Ý thức về giới trong đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán


Nguyễn Thị Nhàn

Thế kỷ XVIII đến nửa đầu XIX, thực trạng xã hội Việt Nam có những biến động dữ dội: làn sóng đấu tranh giai cấp dâng cao, trạng thái tư tưởng thời đại biến chuyển sâu sắc, hệ tư tưởng chính thống lâm vào khủng hoảng, trào lưu tư tưởng dân chủ, nhân văn phát triển. Trên tiền đề đó, trào lưu tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa trỗi dậy mạnh mẽ, tạo ra môi trường văn hóa phi chính thống.

Là một hình thái ý thức xã hội, văn học chịu sự tác động mạnh mẽ, sâu sắc từ phía lịch sử – xã hội đó. Môi trường sinh thái văn hóa đương thời đã đem lại cho văn học những sắc diện mới. Bắt đầu từ thế giới quan của người cầm bút, những quan niệm về giá trị, đề tài, chủ đề, hình tượng nhân vật, nội dung nhân đạo, nhân văn là nét sáng đẹp nhất của văn học giai đoạn này. Hình tượng nhân vật nữ trở thành trung tâm của sáng tác văn học. Có thể kể đến hàng loạt tác phẩm tiêu biểu: Chinhphụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm); Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều); Thơ Hồ Xuân Hương; Đoạn trường lục (Phạm Nguyễn Du); Khuê ai lục (Ngô Thì Sĩ); Sãi vãi (Nguyễn Cư Trinh); Đoạn trường tân thanh (Nguyễn Du), v.v… Có thể nói, đã xuất hiện một xu hướng văn học “phái nữ” trong giai đoạn thế kỷ XVIII đến nửa đầu XIX. Trong sự tri nhận hạn hẹp và khuôn khổ bài viết ngắn này, chúng tôi trình bày cách đọc – hiểu về một phần nhỏ trong văn bản nghệ thuật Truyện Kiều của Nguyễn Du, dưới góc nhìn “phái tính”- tính chất “nữ quyền”. Đó là trích đoạn Thúy Kiều báo ân, báo oán(1). Do khuôn khổ của sách giáo khoa, đoạn trích trong Ngữ văn 9 có 34 dòng thơ, soạn giả đã lược bớt đi mười dòng thơ ở sự kiện này so với văn bản Truyện Kiều. Để bảo đảm tính trọn vẹn hơn, sự biện giải của chúng tôi khảo sát cả khúc đoạn 44 dòng thơ hiện diện trong mạch tự sự về câu chuyện báo ân báo oán của Thúy Kiều.

1. Người phụ nữ được trân trọng, đề cao, có vị thế và uy quyền

Văn hóa Nho giáo, suy cho cùng là văn hóa của nam quyền. Người nam tối thượng là đấng quân vương. Một trong sự pháp luật hóa của Nho giáo là trao cho nam nhân sức mạnh của nam quyền. Nam quyền độc chiếm xã hội và gia đình. Cuộc sống đích thực thuộc về văn hóa chính thống đó. Những màu sắc khác khó có thể lên màu. Người nữ phương Đông xưa và nay thường bị những thành kiến mặc định, bị chìm lấp, bị động, bị lệ thuộc vào người nam. Nữ nhân bị tước đoạt những quyền tối giản nhất. Ngay cả những giá trị như tài, sắc, tình vốn là tài sản của họ cũng bị nam nhân chiếm dụng và chà đạp.

Nói tới nữ quyền cũng là chạm tới vấn đề quyền sống, phận làm người, vấn đề bình đẳng giới, cách nhìn nhận con người và những chuẩn mực sống, những quan niệm mỹ học.

Trong dòng nữ lưu Việt Nam, Hồ Xuân Hương có ý thức nữ quyền sớm nhất. Nàng đòi quyền sống, đòi được hưởng những niềm vui sống trần thế, đòi quyền bình đẳng, chống lại nam quyền.

