Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
64 lượt xem

Bài viết số 5 lớp 10 văn thuyết minh

Bạn đang quan tâm đến Bài viết số 5 lớp 10 văn thuyết minh phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Bài viết số 5 lớp 10 văn thuyết minh

Video Bài viết số 5 lớp 10 văn thuyết minh

mời quý thầy cô giáo và các em học sinh cùng tham khảo bộ sưu tập các bài văn mẫu lớp 10: bài viết số 5 (đề 1 đến đề 4) được download.vn đăng tải tại đây.

Tài liệu gồm 30 bài văn mẫu về 4 chủ đề khác nhau được chúng tôi sưu tầm từ những bài văn mẫu hay nhất của các bạn học sinh trên cả nước. những bài văn mẫu lớp 10 này sẽ hỗ trợ cho việc dạy và học môn văn lớp 10 của quý thầy cô và các em học sinh hiệu quả. đây là tài liệu hữu ích cho các em tham khảo và có được kết quả làm bài văn lớp 5 thật tốt, tránh lan man và xây dựng ý tốt khi làm văn. chúc may mắn với việc học của bạn!

Bạn đang xem: Bài viết số 5 lớp 10 văn thuyết minh

bài viết 5, lớp 10, chủ đề 1

chủ đề: thuật lại một danh lam thắng cảnh từ đất nước xuất xứ của bạn

bài viết lớp 10 đề 1 – văn mẫu 1

đến với dải đất miền Trung, ta sẽ được nghe những làn điệu nam ai, nam bình, những làn điệu dân ca ngọt ngào như đã thấm vào sông núi. lời ca đưa ta tìm về cội nguồn của những giọng hát ấy: đất cố đô. Huế là một thành phố xinh đẹp: vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của kiến ​​trúc, vẻ đẹp của nghệ thuật và vẻ đẹp của con người vùng đất này.

hue, hay còn gọi là thua thien hue, nằm ở miền Trung nước ta. phía bắc giáp quang tri, phía nam giáp Đà Nẵng, phía tây tựa núi trượng sơn và phía tây giáp biển. từ thủ đô Hà Nội đến đây khoảng 66 km.

với tên gọi ngày nay, là số lần lịch sử lật trang và thay đổi cuộc đời. Huế tên gốc là Thuận Hóa. Đầu thế kỷ 16, Thuận An trở thành vùng đất trù phú. Trong đó, Phú Xuân là trấn của Thuận Hóa, được Nguyễn Hoàng chọn làm kinh đô đầu tiên vào năm 1687. Một trăm năm sau, Phú Xuân chính thức trở thành kinh đô dưới thời vua Minh Mạng.

hue là sự kết hợp hài hòa của núi, sông và biển. Đến Huế có thể ghé thăm núi Bạch Mã để hóng gió biển; từ đèo hải vân đến may phủ lắng nghe tiếng sóng. ở đây bạn có thể lên núi trượng sơn vào buổi sáng, xuống biển vào buổi chiều và ban đêm ngủ trên thuyền trên sông nước hoa. Đặc biệt, khi đặt chân đến Huế, du khách không thể bỏ qua những công trình tiêu biểu của nơi đây. đó là kinh thành, hệ thống ba vòng từ ngoài vào trong: hoàng thành, hoàng thành và cấm thành hay còn gọi là kinh thành. Trong cấm thành có chính điện, nơi vua làm việc hàng ngày. còn thành lon là nơi nhà vua ở và nghỉ ngơi. Huế thành là một công trình kiến ​​trúc có sự kết hợp giữa đông và tây, được gọi bằng những cái tên đầy ngưỡng mộ: thành quách, thành phố của những vì sao.

Là một người quan tâm đến các di tích lịch sử, bạn không thể bỏ qua lăng minh mang. Việc xây dựng lăng bắt đầu vào năm 1840, một năm trước khi vua Minh Mạng băng hà. Nơi đây mang vẻ đẹp quyến rũ của một khung cảnh thiên nhiên với miệng núi cẩm khê bên bờ sông Hương, cách thành phố Huế 12 km. Du khách đến Huế nhất định nên thử trải nghiệm chèo thuyền trên sông Hương. Khi chúng ta nói về dòng sông nước hoa, chúng ta nói về màu sắc, bởi vì nếu không có dòng sông nước hoa thì sẽ không có giấc mơ màu, giấc mơ màu sắc…

“Đi đâu tôi cũng nhớ quê, nhớ sông và gió mát, nhớ bình trăng treo” (bài ca dao)

gọi là sông nước hoa vì theo truyền thuyết, con sông này chảy qua những khu rừng thơm nên nước sông cũng thơm. sông nước hoa bắt đầu từ dãy núi sơn môn phía đông, chảy qua thành huế với làn nước trong vắt và phẳng lặng. bắc qua sông là cây cầu tiền tài nổi tiếng. Ở cuối phía bắc là East Bazaar, trung tâm thương mại của thành phố. sông nước hoa cũng là địa điểm tổ chức các lễ hội như thả đèn lồng, đua thuyền hay hát ca trên thuyền rồng.

