Xung quanh vấn đề diễn giải và siêu diễn giải của Umberto Eco


Đặng Thị Hạnh

I. Bối cảnh của cuộc thảo luận về Diễn giải và Siêu diễn giải

Ở phương Tây, đặc biệt ở châu Âu, diễn giải ý nghĩa văn bản đã có một lịch sử lâu đời do truyền thống chú giải văn bản cổ và tôn giáo. Sang thế kỷ 20, nhất là từ những năm 40, do sự phát triển của nền giáo dục Đại học trong khu vực nói tiếng Anh, đặc biệt trong các khoa Anh ngữ, đã diễn ra một bước ngoặt quan trọng liên quan đến nghiên cứu văn học: đó là khuynh hướng (gắn với trào lưu New Criticism) phản bác phương pháp “khoa học”, di sản của châu Âu thế kỷ 19, thay thế bằng một cách thực hành phê bình tập trung vào các chi tiết của từ để nghiên cứu tác phẩm kinh điển, “coi tác phẩm văn học như một tác phẩm nghệ thuật tự trị, autotéliqua, mà ngành phê bình cần làm sáng tỏ động lực của ý nghĩa tự đủ của nó”. Vào những năm 50 và 60, tuy không sẵn sàng tiếp nhận một số trào lưu mới của châu Âu (thuộc khoa chú giải văn bản cổ, hiện tượng học và ngôn ngữ học cấu trúc), nền văn học và phê bình văn học nói trên vẫn chịu ảnh hưởng của một số khái niệm cơ bản của Saussure (tính võ đoán của ký hiệu…) gắn kết với một bộ phận của nhân chủng học Lévi-Strauss. Đặc biệt thời cuối những năm 60 đánh dấu sự hội tụ ngoạn mục của lý thuyết giải cấu trúc của Derrida với truyền thống phê bình vốn đầy nghịch lý của Hoa Kỳ; ở đây, vẫn có một sự ưa thích nổi bật với tính lý thuyết trong tiếp cận văn học (déconstruction đã biến thành déconstructionnisme) điều mà giới nghiên cứu lục địa không mấy mặn mà. Và trong giới giảng dạy văn học ở Mỹ đã hình thành hai phe đối lập: một bên phái giải cấu trúc, nổi tiếng nhất là “bè lũ bốn tên” ở trường Đại học Yale, (Hartman, Hiller, Bloom, de Man) và bên kia, phái chống đối, nổi tiếng nhất là Searle, Rorty… Trong quy trình nhập vào “một nước Mỹ giải cấu trúc”, khái niệm giải cấu trúc của Derrida đã chịu nhiều biến thái, bản thân nó vốn mang tính lưỡng phân và có tác dụng mở. Tuy rất biết ơn đất nước đón nhận mình, Derrida đã tố cáo một kiểu giải cấu trúc nào đó của Mỹ, “một lý thuyết thực dụng, dễ dãi, tiện lợi và còn có thể bán được nữa”, kể cả ngược lại là một kiểu hệ thống hóa có phần cứng so với sự tinh tế của “đường đi derridien”. Trong bối cảnh trên xuất hiện những tranh luận náo nhiệt trong giới giảng dạy các trường Đại học Mỹ và Anh, về bản chất của nghĩa, các khả năng và giới hạn của dẫn giải, mở rộng ra là về bản chất và mục đích của nghiên cứu văn học. Năm 1990, khi được mời tham gia thuyết trình ở Hội đồng Tanner Lectures (Clare Hall, Cambridge), Umberto Eco đã chọn đề tài: Diễn giải và Siêu diễn giải, có nghĩa là ông xác định chỗ đứng của mình trong cuộc tranh luận. Sau khi vào những năm 60, 70, đã là một trong những người nhấn mạnh đến vai trò người đọc trong quy trình “sản xuất” nghĩa, vào lúc này trong nhiều tác phẩm, ông tỏ ra không thật đồng tình trước một vài hướng đi của tư duy phê bình hiện nay – đặc biệt của dòng phê bình giải cấu trúc – cho phép người đọc tạo ra “một ngọn trào những cách đọc không giới hạn và không kiểm nghiệm được”.

II. Tóm lược các luận điểm của Umberto Eco trong ba bản thuyết trình:Diễn giải và lịch sử, Siêu diễn giải các văn bản và Giữa tác giả và văn bản 1.