Nữ quyền không phải mạch lộ thiên trong Truyện Kiều, song trong thẳm sâu ám ảnh nghệ thuật vẫn là số phận của phụ nữ. Nguyễn Du vừa nâng niu, tôn ngợi những giá trị hiện hữu ở nữ nhân vừa viết khúc bi ai về phận đàn bà. Người nữ là nỗi niềm đau đáu trong thế giới nghệ thuật Nguyễn Du, từ Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ, Văn chiêu hồn, Thơ chữ Hánđến Truyện Kiều. Những cô Cầm, người ca nữ La Thành, người ca kĩ trong phủ của người em, Dương Quí Phi, Đạm Tiên, Thúy Kiều, họ đều là những giai nhân, cầm ca, kỹ nữ. Họ là những kiếp tài hoa bị dập vùi… Họ kết lắng lại là hương hoa, là mây, là gió, là bóng hình, là thật ảo và hóa thân trong trời đất. Nguyễn Du đã chiêm nghiệm, đã nâng niu trân trọng, xót thương mà chắt chiu làm nên nghệ thuật.

Nàng Thúy Kiều ngân khúc ca tình yêu hạnh phúc nhất, nhưng người nữ Thúy Kiều cũng ôm cây đàn gảy khúc bi ai thống thiết nhất làm nước mắt thấm trên từng trang sách Nguyễn Du.

Người nữ trong Truyện Kiều được khẳng định trong cái nhìn nam nhân, trong quan hệ đối sánh với người khác giới. Trong giới nam cũng có những người trân trọng, đề cao người nữ. Vẻ đẹp giới nữ: tài sắc, tình, trí tuệ và bản lĩnh được nam nhân “chiêm bái”. Đấy là sự nghịch chiều trong cái nhìn chính thống. Tập trung những giá trị trên là hai nhân vật Thúy Kiều, Hoạn Thư. Cứ xem, giữa Kim Trọng và Thúy Kiều, Kim Trọng nâng niu tài sắc, tấm tình của người con gái biết bao nhiêu và suốt một đời, chàng Kim chỉ sắt son với người phụ nữ ấy. Giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều, Thúy Kiều đã khiến tính cách Thúc Sinh thay đổi, chuyển dịch về phía thiện mỹ, từ chỗ coi tình cảm nam nữ chỉ là chuyện “trăng gió”, sau thành tình nghĩa “đá vàng”. Đến người anh hùng Từ Hải, chàng đã phát hiện ra Thúy Kiều – hiện thân những giá trị bị vùi dập giữa nhân thế bụi bặm, đục bẩn. Người nam Từ Hải còn nhìn thấy ở người phụ nữ giữa chốn trần ai ấy một tâm hồn biết cảm thông, một tấm lòng tri kỷ hiếm có. Không ỷ vào cái thế của người đã ra ân cứu Thúy Kiều, Từ Hải đã lùi về phía sau, đã tạo dựng cho người phụ nữ của mình một cuộc sống đáng sống. Từ Hải trả về cho nàng một thân thế, một danh phận đích đáng: là phu nhân, là quan tòa xử án. Tư tưởng đề cao nhân vật nữ đã chi phối ngòi bút khắc họa hình tượng nhân vật. Cái tư thế sóng đôi: “Từ công sánh với phu nhân cùng ngồi” giữa ba quân và giữa phiên tòa kia, chẳng phải là biểu tượng tuyệt vời trong mơ ước của muôn người về quyền bình đẳng đó sao?

