có nhà văn, tác phẩm, người đọc. Ông quan tâm đến vấn đề này từ rất sớm. Trong một cuốn sách nhỏ với nhan đềLịch sử văn học Pháp được xuất bản năm 1948 tại Mêhicô khi Robert Escarpit đảm nhiệm chức vụ giám đốcTrung tâm văn hóa Pháp tại Châu Mỹ Latinh, ông trình bày trong lời nói đầu như sau: người ta biết rằng trong văn học có các nhà văn (có rất nhiều tiểu sử nhà văn); có tác phẩm văn học (có rất nhiều sách nói về tác phẩm văn học), nhưng còn một khía cạnh khác mà thường không ai nói tới, đó là người đọc. Trong những năm sau đó, ông tiếp tục tìm hiểu quan hệ giữa nhà văn, tác phẩm và độc giả. Ông đi đến kết luận rằng tính văn học (littérarité) được xác định thông qua quá trình đọc, trong cách đọc và cách tiếp nhận văn bản viết. Nói cách khác, không có người đọc thì không có nhà văn, không có người đánh giá một văn bản là tác phẩm văn học thì không có văn học. Như vậy, theo Escarpit, hiện tượng văn học về bản chất là một hiện tượng giao tiếp, được hiểu với nghĩa là hiện tượng truyền thông tin từ người phát thông tin (nhà văn) đến người nhận thông tin (người đọc) thông qua phương tiện là chữ viết và sản phẩm là sách.

Để nghiên cứu hiện tượng văn học, Robert Escarpit thường xuyên sử dụng chất liệu lịch sử văn học phương Tây. Ông đưa ra khái niệm feedback[7]có thể được dịch là hiện tượng “phản hồi”, có nghĩa là khi ta gửi một thông điệp đến một người, hoặc nhóm người nào đó, thông điệp đó gây ra một phản ứng và có ảnh hưởng đến môi trường và qua đó ảnh hưởng gián tiếp tới chính bản thân ta. Robert Escarpit cho rằng hiện tượng phản hồi là hiện tượng cơ bản của mọi hoạt động giao tiếp văn hóa. Đối với ông văn học về bản chất là một hiện tượng giao tiếp. Trong một bài phát biểu vào tháng 1.1969 ông trình bày rõ hơn về ý tưởng này: “Giả thuyết nghiên cứu cơ bản của chúng tôi từ nhiều năm nay là như sau: khi có hiện tượng phản hồi (feedback) là có hiện tượng văn học, và khi không có phản hồi thì không có văn học. Việc truyền tải thông tin một chiều không phải là văn học, nhưng khi có phản hồi thì đó là văn học”[8].

Nói cách khác đi là để có văn học, cần phải có nhà văn, nhưng cũng phải có độc giả là người phản hồi lại cho nhà văn. Trong lịch sử văn học nói chung, vòng giao lưu này ban đầu được thực hiện bằng việc truyền miệng. Khi chữ viết và sau đó là sách được phát minh ra thì vòng giao lưu giữa nhà văn, tác phẩm và độc giả được thực hiện thông qua sách. Robert Escarpit đưa ra một phân tích độc đáo về quá trình giao lưu này trên cơ sở nghiên cứu lịch sử sách ở phương Tây.

Theo ông, phát minh lớn của loài người là chữ viết và sách có một hậu quả trực tiếp tới quá trình giao lưu văn học, bởi lý do đơn giản là giữa nhà văn  và độc giả có một trung gian là sách, có nghĩa là tác phẩm có thể vượt không gian và thời gian. Ban đầu, vấn đề này được giải quyết khá dễ dàng, bởi sách chép tay chỉ được phát hành trong một phạm vi rất hẹp: số bản sách chép tay không bao giờ vượt quá 200 hoặc 300 bản, và chỉ có một vài cuốn sách xuất bản ở Rome đạt kỷ lục 600 bản. Số lượng bản sách ít như vậy cũng có nghĩa là tác phẩm được đọc trong một số nhóm người đọc không đông lắm, cùng một tầng lớp xã hội và trong phạm vi một vài thành thị, tóm lại là giới độc giả này không đông và họ gần như đều quen biết nhau. Điều này có nghĩa là việc phản hồi được thực hiện một cách dễ dàng, quá trình giao lưu giữa nhà văn và độc giả được thông suốt.