A. Diễn giải và lịch sử đã được dịch trong tập Đi tìm sự thật biết cười 2(xin đọc nguyên bản ở đấy). Trong một tiểu luận uyên bác, Eco vạch lại lịch sử của học thuyết bí truyền và phái Ngộ đạo, manh nha từ xa xưa trong huyền thoại Hermès. Ở thế kỷ 2 sau CN ở thời đại thịnh trị của Đế chế La Mã nó đã được khai thác lại: đó là những ý niệm mang ý nghĩa “kín” mã hoá trong ngôn ngữ, chỉ một số người được khai tâm là hiểu được. Eco, trong khi giới thiệu lịch sử “lắt léo” của học thuyết này qua các thế kỷ, đã coi lý thuyết và phê bình văn học hiện nay đang nổi trội ở Mỹ như một giai đoạn mới của học thuyết trên.

B. Tham luận thứ hai: Siêu diễn giải các văn bản

Trước tiên Eco đặt vấn đề: Có tiêu chí nào cho phép chúng ta coi một dẫn giải văn bản là một siêu diễn giải: người ta có thể phản bác rằng muốn xác định một diễn giải sai, cần có tiêu chí cho phép nhận dạng một diễn giải đúng.

Eco cho rằng “chúng ta có thể chấp nhận một kiểu nguyên lý poppérien theo đó nếu không có quy tắc nào cho phép biết được những diễn giải nào là “tốt nhất”, ít nhất cũng có một quy tắc cho phép chúng ta biết được những cái nào là xấu”.

Ông chọn hai ví dụ khá thú vị làm luận cứ:

Một trường hợp hiển nhiên là một siêu diễn giải: cách đọc Dante của Gabriele Rossetti (một nhà văn ý, không mấy tên tuổi của thế kỷ 19, bị ám ảnh vì việc coi Dante là hội viên Hội Tam điểm Thập tự Hồng).

Trường hợp thứ hai khó xác định hơn: cách diễn giải của Hartman (được coi là người đứng đầu trường phái giải cấu trúc của Đại học Yale) về một đoạn thơ trong bài Lucy’s Poem của Wordsworth. Bài thơ nói về cái chết của một em bé gái và Hartman nhận ra “một loạt môtíp tang tóc dưới bề mặt văn bản”. Trong đánh giá tuy cho rằng luôn có sự giao động thường trực “giữa sự tương tự ngữ âm của những từ ngữ in praesentia (có mặt) và sự tương tự ngữ âm của những từ ngữ in absentia (vắng mặt)” (nghĩa là một kiểu vượt qua giới hạn của diễn giải) Eco vẫn nhận thấy cách đọc của Hartman nếu “không thật thuyết phục thì cũng khá quyến rũ”. Điều quan trọng là “cách đọc của Harman không nói trái với những phương diện minh nhiên (exphicite) khác của văn bản”.

* Chính từ ví dụ trên mà Eco triển khai một số luận điểm về diễn giải:

1) Khái niệm isotopie (hệ đồng vị)

Trong lý thuyết, người ta luôn có thể sáng tạo ra một hệ thống khiến các dấu hiệu trở nên có thể chấp nhận được; không có hệ thống đó, chúng không dính kết lại với nhau.

Eco nhắc lại ở đây định nghĩa của Greimas về hệ đồng vị (isotopie): “một phức hợp những hạng mục ngữ nghĩa đa thể cho phép đọc một câu chuyện một cách thống nhất” 3. Việc xác định một diễn từ nói về điều gì tất nhiên là một kiểu “đánh cược”, một ước đoán về đề tài của diễn từ, văn cảnh chính là cái khiến nó đỡ bấp bênh hơn 4: cách lý giải tang tóc của Hartman về bài Lucy’s Poem có ưu thế là đánh cược trên một hệ đồng vị ổn định (không biến đổi). “Việc đánh cược trên hệ đồng vị chắc chắn là một tiêu chuẩn tốt miễn là chúng không mở ra với một chủng loại quá rộng” (Eco so sánh với trường hợp ẩn dụ để làm rõ ý này).