Tính nữ quyền được biểu hiện rõ khi người nữ được tin tưởng, đượckhẳng định tài năng, được tham gia vào công việc xã hội. Có nghĩa là, xã hội thay đổi cách nhìn, cách nghĩ về phụ nữ. Hành xử của đấng phu quân Từ Hải – của giới nam đối với Thúy Kiều đã sáng lên những điều tốt đẹp như thế. Từ Hải đặtniềm tin vào tài trí của người phụ nữ Thúy Kiềutrong năng lực một nữ quan xử án: “Mặc nàng xử quyết báo đền cho minh…” Và như thế, Từ Hải đã trao toàn quyền cho người phụ nữ trong câu chuyện ở chốn công đường. Là nữ quan, Thúy Kiều được tham gia vào việc đại sự, để làm những việc đại sự, mà điều đó không thể có được với nữ nhân giữa thời trung đại. Thúy Kiều trở thành người có vị thế, có uy quyền. Rõ ràng, ý thức về nữ quyền đã can thiệp, chi phối sâu sắc tới cấu trúc bên trong của mạch tự sự và cấu trúc hình tượng nhân vật, cách hành xử của nhân vật(2). Người nữ quan quyền uy đã “nhập vai” một cách thuyết phục nhất trong vai trò con người phận vị của mình. Người nữ quan hoàn toàn giữ thế chủ động và “độc diễn” hoàn hảo. Bên cạnh đó, hình ảnh nam nhân Thúc Sinh bị động, run rẩy và nhợt nhạt vô cùng. Đứng trước người vợ thiếp năm xưa, Thúc lang đã “biến dạng” hình hài, thần sắc: “Mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run”. Chàng Thúc lạc dòng giữa văn hóa nam quyền. Người nam như Thúc Sinh đã tự đánh mất tư cách của đấng mày râu! Đối với người vợ Hoạn Thư, Thúc Sinh càng trở nên nhợt nhạt. Có thể thấy, câu chuyện chồng vợ giữa Thúc Sinh – Hoạn Thư đã được “mặc định” bởi một “gia pháp thê quyền”! Gió táp ngược chiều từ phía nữ nhân về phía nam nhân. Trong thế giới Truyện Kiều, Thúc Sinh không thuộc về giá trị nam nhi. Trong tình huống giữa phiên tòa này cũng vậy.

Hãy quay lại chuyện nữ quan Thúy Kiều phát huy uy quyền trong việc xử án. Vì có uy quyền, Thúy Kiều điều binh, khiển tướng để giúp nàng hành án công minh nhất và nhanh nhất. Nàng “sai phái” những quan quân dưới trướng. Nàng chủ động cho “mời” những người được trả ân. Nàng cho “mời” Thúc Sinh, cho “mời” “mụ già” và “sư trưởng” vãi Giác Duyên; nàng lệnh cho chư tướng đi “Chiếu danh tầm nã bắt về hỏi tra” những tội nhân. Nàng gọi đích danh những kẻ gây tội ác ra trước vành móng ngựa: nào “Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư”; rồi Bạc Hạnh Bạc Bà, Ưng, Khuyển, bên kia là Sở Khanh, “Tú Bà cùng Mã Giám Sinh”. Nàng tuyên án công minh. Vị quan tòa công khai quan niệm xử án, định công, luận tội bằng lý lẽ, biện giải chặt chẽ, thuận lý, hợp tình:

Nàng rằng: “Lồng lộng trời cao,

Hại nhân, nhân hại, sự nào tại ta.

… Mấy người bạc ác tinh ma,

Mình làm, mình chịu, kêu mà ai thương”.

Ân oán đôi đường đã được Thúy Kiều phán quyết công minh, thuận ý trời, hợp lòng người. Nữ quan Thúy Kiều đã thể hiện năng lực mới của con người phận vị. Nàng ý thức về những ngang trái bất công, ý thức về thân phận và quyền sống của con người.

2. Người phụ nữ có hành xử in đậm tính nữ trong câu chuyện báo ân, báo oán

Ở sách Ngữ văn 9, sự kiện báo ân, báo oán đã được lược bớt, chỉ còn lại câu chuyện của ba nhân vật: Thúy Kiều, Thúc Sinh và Hoạn Thư. Thúc Sinh là người được tri ân và Hoạn Thư là tội nhân. Sự thú vị cũng chính là câu chuyện tay ba này. Tiếng là không gian công đường, song thực chất là góc riêng dành cho gia đình Thúc Sinh. Nguyễn Du không lấy điểm nhìn trần thuật từ bên ngoài mà chuyển dịch về bên trong cho các nhân vật. Dòng biện luận của người xử án cũng xô lệch, bị thay đổi về những nỗi niềm rất riêng tư. Bởi vì Thúy Kiều bị những quan hệ riêng tư ràng níu, khó bề tường minh.