Cũng cần phải nói rằng vào thời kỳ sách chép tay này, người chép sách là một trung gian rất quan trọng và có thể đưa vào văn bản viết nhiều thay đổi theo ý mình hoặc theo nhu cầu của độc giả. Đối với nhà nghiên cứu giao lưu văn học thì những thay đổi trong các văn bản khác nhau của cùng một tác phẩm có ý nghĩa rất quan trọng: những chi tiết này (việc thay đổi một từ, giải nghĩa từ hoặc lời bình) cho phép tìm hiểu quan hệ giao lưu giữa tác phẩm và độc giả. Có thể nói rằng cho đến thế kỷ XIII ở phương Tây, văn bản của tác phẩm văn học liên tục thay đổi bởi nó chịu ảnh hưởng của các nhóm độc giả khác nhau; vào thời kỳ này có sự đọc tham dự, sự đọc một cách tích cực trong các tầng lớp xã hội khác nhau.

Việc phát minh ra kỹ thuật in có thể được coi là kết quả trực tiếp của việc gia tăng số lượng độc giả: số người đọc sách ngày càng đông đảo dẫn tới việc những người chép sách không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sách. Theo Robert Escarpit, kỹ thuật in tự thân nó không phải là một sự kiện có tính cách mạng, đó chỉ là một kỹ thuật để tăng năng suất của các xưởng chép sách mà thôi. Nhưng kết quả của việc in sách có ý nghĩa rất lớn: khác với sách được chép đi chép lại, do đó có nhiều dị bản, sách in chỉ có một bản duy nhất. Song song với việc văn bản viết được bảo vệ khỏi những thay đổi theo thời gian, sách in cũng đồng nghĩa với sự xuất hiện của khái niệm tác giả cũng như văn bản văn học. Thật vậy, nhờ kỹ thuật in văn bản gốc được nhân bản nhiều lần một cách hoàn toàn chính xác dần dần được coi là có giá trị đặc biệt, giá trị của một tác phẩm văn học, và tên của tác giả, có nghĩa là chữ ký mang lại giá trị cho tác phẩm, trở thành một yếu tố quan trọng. Cùng với sự xuất hiện của sách in, văn học truyền miệng và khuyết danh dần dần nhường chỗ cho văn học viết và có tên tác giả.

Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến bản chất của văn học và vấn đề giao lưu, hoặc nói khác đi là sự phản hồi, yếu tố làm nên văn học. Lúc đầu số lượng sách in ra có nhiều hơn, nhưng môi trường độc giả vẫn không phải là quá đông. Vào thế kỷ XVII số bản sách in nhiều nhất cũng không vượt quá con số 1.500 bản. Vào thế kỷ XVIII, một tác phẩm có thể được gọi là best-seller cũng chỉ được in với con số là 6.000 bản và có thể đạt tới 22.000 bản bán được trong vòng 40 năm. Kết quả là các tác giả vào thời kỳ này không quen biết độc giả của mình như các tác giả thời Cổ đại, nhưng họ cũng có thể hình dung ra độc giả của mình, nguồn gốc xã hội, tập quán văn hóa của họ v.v. bởi lý do đơn giản là tác giả cũng như độc giả cùng thuộc về một tầng lớp xã hội, họ có chung một nền giáo dục, một nền văn hóa. Voltaire hoặc Diderot có thể hình dung một cách rõ ràng độc giả của mình, cũng như một nhà văn như Charles Pinat Duclos có thể tuyên bố như sau vào khoảng giữa thế kỷ XVIII: “Tôi hiểu độc giả của tôi. Không có tác giả nào lại không có độc giả, có nghĩa là một bộ phận của xã hội mà trong đó có bản thân anh ta”. Khoảng nửa thế kỷ sau, có nghĩa là đầu thế kỷ XIX, câu nói này đã hoàn toàn lạc hậu và không còn có ý nghĩa gì nữa. Thậm chí  tình hình còn hoàn toàn ngược lại: đó là ý nghĩa của hình ảnh “vỏ chai vứt xuống biển” của Vigny mang thông điệp của nhà văn cô đơn trước sự im lặng của độc giả.