2. Khái niệm về ý hướng của văn bản nhắm hạn chế cách diễn giải tự do. Ở đây ông đặt ra mối liên quan giữa ý hướng của văn bản với ý định của tác giả (đi trước ý hướng văn bản): ý hướng văn bản không phơi ra bề mặt của văn bản, và muốn “nhìn” thấy nó, cần phải có một ước đoán từ phía người đọc. Làm thế nào để chứng minh được ước đoán đó: “mọi diễn giải về một phần nào đó của một văn bản có thể được chấp nhận nếu nó được khẳng định, và phải bỏ đi nếu nó bị phản bác, bởi một phần khác của văn bản”. Như vậy, “sự liên kết văn bản nội tại, kiểm soát đường đi của người đọc, nếu không chúng sẽ không thể kiểm chứng được”.

* Kết thúc phần này, Eco cho rằng “chúng ta cần tôn trọng văn bản, chứ không phải tác giả với tư cách là người này hoặc người kia”. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải quan tâm đến trường hợp những diễn giải mà tác giả hãy còn sống phản ứng lại: “Không, tôi không muốn nói như vậy!”.

C. Tham luận thứ ba: Giữa tác giả và văn bản: tham luận thú vị nhất. Mở đầu đoạn này, sử dụng một câu thơ của Wordsworth (đã được Hartman diễn giải một cách tinh tế) Eco thêm một điều kiện cần thiết nữa cho cách đọc: đó là phải tính đến hệ thống từ vựng của thời đại, nghĩa là tới di sản văn hóa, xã hội và ngôn ngữ thời văn bản xuất hiện (từ gay trong câu thơ A poet could not but be gay chỉ có thể hiểu là vui vì thời đó chưa có nghĩa thêm:đồng tính, như hiện nay).

Sau đó Eco đã tiết lộ một số ý kiến hay ho về tác giả thực của Tên của bông hồng, khi tự đặt mình vào một vị trí khá đặc biệt: “vừa là vật thí nghiệm, vừa là nhà khoa học” đang nói với thính giả (của hội thảo) về một vài phản ứng của tác giả, trước một số lý giải của độc giả. Dưới đây chỉ có thể nêu vài ví dụ:

– Nhìn chung, Eco thấy thú vị về một số nguồn những nhà nghiên cứu hoặc người đọc phát hiện thấy khi đọc Tên của bông hồng: Có những nguồn ông đã sử dụng một cách hoàn toàn có ý thức và ông sung sướng thấy người đọc đã khám phá được cái mà ông đã giấu rất khéo léo với mục đích dẫn người đọc tìm ra cho được. Có những nguồn hoàn toàn xa lạ với ông, và ông cũng vui thích vì có ai đó tin rằng ông đã dẫn lại một cách bác học đến thế. Lại có những nguồn ông hoàn toàn không có ý thức nhớ lại khi viết, nhưng bởi ông đã đọc những tác phẩm này khi trẻ nên ông nghĩ rằng chúng vẫn đã ảnh hưởng một cách vô thức (Riêng có trường hợp một dịch giả người Nga đã phát hiện quyển Bông hồng Bratislasa của Henriot viết năm 1946 như một nguồn của Tên của hoa hồng, ông nói chưa hề đọc, và không chấp nhận đã chịu ảnh hưởng vì ông nhận thấy những hướng tìm bà đưa ra không dẫn đến cái gì thú vị).

– Đầu đề (và incipit) của một cuốn tiểu thuyết lớn thường được giới bình luận quan tâm rất nhiều. Eco ý thức rằng sẽ “phải đối mặt với nhiều cách dẫn giải” ông đã cố tình chọn một đầu đề để độc giả tha hồ tự do. “Hồng là một hình ảnh biểu trưng đầy ắp những nghĩa, đến nỗi cuối cùng nó chẳng còn nghĩa gì (…): bông hồng thần bí, và là hoa hồng, nàng đã sống giống như (thời gian – ND) các bông hồng, Cuộc chiến Hai bông hồng, một bông hồng là một bông hồng, những thập tự hồng, cảm ơn về những bông hồng lộng lẫy, cuộc đời màu hồng”. Trong lời bình có vẻ lung tung này của Eco, ta thấy ông chẳng làm việc gì ngẫu nhiên. Ông đã trộn lẫn, như ông thường làm trong các trò chơi ưa thích của ông: những câu nói “đời thường” (cám ơn về những bông hồng (…), cuộc đời màu hồng) với những sự cố lịch sử (cuộc chiến Hai bông hồng) những hội tam điểm và nhất là với hai lời trích của thơ Ronsard và văn Mallarmé.