Nếu như ở vị thế một chánh án, Thúy Kiều bị khuôn về phía lý trí, thì ở cách hành xử trong mối quan hệ tay ba: Thúy Kiều – Thúc Sinh – Hoạn Thư, nàng lại mang một gương mặt khác. Theo nhà nghiên cứu Trần đình Sử: “Điều mới mẻ của Nguyễn Du là biến nhân vật chính từ con người đạo lý thành con người tâm lý”(3). Con người phận vị bị chìm khuất sau con người giới nữ, tính nữ. Bản thể tính nữ tồn tại những cặp đối lập: đố kị nhỏ nhen và độ lượng bao dung; mong manh và bền chặt; vị kỉ và vị tha; chắt chiu và rộng rãi; gìn giữ và dâng hiến… Ở Thúy Kiều tiềm ẩn dồi dào thiên tính giới nữ, có dịp sẽ bộc lộ mạnh mẽ. Và, khi đối mặt với Thúc Sinh, Hoạn Thư, tính nữ ấy ở Thúy Kiều trở nên ưu trội, đã chi phối làm thay đổi cả tính chất của phiên tòa.

Trước hết, nàng Kiều biến chuyện của công đường thành câu chuyện trong nhà: chuyện giữa một ông chồng và hai người đàn bà có chung ông chồng ấy. Và, dĩ nhiên, những người phụ nữ ở đây đã phát huy tối đa tiếng nói “thê quyền”. Họ hành xử như những người đàn bà trong câu chuyện gia đình muôn thuở.

Thứ nhất là quan hệ vợ nhỏ và người chồng Thúc Sinh. Mạch ân oán được khởi đầu từ nhân vật người chồng. Chàng là đối tượng được tri ân đầu tiên. Tâm lý của Thúy Kiều được nhìn nhận trong giác độ tâm lý của một người vợ đối với “cố nhân”. Nàng không nhân danh một chánh án quan tòa. Thúy Kiều chỉ là một người lẽ mọn không “vẹn chữ tòng” ngày trước, nay gặp lại trả ơn người chồng năm xưa. Cách thức, lời lẽ, hành xử của Thúy Kiều in đậm tâm lý mềm mại, uyển chuyển, nữ tính của người làm vợ. Nàng giãi bày, sẻ chia nỗi niềm trong quá khứ. Nàng cũng cảm thông, “thể tất” cho sự khó xử của Thúc Sinh khi xưa đã tệ bạc với mình:

“Nàng rằng nghĩa nặng nghìn non,

Lâm Truy nguời cũ, chàng còn nhớ không?

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,

Tại ai há dám phụ lòng cố nhân”.

Bạn đọc không nhận thấy ở đây quyền uy, tâm thế của một nữ quan. Câu chuyện Thúy Kiều – Thúc Sinh, xét về bản chất chỉ là chuyện quan hệ chồng vợ.

Thứ nữa là chuyện giữa vợ cả và vợ lẽ Hoạn Thư – Thúy Kiều. Đấy chẳng qua vẫn là chuyện ở trong nhà mà thôi. Lần này, vị chánh án Thúy Kiều biến việcbáo oán thành chuyện đôi co đàn bà. Đàn bà có những tâm tính riêng. Đàn bà với nhau lại có những ý vị rất riêng của họ. Câu chuyện Thúy Kiều – Hoạn Thư diễn ra vô cùng đặc biệt trong cái lẽ “thường tình”, trong vị đắng của câu chuyện “chồng chung” ở trên đời. Tâm lý đàn bà đã khiến Thúy Kiều lái phiên tòa về câu chuyện giới phận. Ý thức về quyền làm vợ lấn át sự công minh, khách quan cần có của một vị quan tòa. Trong thời khắc ấy, Thúy Kiều hóa nhập và phân thân trong tư cách chánh án và người đàn bà ý thức sâu sắc về giới phận. Nguyễn Du đã diễn tả vừa trực diện, vừa thâm trầm câu chuyện ngứa ghẻ hờn ghen của đàn bà. Là bậc thầy tâm lý, Nguyễn Du đọc thấu lòng dạ, tâm lý của người vợ nhỏ ngày nào bị hành hạ, nay nôn nóng, muốn “trả miếng” người vợ cả Hoạn Thư đã từng hành hạ mình. Phần tối/ khuất, vị kỉ của người đàn bà trong Thúy Kiều lên ngôi. Vì thế, nàng gọi Hoạn Thư đầu tiên trong số những kẻ bị định tội ra ngay vành móng ngựa. Ở chi tiết này, tổ chức mạch kể nương theo dòng tâm lý bất thường của nhân vật, nên đã bị xô lệch so với trình tự sắp xếp của tác phẩm gốc. Trong Kim – Vân – Kiều truyện, Hoạn Thư là người thứ ba bị gọi ra trước công đường phán xử sau Bạc Bà, Bạc Hạnh.