Theo Robert Escarpit thì vào thế kỷ XIX, tình hình văn học thay đổi một cách sâu sắc. Điều này có nguyên nhân trong việc thay đổi trong độc giả. Số lượng độc giả tăng nhanh đột ngột ở nhiều nước châu Âu bởi nhiều lý do. Ví dụ ở Anh, đó là lý do tôn giáo. Dòng giáo phái giám lý (méthodisme) đã góp phần phát triển việc đọc một cách nhanh chóng: đối với mục sư John Wesley sách là một phương tiện truyền đạo tuyệt vời. Các mục sư theo Wesley đã phát minh ra loại sách rẻ tiền 1 xu (1 penny) có thể được coi là tổ tiên của loại “sách bỏ túi”. Dòng giáo phái giám lý rõ ràng chỉ là một trong những yếu tố phát triển việc đọc ở Anh, nhưng đó là một yếu tố quyết định. Ở Pháp, yếu tố quyết định đó là Cách mạng Pháp với nhu cầu truyền bá tư tưởng cộng hòa.

Theo các nghiên cứu xã hội học lịch sử văn học, thực tế là vào đầu thế kỷ XIX nhu cầu người đọc ở châu Âu tăng nhanh đến nỗi nhu cầu cải tiến máy in Gutenberg (vẫn còn đựợc sử dụng rộng rãi cho đến những năm 1780-1790) trở nên bức thiết. Vào cuối thế kỷ XVIII một người thợ in giỏi có thể in được tới 3.500 trang sách trong một ngày, có nghĩa là năng suất chỉ tăng hơn khoảng 40-50% so với thời kỳ mới phát minh ra máy in Gutenberg. Nhưng vào đầu thế kỷ XIX, do phải đáp ứng nhanh chóng nhu cầu ngày càng tăng về sách, một sáng kiến cách mạng đã ra đời: máy in được lắp thêm động cơ hơi nước và do đó năng suất tăng lên gấp nhiều lần. Ở Đức và nhất là ở Anh, nhiều loại máy in kiểu mới này đã ra đời. Máy in hiện đại nhất thời đó là “máy in John Walter” được sáng chế ra ở Anh vào năm 1810 cho phép in tới 6.000, 7.000, 10.000 trang trong một ngày và nhanh chóng đạt tới con số kỷ lục là 100.000 trang, có nghĩa là gấp 30 lần so với năng suất vào cuối thế kỷ XVIII. Kết quả là số lượng sách bán được tăng lên rất nhiều. Số lượng độc giả cũng tăng nhanh. Kỷ lục sách thời trước đó, vào cuối thế kỷ XVIII,  là tiểu thuyết Pamela của Samuel Richardson bán được 22.000 bản trong vòng 40 năm. Trong khi đó thì vào đầu thế kỷ XIX tác phẩm thơ Corsaire của Byron đã bán được 10.000 bản chỉ trong vòng một ngày và 100.000 bản trong vòng một năm sau khi xuất bản.