Riêng về diễn giải đầu đề Tên của bông hồng, có một cuốn sách, Eco rất tán thưởng: Một bông hồng gọi bằng bất cứ tên nào khác: tổng quan về hệ Hoa từ Shakespeare đến Eco. Riêng với một đoạn tác giả cuốn sách này chứng minh rằng “bông hồng của Eco” bắt nguồn từ quyển Cuộc phiêu lưu của Hiệp định Hải quân của Conan Doyle, Eco thú thật tuy tin rằng đã đọc hết tác phẩm của Doyle, nhưng ông hoàn toàn chưa đọc quyển trên. Tuy nhiên ông cho rằng điều đó không quan trọng: “Trong tiểu thuyết của tôi có một lượng quy chiếu minh nhiên tới Sherlock Holmes nhiều đến mức văn bản của tôi có thể chịu thêm mối liên hệ trên mà không có vấn đề gì”.

Nhìn chung, ông tự nhận thấy không được “hào phóng” cho lắm với “tác giả thực”. Mặt khác, ông nghĩ vẫn cần tìm hiểu vì quy trình sáng tác của tác phẩm, ở lĩnh vực này lời chứng của “Tác giả thực” là rất quan trọng. Tuy nhiên phân tích hai trường hợp chính ông viết ra một cách vô thức trong Tên của hoa hồng ông thấy “dường như chúng nảy sinh từ một mớ bòng bong chẳng liên quan – hoặc chưa liên quan – gì với văn học”. Như vậy để đi đến chỗ ông kết luận: “Cuộc sống riêng tư của các “Tác giả thực”, trên phương diện nào đó vẫn khó thăm dò hơn tác phẩm của họ. Giữa lịch sử bí ẩn của việc sản xuất ra một văn bản và sự trôi dạt không sao kiểm soát nổi của việc đọc nó sau này, thì văn bản trên phương diện là văn bản vẫn là hiện diện chắc chắn, nơi ta còn có thể bấu víu được”.

III. Tham luận của Rorty: Tiến trình của nhà thực nghiệm

Bình luận về tham luận của Eco, Rorty chống lại ý kiến (theo ông nghĩ) cho rằng có thể cấp “một bản chất” cho một văn bản và diễn giải là cách đưa ra ánh sáng bản chất đó. Rorty cho rằng thay vì việc khám phá bản chất thực sự của một văn bản, vì văn bản không hề có “một bản chất” (nature) chỉ nên nghĩ đến những sự miêu tả khác nhau, tùy theo những mục đích ta thấy cần thiết, ông vốn tự nhận là một người anti essentialiste – chống lại thuyết bản chất – Rorty cho rằng một số vấn đề trước đây được coi trọng không còn đáng quan tâm và có thể vứt bỏ những nghiên cứu về “cách vận hành của văn bản” chỉ là những “luyện tập” vô bổ. Tóm lại, thay vì cho việc diễn giải văn bản, nên sử dụng chúng cho lợi ích của mình: nên có một nền phê bình không quan tâm tới “việc đọc qua một bìa lưới những quan niệm vô bổ định sẵn” mà phải là “kết quả của sự gặp gỡ với một tác giả, một nhân vật, một tình tiết, một đoạn thơ (…) dẫn tới một sự đổi khác trong quan niệm nhà phê bình có về mình (…): một sự gặp gỡ đảo lộn cả trật tự của các ưu tiên và các mục tiêu của mình”.

IV. Tham luận Bảo vệ siêu diễn giải của Jonathan Culler

1. Trả lời Eco về vấn đề diễn giải; Culler cho rằng: Diễn giải không phải là mục đích duy nhất và cao nhất của nghiên cứu văn học, nhưng nếu còn cần diễn giải, ta chỉ có được những diễn giải thú vị khi đấy là những lý giải “cực đoan”, phát hiện ra những mối liên quan chưa từng được ai đề xuất. Nói như Chesteston “Hoặc phê bình chẳng dùng làm gì (…) hoặc nó có khả năng nói về một tác giả những điều khiến ông ta phải trở mình trong mộ của ông” (Chesteston). Theo Culler, chính Eco trong tiểu luận, tiểu thuyết, tác phẩm lý luận về kí hiệu học đã có những siêu diễn giải rất thú vị, có giá trị trí tuệ rất lớn, không phải là những dẫn giải chính xác và vừa mức…

2. Về hai trường hợp Eco đưa ra để nghiên cứu Culler cho rằng diễn giải của Rossetti chỉ nên gọi là sous-interprétation (diễn giải dưới tầm), khảo sát trên văn bản và chứng cứ lịch sử đều thiếu.