có sông có hương mà không có núi ngu binh thì chưa trọn vẹn, chưa thể gọi là huệ. Núi Ngự Bình hay còn gọi là núi Băng, cách kinh thành Huế khoảng 3 km về phía nam. Nhìn từ xa, chiếc bình có dạng hình thang, đỉnh tương đối bằng phẳng, chiều cao khoảng 104m; uy nghi, cân đối như chiếc yên ngựa nổi bật trên nền trời xanh biếc. Cùng với sông Hương, núi Ngự Bình là món quà vô giá của tạo hóa, tạo nên vẻ đẹp quyến rũ, mê hồn rất đặc trưng của xứ Huế.

Huế không chỉ được biết đến là vùng đất của thiên nhiên thơ mộng, mà còn là thành phố của miệt vườn, vườn hoa và trà xanh. Có thể kể đến Kim Long, vùng đất của nhiều hoa thơm trái ngọt từ Bắc chí Nam. chúng tôi hiểu tại sao han mo bạn có thể viết những bài thơ hay như vậy, bởi vì khung cảnh như thế này:

“Nhìn ánh nắng, vườn thật xanh, lá trúc che mặt điền”

Trên những con đường của thị trấn nơi cố đô, những chiếc nón lá và áo dài xuất hiện bay trong gió. Từ lâu, Nón Thơ Huế đã được biết đến với cách bài trí độc đáo nên thơ và những bức tranh mang đậm hương vị Huế. ở đó, có cảm giác yêu thương nhưng cũng có nỗi buồn, như ăn sâu vào thói quen ăn uống, suy nghĩ và lối sống của mỗi người.

Huế nổi tiếng với nền văn hóa ẩm thực phong phú và tuyệt vời. từ những món ăn cung đình cầu kỳ, phức tạp đến những món chè khúc bạch, món ăn đường phố,… sẵn sàng hớp hồn bao khán giả. Huế không chỉ đẹp và mộng mơ, mà còn là một thành phố anh hùng, một thành phố của lịch sử và văn hóa. Huế là nơi phát triển của triều đại cuối cùng của Việt Nam. Huế đã cùng với nhân dân cả nước đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc. Cũng chính mảnh đất ấy đã chứng kiến ​​biết bao người con mãi mãi nằm xuống, biết bao ước mơ không tên, biết bao vết thương lòng không thể xóa nhòa.

hue có thể được so sánh với một người con gái xinh đẹp, một người phụ nữ tuyệt vời và cũng là một người mẹ anh hùng vĩ đại. Chính những giá trị, những cái tên này sẽ làm nên bất tử cho vùng đất này, đồng thời sẽ sống mãi trong lòng mọi người.

bài viết số 5 lớp 10 đề 1 – văn mẫu 2

Đã thành thông lệ, mỗi khi có dịp về thăm quê mẹ ở Chí Linh – Hải Dương, tôi thường cùng mẹ đi thăm một số ngôi đền, chùa nằm trong quần thể di tích nơi đây, như với con trai – bạc. đời, đền nguyên trai, đền sinh, đền chu văn ân… với đền chu văn ân, mỗi lần đến đây, tôi lại cảm nhận sâu sắc hơn về đạo làm thầy, về đạo mà người thầy chu văn ân đã gửi gắm. . cho hậu thế hơn 600 năm trước.

Từ quốc lộ 18, băng qua con đường đất khoảng 3 km, với những triền núi quanh co giữa bạt ngàn vườn nhãn, na, bưởi, tiếp theo là những rặng thông xanh, chúng tôi đến núi phượng vĩ, thuộc xã văn an. (trước đây là xã kiết hạ), huyện chí linh, hải dương, nơi có di tích đền chu văn an. chùa được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1998 và được trùng tu, tôn tạo, cung nghinh vào đầu năm 2008.

Khi bước vào khu di tích, ngay từ cổng chính điện, chữ “học” viết bằng bút pháp nổi bật, trông như một tấm thảm nhung trải trên bậc đá đi lên chùa. Tiếp đến là dòng chữ “Vạn niên bảo” bằng chữ Hán được in trên nền đá, thể hiện lòng thành kính của các thế hệ người Việt Nam đối với sư phụ chu văn an. chính điện được thiết kế theo kiểu “chồng diêm” tám mái thể hiện sự tôn nghiêm đối với đẳng cấp và tầm vóc của các danh nhân theo phong tục Việt Nam. nhà gỗ lim lợp ngói, nhà bia cổ, bậc đá, bệ thờ sơn son thếp vàng … hai bên là nhà giải vũ, sân thượng, hiên giữa, hiên dưới, hai con rồng đá, hai nhà bia. .. đầu của ngôi chùa chính “điện lưu quang”, nơi 600 năm trước đại sư chu văn an, sau khi bỏ mũ áo, trở về mở trường dạy học, viết sách, làm thơ, học y và sống đời. . của một “ẩn” (nó giống như một người thợ rừng trong khu rừng cô đơn) thư thái, trong sáng, hạnh phúc với cây cỏ, mây và nước. Nhìn chung, ngôi chùa không nguy nga, cầu kỳ nhưng được thiết kế, xây dựng, trang trí độc đáo, mang đậm màu sắc truyền thống và toát lên vẻ uy nghiêm, ấm áp và trang nghiêm.