Bước cải tiến kỹ thuật này cho phép in nhiều sách hơn và sách càng ngày càng có nhiều độc giả hơn. Nhưng sự thay đổi về lượng này sẽ dẫn đến một thay đổi về chất vô cùng quan trọng. Điều đó dẫn tới một hậu quả là sự cắt đứt quan hệ giữa tác giả và độc giả. Thật ra điều này đã xảy ra khi chữ viết và nhất là sách được phát minh ra. Tuy nhiên, trước thế kỷ XIX, mặc dù số lượng độc giả cũng không nhỏ, tác giả vẫn có thể hình dung được người đọc của mình bởi phần lớn họ thuộc về cùng một tầng lớp xã hội. Từ thế kỷ XIX, nhà văn không còn khả năng biết được chính xác độc giả của mình là ai bởi lý do là số lượng độc giả lớn hơn rất nhiều, nhưng cũng bởi vì họ thuộc về các tầng lớp xã hội khác nhau. Để thấy rõ điều này, Robert Escarpit lấy ví dụ Byron nhận được thư của một độc giả sống tại vùng Oregon. Đối với nhà văn, điều đó cũng kỳ lạ như nhận được thư từ một thế giới khác. Ông không thể tượng tượng được là có người đọc tác phẩm của ông ở một nơi xa đến như vậy. Nhưng thật ra điều mà Byron không ngờ tới là sự xa cách giữa ông và độc giả không chỉ là khoảng cách địa lý mà chính là ở khoảng cách xã hội. Thật vậy, ngay ở vùng ngoại ô Luân Đôn cũng có rất nhiều độc giả của Byron nhưng ông không biết tới sự tồn tại của họ, bởi những độc giả đó thuộc về tầng lớp xã hội hạ lưu.

Kết quả của việc phát minh ra máy in hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu đọc của độc giả là vào thế kỷ XIX nhà văn dần dần đi đến kết luận là nhà văn không thể biết được độc giả của mình là ai. Robert Escarpit cho rằng đó là lúc mà nhà văn tự nhốt mình vào tháp ngà nghệ thuật hoặc trong phòng làm việc của mình để uống cà phê như Balzac hoặc trong kho chứa đồ như Hawthorne ở Mỹ…Nhà văn tự nhốt mình vì thực ra quá trình giao tiếp với độc giả đã bị cắt đứt.

Hình ảnh “chai ném xuống biển” về nghệ sĩ cô đơn là biểu tượng cho nhà văn lãng mạn. Tuy nhiên, theo Robert Escarpit thì văn học với bản chất là giao lưu, là giao tiếp, không thể nào tồn tại lâu trong tình trạng này. Ông chỉ ra rằng các nhà văn thế kỷ XIX đều tìm cách thoát ra khỏi sự cô đơn đó. Theo ông, cách mà họ tìm thấy là cách mà Jean-Paul Sartre sẽ lý thuyết hóa vào thế kỷ XX, đó là sự “dấn thân”. Theo Robert Escarpit thì lịch sử văn học Pháp cho thấy rằng các nhà văn bắt đầu làm chính trị chính vào thời kỳ văn học lãng mạn: “Các bạn hãy tự hỏi xem tại sao các nhà văn Pháp, các nhà văn lãng mạn Pháp đều làm chính trị ? Tất nhiên ta có thể nói rằng tình hình lúc đó yêu cầu phải  hành động như vậy, nhưng lịch sử cho thấy rằng tình hình các giai đoạn trước đó cũng vậy. Nhà văn thế kỷ XIX làm chính trị vì anh ta tìm cách thiết lập lại đối thoại với độc giả của mình. Các bạn hãy đọc Victor Hugo viết về nhà văn có ích và về nhà văn ngày chủ nhật : “Đừng trở thành những thiên tài vô ích”. Nhà văn không thể chịu đựng tình cảnh bị cắt đứt khỏi độc giả và cộng đồng của mình, đó là điều rất quan trọng. Và nếu các bạn theo dõi các sự kiện lịch sử thế kỷ XIX thì các bạn sẽ thấy rằng khi các nhà trí thức thất vọng, vào năm 1848, họ tự giam mình vào tháp ngà nghệ thuật. Đó là giai đoạn “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Nhưng giai đoạn đó không kéo dài vì ngay sau đó xuất hiện “chủ nghĩa tự nhiên” kêu gọi đấu tranh. Bản thân khái niệm “người trí thức” sinh ra từ nhu cầu hành động này. Các bạn có biết danh từ  “trí thức” xuất hiện khi nào không ? Nếu tôi không nhầm thì nó xuất hiện ngày 1.1.1899 trong một lời kêu gọi ủng hộ đại úy Dreyfus. Văn bản này có tên “Tuyên ngôn của những người trí thức”. Và nếu các bạn xem danh sách tên những người ký bản tuyên ngôn này thì sẽ thấy là tất cả các nhà văn thời đó đều có mặt, từ Zola cho đến Proust. Đây là một trường hợp thiết lập lại quan hệ đã bị cắt đứt giữa nhà văn và độc giả”.