– Về Hartman: theo Culler, ông này không thực sự là người theo trường phái Giải cấu trúc – Cách diễn giải Lucy’s Poem của Hartman vẫn theo cung cách truyền thống, dựa trên cái ta thường coi như một dấu hiệu của xúc cảm văn học: đó là việc phát hiện được những gợi ý kín đáo, nghe được trong một câu thơ tiếng vọng của những câu thơ khác, những từ hoặc hình ảnh khác. Thay vì cho diễn giải và siêu diễn giải, Culler cho rằng nên dùng một thể đối lập mà Booth đã đưa ra trong tác phẩm Critical Understanding: đáng lẽ đối lập lý giải và siêu lý giải, ông dùng Understanding vàOverstanding (Hiểu và Hiểu cao hơn). Booth đã lấy một ví dụ rất thú vị: đó là câu chuyện cổ tích về Ba chú lợn con, người Mỹ thường kể cho trẻ con nghe trước khi đi ngủ. Trong khi đáng lẽ đặt câu hỏi về điều mà văn bản nhấn mạnh (“Có chuyện gì xảy ra trong cổ tích vậy?”) thì Overstanding lại đặt những câu hỏi về cái mà văn bản không gợi ra hoặc im không nói.

“Này câu chuyện trẻ con có vẻ hiền lành, mày nói với chúng ta điều gì trong câu chuyện của ba chú lợn con và một con sói, về nền văn hóa đã bảo toàn và tán thưởng mày? Về những ước mơ vô thức của tác giả hay dân tộc đã tạo ra mày? (…) Về các tộc người da sáng hơn hoặc da sẫm hơn? Về người to và người bé, người có tóc và người hói đầu, người gầy và người béo? (…) Cứ để cho trẻ con tối nào cũng đọc và nghe đọc câu chuyện này có gì tốt không? (…) Các mối ràng buộc về tính dục của cái thế giới thuần đàn ông này ở đấy không bao giờ đề cập đến giới tính là thế nào?”

Theo chúng tôi, những câu hỏi “trên tầm” này rất thú vị và vui nhộn bởi nó đề cập đến những vấn đề hóc búa và nhạy cảm của xã hội Mỹ luôn được các nhà văn Mỹ nói tới, mà chỉ trong một truyện cổ tích Wayne Booth vẫn phát hiện ra: vấn đề kì thị chủng tộc đặc biệt đối với người da đen, khoảng cách giàu nghèo, tính đạo đức giả của một phân số người Mỹ nhất là của giới trung lưu trong một xã hội mà bạo lực và sex là thông lệ.

3. Culler chống lại việc nghiên cứu văn học chỉ tập trung vào việc làm sáng tỏ ý định của văn bản, điều mà Northrop Frye gọi là một quan niệm phê bình xứng đáng với cậu bé Jack Horner: tác phẩm văn học giống một cái bánh ngọt, trong đó tác giả đã cấn mẫn nhét đầy những cái đẹp, còn nhà phê bình giống như cậu bé Jack Horner moi hết cái đẹp nọ đến cái đẹp kia và tuyên bố một cách mãn nguyện: “Ta thật là một chú bé ngoan”.

Ngược lại, theo Frye, cần sử dụng “một thi pháp cố gắng miêu tả những quy ước và chiến lược nhờ đó các tác phẩm gây được hiệu quả. Một phần lớn các tác phẩm phê bình văn học là những diễn giải trên phương diện chúng nói về những tác phẩm riêng biệt nhưng mục đích chúng theo đuổi có lẽ lại là (…) khảo sát các cơ chế và cấu trúc cho phép chúng vận hành, bằng cách soi sáng các vấn đề chung liên quan đến văn học, truyện kể, ngôn ngữ hình ảnh, đề tài v.v…

Liên quan đến phát biểu của Rorty, Culler cho rằng vấn đề quan trọng không phải việc ông ta cho rằng giữa sử dụng và diễn giải một văn bản không có gì khác nhau, mà chính là việc ông khuyên chúng ta từ bỏ đi tìm các mã, các cơ chế cấu trúc của văn bản và khỏi cần mổ xẻ phân tích chúng.