Mạch lập luận, định tội của vị chánh án Thúy Kiều đối với phạm nhân khởi thủy là câu chuyện đàn bà. Như thế, quá khứ và hiện tại; tội nhân và chánh án; trên và dưới; ngược và xuôi; phải và trái; tội và tình…, dường như bị xóa nhòa ranh giới:

Dưới trần gươm tuốt nắp ra,

Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.

Thoắt trông nàng đã chào thưa:

“Tiểu thư  cũng có bây giờ đến đây.

Đàn bà dễ có mấy tay,

Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan.

Dễ dànglà thói hồng nhan,

Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”…

Hoạn Thư tiếp nối, túm ngay dòng lý lẽ về phận đàn bà được Thúy Kiều gợi lên để “chạy tội”. Lý tình, tình lý của đôi bên luận tội và bào chữa chạy tội đều bám vào phận đàn bà và dựa vào quyền được làm vợ để đấu trí, đấu khẩu:

Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,

Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca:

“Rằng tôi chút dạ đàn bà,

Ghen tuông thì cũng ngườita thường tình”…

Từ thế đối lập, tương phản về thân phận, về danh phận giữa hai người, trong khoảnh khắc, họ đã trở thành những người cùng hội cùng thuyền, nước đã xuôi về một ngả. Thúy Kiều hay Hoạn Thư, vợ cả hay vợ lẽ, chị hay em, trước hay sau, bà chủ hay tôi đòi, quan tòa hay tội phạm, chung quy vẫn chung nhau một con thuyền – cái con thuyền giới phận đàn bà. Con thuyền ấy mỏng manh đầy chìm nổi, may rủi và được mất bấp bênh, khoảnh khắc và vĩnh hằng ấy, chính là sợi dây mong manh nhưng bền chắc ràng níu họ. Vẫn biết rằng, thân phận đàn bà đã đưa đẩy hai người phụ nữ cùng làm vợ một lang quân thua kém họ nhiều bề. Chàng Thúc Sinh không có bản lĩnh để vững tay co kéo, dàn xếp đôi bên. Chiếc chăn hạnh phúc đa thê, chung chạ, quá hẹp, thiếu thừa, xô lệch chẳng vẹn bề nào, kéo về phía này phía kia hụt khuyết. Hôn nhân như thế khiến những người đàn bà không được sống một cuộc sống vợ chồng. Họ trở nên đố kị, nhỏ nhen, ấm lạnh, khóc cười. Thúy Kiều/ Nguyễn Du đã nghiệm ra lẽ đời rất người, rất thường tình nhưng cũng vô tình cợt trêu, oái oăm đổ xuống những duyên kiếp đàn bà. Thúy Kiều hay Hoạn tiểu thư xuất thân lá ngọc cành vàng cũng không thể trượt ra ngoài cái chút phận đàn bà bé mọn ấy. Vì thế, Thúy Kiều không định tội ghen tuông của Hoạn thư ngày trước. Phần tối/ khuất trong người đàn bà chìm xuống, phần sáng thiện lên ngôi. Vượt qua hận thù, nhân tính lên ngôi. Thúy Kiều làm được như vậy. Hận thù hóa giải, nàng tha cho Hoạn Thư trắng án ra về. Nhân vật nữ Thúy Kiều trong tác phẩm Nguyễn Du đã ứng xử hoàn toàn trái ngược so với nhân vật Thúy Kiều của Kim – Vân – Kiều truyện. Sự khác nhau ấy chính là con người nhân tính, vị tha trong tác phẩm của Nguyễn Du đã chiến thắng con người thù hận. Không như vậy, những oán thù lại là mảnh đất để con người phi nhân tính của Thúy Kiều trong tác phẩm Kim – Vân – Kiều truyện biến nàng thành ác phụ. Ở đó, Thúy Kiều “hả hê” về những tội nhân bị đem ra thui đốt, băm vằm, giằng xé, bị dội nước nhựa thông đun sôi lên người… Thúy Kiều hạ nhục Hoạn Thư, bắt tội nhân phải “thoát y vũ” và bị đánh thừa sồng thiếu chết chỉ còn thoi thóp thở.