Quá trình giao lưu và hệ thống phản hồi văn học trong thế kỷ XX

Theo Robert Escarpit, vấn đề chủ yếu của thời đại chúng ta là hoạt động của hệ thống phản hồi. Hệ thống này tồn tại, nhưng nó chỉ đại diện cho một thiểu số độc giả. Tại các nước phát triển, đó là các nhà phê bình văn học, những người nghiên cứu văn học, các nhà xuất bản v.v… tóm lại là môi trường văn học cho phép bàn về văn học và nuôi dưỡng quá trình giao lưu giữa nhà văn và độc giả. Tuy nhiên, những người đưa ra ý kiến về văn học và tạo ra phản hồi chỉ chiếm một phần rất nhỏ độc giả. Với sự phát triển kỹ thuật cho phép “dân chủ hóa” sản phẩm sách, số lượng độc giả ngày càng tăng nhanh, nhưng điều đó cũng có nghĩa là có nhiều người không tham gia vào quá trình giao lưu văn học. Nói khác đi là một số lượng lớn độc giả đọc sách một cách thụ động và không có khả năng tham gia phản hồi ý kiến.

Trong nhiều nghiên cứu của trường phái Bordeaux, vấn đề đọc được quan tâm một cách đặc biệt và được đề cập tới từ nhiều góc độ khác nhau. Ví dụ, bản đồ phân bố các hiệu sách ở thành phố Bordeaux cho thấy rằng không một người công nhân nào có dịp đi qua hiệu sách trong giờ hiệu sách mở cửa. Điều đó có nghĩa là bạn đọc công nhân không có khả năng tiếp xúc với nơi có thể tiếp nhận phản hồi là hiệu sách, thông qua việc tìm hiểu gu thẩm mỹ của khách hàng bằng cách hỏi chuyện, đồng thời là nơi có thể truyền tải phải hồi đó đến nhà xuất bản và nhà văn thông qua quan hệ giữa hiệu sách và người đại diện cho nhà xuất bản. Kết quả là mặc dù quần chúng lao động ở các nước phương Tây đọc ngày càng nhiều hơn (theo các số liệu sách bán được), ý kiến của họ rất ít khi đến được nhà văn và nhà xuất bản. Nói cách khác là những người tham gia vào giao lưu văn học là các nhà nghiên cứu và phê bình văn học, hoặc trí thức nói chung, chứ không phải là đại đa số độc giả.

Trong thời đại toàn cầu hóa, vấn đề giao tiếp văn học còn được đặt ra ở một cấp độ khác. Thật vậy trên thế giới nói chung ngày càng có nhiều độc giả, có nghĩa là các nhà văn phương Tây được dịch và được đọc bởi một số lượng độc giả vô cùng lớn ở nhiều nước trên các châu lục. Theo số liệu những năm 1970 thì khoảng 75% văn học dịch trên thế giới có nguồn gốc từ 6 nước, có nghĩa là sản phẩm văn học của Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Tây Ban Nha và Nga (trước đây là Liên Xô) đáp ứng cho ba phần tư nhu cầu về sách trên toàn thế giới. Thực tế là có một số rất ít tác giả được đọc bởi một số lượng rất lớn độc giả. Rõ ràng là tác giả không còn có khả năng giao lưu với độc giả của mình như những thế kỷ trước nữa.