Ở đây Culler nêu một vấn đề về thái độ khoa học (khiến cử tọa khoảng 500 người xôn xao): trong “thị trường của cuộc sống hàn lâm Mỹ, mà ganh đua và thời thượng là phải phép” việc Rorty đưa ra lời khuyên trên là một việc kì lạ: chính Rorty, một nhà triết học được coi là vào loại độc đáo nhất hiện nay và các nhà theo chủ nghĩa thực dụng khác đã từ nghiên cứu kĩ lưỡng, phát hiện những thiếu sót trong quan niệm và lý luận của những người đi trước, đề xuất những phương thức và kết luận mới. Một khi nhờ vậy mà đạt đến danh vọng, họ quay ngược lại và nói rằng chỉ nên đọc và tìm những điều thú vị, không cần phải tìm trong tác phẩm những hệ thống và cấu trúc ngấm ngầm bởi “chẳng có điều gì cho phép nói rằng ta sai hay ta đúng”, và cũng chẳng có một bản chất của văn học nữa. Làm như vậy là ngăn trở lớp thanh niên và người đi sau đưa ra những quan niệm khác và tranh cãi với những người có quyền uy trong nghiên cứu.

4. Về chủ nghĩa giải cấu trúc: Culler nhận thấy rằng cả Eco và Rorty đều kết án giải cấu trúc nhưng cả hai lại đưa ra những miêu tả gần như ngược nhau về trào lưu này.

Cuối cùng Culler nhắc lại rằng tuy Eco đã gắn liền siêu dẫn giải với một điều ông gọi là “một sự kinh ngạc thái quá”, một khuynh hướng thái quá coi những yếu tố chỉ là ngẫu nhiên nhưng rất có ý nghĩa, nhưng chính “trạng thái kinh ngạc đi kèm theo trò chơi” các văn bản và việc dẫn giải chúng mới thật đáng giá: đó cũng là điều mà bản thân Eco đã biểu hiện tuyệt vời trong tiểu thuyết và các thám hiểm kí hiệu học của ông.

Tiếp sau các báo cáo trên là một cuộc tranh luận náo nhiệt của một cử tọa (tổng số người nghe khoảng 500 người) trong đó có những nhà phê bình, nhà văn, giảng viên đại học khá nổi tiếng. Eco đã kết thúc bằng một bài Trả lờimà chúng tôi sẽ kết hợp trong phần V dưới đây.

*

V. Thay lời kết

1. Mối quan hệ giữa diễn giải văn bản và lý luận văn học:

Ở phương Tây, “diễn giải văn bản được coi như hoạt động trung tâm của các bộ môn nhân văn và khoa học xã hội”, không phải chỉ của riêng văn học như ta vừa thấy.

Ba tác giả chúng ta vừa điểm qua đều là những người nổi tiếng trong lĩnh vực triết học, kí hiệu học… Điều đó chứng tỏ tính liên ngành của lý luận văn học hiện nay. Nói (như đùa) theo Todorov: “một nhà lý luận văn học thực sự nhất thiết phải nghĩ về nhiều thứ khác ngoài văn học: chuyên môn của ông ta, nếu có thể nói vậy, là không có chuyên môn nào cả”. Và Todorov đã lấy ví dụ về Bakhtine, người mà ông coi là “nhà lý luận văn học lớn nhất của thế kỷ 20: ông này đã buộc phải tiến hành những cuộc thám hiểu sâu” vào các lĩnh vực khoa học xã hội khác “trước khi trở về với một nhãn quan […], dựa trên cơ sở một chất liệu chung (cho các khoa học xã hội) là văn bản và một phương pháp chung là diễn giải…”

– Tất nhiên từ diễn giải văn bản để đi đến những vấn đề tổng hợp phải có những khâu khác. Đối với Culler đó là một thi pháp tìm cách miêu tả được những quy ước và những chiến lược nhờ đó tác phẩm hoàn thành được hiệu quả của mình. Đồng thời ông vẫn cho rằng “có thể có những sách phê bình văn học là những diễn giải trên bình diện chúng chỉ đề cập đến những tác phẩm riêng biệt, nhưng mục đích chúng theo đuổi vẫn là khai thác cơ chế và cấu trúc cho phép chúng vận hành, bằng cách đó soi sáng những vấn đề chung liên quan đến văn học, truyện kể, ngôn ngữ, hình ảnh, đề tài và mọi thứ tiếp theo…”

Nếu dùng lại từ của Eco trong Bài Tựa quyển Tác phẩm mở của ông thì việc nghiên cứu một tác phẩm văn học phải bao gồm cả vấn đề “Sản xuất và tiêu thụ” của tác phẩm đó. Nếu cần phân loại, vấn đề diễn giải văn bản có thể xếp vào lý thuyết Tiếp nhận, tiếp nhận thông điệp trong dây truyền thông tin giữa người sáng tạo và người thưởng thức.