3. Lời kết

Ứng xử của Thúy Kiều in đậm tâm lý đàn bà, ý thức về giới, nhưng cao hơn, đó là vấn đề quyền sống của con người, về phận làm người. Nếu con người đánh mất nhân tính thì nhân loại sẽ chìm trong bạo lực và chết chóc đau thương, dù con người thuộc giới nam hay giới nữ. Con người chỉ nuôi hận thù, không biết tha thứ thì cuộc sống của con người chỉ một màu u tối. Đấy là những vấn đề phổ quát nhân loại tính, vấn đề của muôn đời và những vấn đề đang đặt ra rốt ráo thời “hậu hiện đại” này. Vì thế, Nguyễn Du là nghệ sĩ của nhân loại và của mãi mãi.

Nhà nghiên cứu Phan Ngọc khái quát: “Truyện Kiều là một tiểu thuyết phân tích tâm lý”(4). Tác giả Trần Đình Sử nhấn mạnh: “Đây là một loại truyện tâm lý độc đáo”(5). Dù là một lát cắt mỏng, nhưng khúc đoạn “Thúy Kiều báo ân báo oán” vẫn hiện hữu những giá trị sáng đẹp của Truyện Kiều. Tài năng khắc họa chân dung, tính cách, tâm lý nhân vật của Nguyễn Du thông qua những cảnh đời cụ thể, tình huống cụ thể, qua những biện pháp nghệ thuật khác nhau; đặc biệt tài diễn tả, phân tích tâm lý nhân vật qua những lắt léo, phức tạp giữa nhịp sốngđời thường của con người. Mối quan hệ tay ba trong gia đình Thúc Sinh, Hoạn Thư, Thúy Kiều chính là một sự trớ trêu đó. Qua đoạn trích quen thuộc, chúng ta nhận thấy một Nguyễn Du không chỉ thương đời, trân trọng con người, mà điều quan trọng là thi nhân thấu hiểu những nỗi niềm u uẩn rất người, rất khó tường minh trong câu chuyện tình cảm của con người. Nhân vật Truyện Kiều đã có ý thức về giới phận. Đó cũng chính là biểu hiện của ý thức con người cá nhân. Đó còn là sự đối thoại trực diện giữa tư tưởng nhân văn với tư tưởng Nho giáo chính thống. Nguyễn Du đã thể hiện chủ kiến nghệ thuật riêng khi xử lý một cách linh hoạt, sáng tạo cốt truyện gốc của người Trung Hoa. Từ mạch nguồn văn hóa nội sinh, nhà nghệ si Nguyễn Du đã làm sáng lên những giá trị văn hóa Việt, tâm hồn Việt.

____________________

(1) Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên): Ngữ văn 9, Tập 1. Nxb. Giáo dục Việt Nam, H, 2012.

(2) Xin xem Nguyễn Thị Nhàn: Thi pháp cốt truyện truyện thơ Nôm và Truyện Kiều. Nxb. Đại học Sư phạm Hà Nội, 2009.

(3), (5) Trần Đình Sử: Thi pháp Truyện Kiều. Nxb. Giáo dục, H, 2002, tr.120; 121.

(4) Phan Ngọc: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trongTruyện Kiều. Nxb. KHXH, H, 1985, tr.107.

Nguồn: Nghiên cứu văn học số 12/2012

Leave a Reply