Theo Robert Escarpit, đó là là một vấn đề cần phải được nghiên cứu và giải quyết với mục đích góp phần vào sự phát triển lành mạnh của văn học các nước trên thế giới. Các nghiên cứu về lịch sử văn học phương Tây cho phép ông đưa ra một mô hình giải thích sự vận động của văn học. Theo ông, mỗi chuyển biến quan trọng trong lịch sử sách và văn học đều có nguồn gốc trong sự chuyển biến xã hội, nói đúng hơn là khi trong xã hội xuất hiện một nhóm độc giả mới có nhu cầu đọc khác với các nhóm độc giả truyền thống. Nhóm độc giả mới này sẽ “gây áp lực” tới nhóm độc giả thiểu số thuộc tầng lớp xã hội cao cấp nắm quyền kiểm soát hệ thống phản hồi và giao lưu văn học. Để thỏa mãn nhu cầu đọc của mình, nhóm xã hội mới này sẽ tạo ra một loại văn học có thể được gọi là “thứ cấp” bởi ban đầu được sản xuất hàng loạt với những mẫu nhân vật có sẵn. Chỉ khi loại văn học này dần dần được chấp nhận bởi văn học “chính thống” trong một quá trình giao lưu văn học lành mạnh thì nó mới có khả năng trở thành một bộ phận của văn học nói chung.

Để minh họa cho mô hình này, có thể lấy ví dụ văn học thế kỷ thứ XIII tại Pháp. Vào thời kỳ này giới tăng lữ trong các tu viện viết bằng chữ La tinh và chiếm vị trí độc quyền trong văn học, còn giới tư sản thương nhân sống ở thành thị là nhóm xã hội đang khởi sắc và có nhu cầu đọc. Giới độc giả mới này muốn đọc sách, nhưng không muốn đọc sách thần học bằng chữ La tinh bởi họ không sử dụng được ngôn ngữ này và cũng bởi vì họ có nhu cầu về những nội dung khác. Giới tư sản thị dân có nhu cầu về sách bằng thứ chữ nôm “roman”, và chính vì thế mà “tiểu thuyết” tiếng Pháp gọi là “roman”. Lúc đầu, người ta phải dịch sách từ chữ La tinh ra chữ roman, và sau đó mới bắt đầu có những tác phẩm được sáng tác trực tiếp bằng chữ roman là tổ tiên của tiếng Pháp hiện đại. Dần dần nhóm độc giả mới này thể hiện nhu cầu đọc sách về những chủ đề họ quan tâm. Để đáp ứng nhu cầu của họ, các bản dịch Kinh Thánh được xuất bản, cũng như sách về các nội dung đa dạng như luật chơi cờ vua, hoặc về kế toán, và đặc biệt là rất nhiều tiểu thuyết. Một loạt truyện về chiến tranh thành Troie, về hiệp sĩ Arthur… đã ra đời trong bối cảnh như vậy. Đó có thể được coi là tổ tiên của các tiểu thuyết phiêu lưu hiện đại. Một ví dụ khác là câu truyện tình nổi tiếng Tristan và Iseult được sáng tác vào thời kỳ này đã trở thành kinh điển và cũng có thể được coi là một thử nghiệm cho các tiểu thuyết hiện đại về sau.

Trường hợp tiểu thuyết Anh thế kỷ XVII cũng cho thấy quan hệ mật thiết giữa những biến đổi về lượng trong giới độc giả và những thay đổi về chất trong văn học. Ở Anh thời đó nhóm độc giả mới xuất hiện là tầng lớp tư sản thị dân bậc trung; về mặt chính trị thì tầng lớp này chống lại chế độ bảo hoàng và đấu tranh cho chế độ nghị viện. Gu thẩm mỹ của những độc giả này rõ ràng không phải là loại sách thần học, cái họ cần là hành động. Để đáp ứng nhu cầu này, một loạt sách có chủ đề là cuộc đời các tội phạm nổi tiếng ra đời. Như vậy vào thế kỷ XVII ở Anh xuất hiện một loại văn học thứ cấp, một loại tiểu thuyết hình sự với nhân vật chính là một tội phạm hoặc một kẻ giết người, được xuất bản  hàng loạt và phát hành với giá rẻ trên thị trường đen. Năm 1688 giới tư sản lên nắm quyền ở Anh và vài năm sau, Defoe, một trong những nhà văn đại diện cho giai tầng xã hội đó, đã chuyển loại văn học thứ cấp này thành văn học, có nghĩa là sáng tác những tác phẩm được ghi vào lịch sử văn học. Quá trình đó được thực hiện bởi việc tham gia vào quá trình giao lưu văn học của các khâu xuất bản, phát hành và phản hồi.