Về tầm quan trọng của vấn đề diễn giải trong nghiên cứu văn học, có thể thấy có ba mức độ khác nhau qua luận điểm của Rorty, Culler, Eco:

– Rorty cho rằng chỉ nên sử dụng văn bản, bỏ qua diễn giải và các quy trình nghiên cứu khác, (trên thực tế Culler đã vạch ra rằng, Rorty đã không chỉ làm việc sử dụng).

– Culler vốn là một nhà lý luận văn học, tỏ ra rất coi trọng việc đưa các quy trình nghiên cứu lên bình diện chung của lý luận. Barthes mà Culler cho rằng “bẩm sinh đã lâm vào việc do dự giữa diễn giải và thi pháp” cũng vẫn tìm ra một kiểu siêu dẫn giải (chia cắt văn bản một cách võ đoán thành trường đoạn) dẫn đến những khám phá mới trên nhiều bình diện.

– Về Eco, có thể tóm lược ý kiến của ông như sau: “Tôi phản bác ý kiến của Valéry cho rằng không có một ý nghĩa thực của văn bản, nhưng tôi chấp nhận ý kiến cho rằng một văn bản có thể có nhiều ý nghĩa. Tôi không chấp nhận việc một văn bản có thể có bất kỳ ý nghĩa nào”.

Tuy nhiên ở đây vẫn phải nói tới sự mong manh của ranh giới giữa các trào lưu và của hệ thống giới thuyết và thuật ngữ:

– Culler đã nhận xét rằng chủ nghĩa giải cấu trúc được miêu tả khác nhau từ hai phía Eco và Rorty.

– Những “siêu diễn giải” theo như Eco nhận định, Culler lại cho rằng đấy chỉ là “diễn giải ở tầm thấp” hoặc một phân tích văn bản theo kiểu truyền thống.

– Ngược lại, Culler lại cho rằng trong “các tiểu thuyết và thám hiểm kí hiệu học của Eco có những siêu dẫn giải tuyệt vời”.

2. Vấn đề diễn giải văn bản có vai trò gì trong tình hình văn học nước ta hiện nay: Diễn giải ý nghĩa tác phẩm đã có và hiện vẫn có một tầm quan trọng rất lớn đối với giới làm văn học nghệ thuật nước ta (cả đối với người sáng tác và người nghiên cứu).

Và không chỉ ở nước ta. Ở phương Tây có một kiểu cho nhà văn vào purgatoire (luyện ngục) khiến Milan Kundera nghĩ rằng thế kỷ 20 là thế kỷ của các vụ án đối với nhà văn (như Kafka đã báo hiệu). Nhưng sự tẩy chay đó thường diễn ra trong một thời điểm nhất định, và thường do công chúng, giới nghiên cứu tiến hành, có thể đến một lúc nào đó, nhà văn lại được lôi ra khỏi nơi luyện ngục.

Gần đây trên báo Văn nghệ (tr.16, tháng 8 năm 2004) đã cho công bố biên bản cuộc họp về Tập thơ Cửa mở của Việt Phương, báo Quân đội nhân dân (số 10 – tháng 10/2004) có bài Hỏi chuyện tác giả Hà Nội trong mắt ai (tuy là một cuốn phim, nhưng lời thoại có thể nghiên cứu như một văn bản)… Đó đều là những dẫn chứng gần nhất cho ta thấy lịch sử nghiên cứu văn bản ở nước ta cũng lắt léo không kém gì hành trình tìm tới ý nghĩa của những văn bản cổ ở phương Tây. Vấn đề là ta đã đi theo những chuẩn nào, lý thuyết nào để diễn giải văn bản?

3. Qua các tiểu luận của Eco, Rorty và Culler, nghĩ gì về lý luận văn học nước ta trước nhu cầu đổi mới và phát triển: ở phương Tây, không phải nước nào cũng có nhu cầu hoặc cũng ưa thích phát triển lý thuyết. Nhìn “con đường di dân” của lý thuyết văn học ta, thấy rõ rằng đầu thế kỷ 20 ở nước Nga và một số nước Đông Âu có “truyền thống (lý luận văn học) giàu hơn bất cứ nước nào khác” (Todorov). Khi lý thuyết của Bakhtine, của các nhà formalistes Nga và các nhà cấu trúc Praha… sang đến Pháp, chúng biến thành những phương pháp tiếp cận phê bình, mà phải nói là có thành tựu hết sức lớn, nhất là khi Tây Âu có những nhà văn hóa như Proust, Kafka và Joyce. Ngược lại, vào cuối thế kỷ 20 khi lý thuyết giải cấu trúc của Derrida sang đến Mỹ (ở đấy được gọi là French Théory) thì lại dẫn đến sự hình thành của phái Déconstructionnisme (chứ không phải Déconstruction nữa); lý thuyết của họ luôn được đem ra bàn cãi nhưng dường như “sự sắc bén về phê phán” chưa hề bị sút kém. Trong Hội thảo quốc tế Tương lai của lý luận văn học: Trung Quốc và thế giới diễn ra ở Trung Quốc tháng Hai năm 2000, đại biểu của lý luận phê bình giải cấu trúc Hillis Miller vẫn có vai trò rất quan trọng (xem bài: Lý luận văn học hướng tới đối thoại Đông Tây, cởi mở và xây dựngTạp chí văn học tháng Năm 2004). Trong khi đó, ở Pháp sau khi Derrida qua đời gần đây, tạp chí Lire (Đọc) (vào loại ấn hành số lượng lớn) vẫn đặt câu hỏi: “Sự nghiệp của nhà triết học Jacques Derrida, qua đời ngày 9 tháng 10 năm 2004, trước hết là một khu rừng rậm kín kịn những khái niệm mới. Nó sẽ còn sống lâu hay không sau khi tác giả của nó qua đời và sau các thói ưa chuộng mà nó dấy lên trong toàn cầu? Độc giả hãy phán xét”. Để nói rằng ở Tây Âu, đặc biệt ở Pháp, vẫn có một sự dè dặt nào đó với lý thuyết văn học.

Tôi không có đủ tư liệu để khẳng định một điều gì đó về hiện tình của lý luận văn học ở Việt Nam. Tuy nhiên sau khi đọc các tiểu luận của Hội thảo Tanner Lectures, tôi nhận ra một cung cách nghiên cứu và trình bày luận cứ khoa học có thể cho phép với tới một công chúng độc giả rộng dễ dàng hơn. Eco, Culler, Booth hay Fish… khi trình bày luận điểm của mình, luôn dựa vào những liên tưởng vui tươi ngộ nghĩnh, lấy từ cuộc sống hiện đại, từ những truyện kể, bài hát… dành cho trẻ con.

Hiện nay “tác dụng của lý luận văn học rõ ràng không thể giống như trước đây […]; nó sẽ cùng tồn tại với nghiên cứu văn hóa”, kể cả những hiện tượng văn hóa mới nhất. Eco và các đồng đẳng của ông bao giờ cũng muốn làm cho “chân lý cười lên”.


—————————— 

Chú thích:

1 Ba tham luận này được tập hợp cùng với một số tham luận khác của hội thảo trong cuốn Umbérto Eco Interprétation et surinterpritation. Bản dịch tiếng Pháp: PVF 1996.

2 Umberto Eco – Đi tìm sự thật biết cười – Vũ Ngọc Thăng dịch từ nguyên bản tiếng Ý. Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây – 2004.

3 Umberto Eco đã đưa ra một ví dụ “nực cười” về khả năng có thể tách ra những hệ đồng vị khác nhau từ một câu chuyện: “Hai người bạn trao đổi ý kiến trong một cuộc tiếp tân; người thứ nhất khen ngợi thức ăn, sự phục vụ, thái độ lịch lãm của chủ nhân, vẻ đẹp của các nữ khách, và cuối cùng là sự sang trong của các “toilettes”. Người thứ hai trả lời: anh ta chưa vào trong toilettes. Anh ta nực cười bởi đã có một ước đoán sai về phát biểu của người kia: anh ta hiểu từ toilettes theo nghĩa phòng toalet (chứ không phải quần áo) trong khi toàn bộ phát biểu của người kia liên quan đến một sự kiện xã hội, không phải về phòng ốc.

4
 Umberto Eco – Interprétation et surinterprétation. sdd tr.72.

Nguồn: Tạp chí Văn học nước ngoài, số 2/2005 

Leave a Reply