Nhiều ví dụ trong lịch sử văn học phương Tây cho thấy rằng phản ứng ban đầu của các nhóm độc giả truyền thống thường là chống lại các hình thức văn học mới xuất hiện. Tuy nhiên, khi được vận hành một cách lành mạnh, quá trình giao lưu văn học sẽ cho phép xuất hiện một loại văn học có giá trị. Đối với Robert Escarpit, đó là một điều quan trọng không chỉ đối với văn học các nước phương Tây, mà nhất là đối với các nước vẫn còn “đói sách”. Bài học lịch sử  văn học phương Tây cho phép đưa ra giả thuyết rằng tình hình tương tự cũng có thể diễn ra trong thế kỷ XX ở các nước khác trên thế giới. Trong chuyến đi Pakistan năm 1968, Robert Escarpit được các nhà trí thức Pakistan, trong đó có chủ tịch Hội đồng sách quốc gia Pakistan, bày tỏ rằng văn học của nước họ quá yếu ớt không có đủ sách cho độc giả trong nước đọc, mà nếu có thì cũng không bán được sách. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu người Pháp với kinh nghiệm đi điền dã lâu năm, đã nhận thấy rằng ở chợ có nhiều người bán các bản sách in với giá rẻ, chủ yếu là truyện dân gian Pakistan. Với tư cách là đại diện của UNESCO, Robert Escarpit phát biểu như sau: “Đó là nền văn học của Pakistan. Các bạn hãy tổ chức những người in và bán sách này trong một hệ thống xuất bản và phát hành. Văn học sẽ có cơ sở để phát triển. Đừng để họ ở trong tình trạng tự phát như thế, đừng để độc giả đọc một cách thụ động. Hãy cho độc giả có cơ hội phát biểu ý kiến của mình, hãy giúp họ có tiếng nói riêng, có dịp trình bày gu thẩm mỹ riêng của mình. Như vậy từ loại văn học vỉa hè này sẽ xuất hiện một nền văn học đích thực. Trong lịch sử văn học phương Tây cũng như trong lịch sử văn học thế giới đã có những trường hợp như vậy và chúng ta có thể hy vọng rằng văn học cũng có thể xuất hiện ở Pakistan như vậy”.

Rõ ràng, đối với Robert Escarpit, vấn đề của một nền văn học không chỉ là các cuộc tranh cãi nghệ thuật giữa các nhà văn, mà điều chủ chốt vẫn là người đọc. Mục đích của nhiều chương trình nghiên cứu của ông nói riêng và của trường phái Bordeaux nói chung là tìm hiểu cách đưa độc giả từ việc đọc sách một cách thụ động đến việc đọc sách một cách tích cực, có nghĩa là có khả năng trình bày về nội dung được đọc và qua đó tham gia vào quá trình giao lưu văn học. Các nghiên cứu của trường phái Bordeaux về quá trình đọc và hành vi của độc giả đã đem lại những kết quả quan trọng và góp phần tích cực trong lĩnh vực xã hội học văn học.

Xã hội học văn học với việc góp phần xây dựng hệ thống phản hồi

Đối với Robert Escarpit, xã hội học văn học không chỉ đơn thuần là những nghiên cứu sách vở trừu tượng, mà còn có mục đích cụ thể là đưa ra những phương pháp tác động đến toàn bộ hệ thống văn học, trong đó có người đọc. Chính vì vậy ông cho rằng cần phải nghiên cứu để lập