Người bảo vệ chùa với khuôn mặt hiền lành nhân hậu đang quét lá rụng trong sân rộng, thấy chúng tôi đi lên chùa, ông ấy lập tức khoanh tay chào chúng tôi. Ông cho biết, vào mỗi dịp đầu năm mới hay rằm, mồng một, nhất là mùa thi, nơi đây luôn tấp nập người dân địa phương và du khách thập phương đến chiêm bái, trẩy hội. Vào thời điểm đó, trong phòng nghiên cứu bên trái của ngôi đền, thường có những học sinh già trong bộ quần áo cổ xưa, ngồi viết những chữ có ý nghĩa bằng màu mực đỏ đặc biệt, được cho là màu mực được sử dụng bởi giáo viên. chu văn an hàng ngày, với ngụ ý về lòng trung thành, nghĩa tình của họ với nhân dân, đất nước. Vào những dịp này, các bậc phụ huynh, học sinh hoặc các nhà văn, nhà thơ có nặng nợ hình sự thường đến chùa xin chữ, cũng để cầu mong việc học hành, văn chương luôn suôn sẻ, thành đạt.

Tôi và mẹ vào chánh điện làm lễ. Vì là ngày thường nên nơi đây khá vắng vẻ, không có nhiều du khách thập phương đến tham quan, chiêm bái. bàn hương khói trầm ngâm, lảng tránh. Sư thầy áo nâu thỉnh tiếng chuông ngân dài khiến không gian tĩnh lặng, thanh bình nơi đây càng thêm thanh bình, hoài niệm theo tiếng chuông ngân trong không gian. Toàn bộ ngôi chùa tọa lạc giữa bạt ngàn thông xanh trong ánh vàng của buổi tối mùa thu và ánh lên sắc màu huyền thoại của một bậc thầy tài hoa, vẹn toàn: vạn tuế vạn tuế biểu hiện chu văn an.

mục số. 5 lớp 10 đề 1 – văn mẫu 3

Nói đến văn hóa tâm linh của người Việt, không thể không nhắc đến những ngôi chùa cổ kính, linh thiêng với vẻ đẹp độc đáo, tĩnh mịch, nơi bày tỏ lòng thành kính, biết ơn người xưa, tín ngưỡng tôn giáo. Một trong những ngôi chùa cổ và nổi tiếng ở nước ta phải kể đến chùa Hương, một danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa và tôn giáo của Việt Nam.

Chùa Trầm hương, hay còn gọi là Hương Sơn, là một quần thể văn hóa tôn giáo ở Việt Nam, bao gồm hàng chục ngôi chùa Phật giáo, một số đền thờ thần, đình làng và tín ngưỡng nông nghiệp. xã hương sơn, huyện mỹ đức, thành phố hà nội, được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 17 thời Trung Quốc – Tônkin, sau đó bị phá hủy trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1947, sau đó được hòa thượng Thích Thanh xây dựng lại vào năm 1988. chan thanh dưới sự chỉ đạo của cố hòa thượng thich thanh chan. / p>

Nơi đây gắn liền với tín ngưỡng thờ nữ thần thứ ba, theo truyện cổ Phật kể rằng, con gái thứ ba của vua Diệu Trang, tức là Hương Lâm, gọi là Diệu Tinh, là hóa thân của Thần. , trải qua nhiều thử thách và khổ nạn với chín năm tu hành, Ngài đã đạt được Phật quả để cứu độ chúng sinh.

Dưới bàn tay khéo léo của người xưa cùng với vẻ đẹp của tạo hóa ban tặng, vẻ đẹp của chùa trầm hương mang một dấu ấn riêng, dẫn dắt chúng ta đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. quần thể chùa hương có nhiều công trình kiến ​​trúc nằm rải rác trong thung lũng suối yên.

khu chính là chùa ngoài, còn gọi là chùa, tên chữ là chùa thiển. chùa nằm không xa bến tàu, nơi khách hành hương đi lên con lạch yên từ bến tàu để đến chùa, sau đó xuống thuyền ở đó và đi bộ. Chùa Tam Quan được xây dựng trên ba sân gạch lớn. hiên thứ ba nâng một tháp chuông ba mái.

Đây là một tòa nhà cổ, có vẻ ngoài độc đáo ở chỗ nó để lộ hai đầu hồi hình tam giác ở tầng trên. Tháp chuông này nguyên thuộc chùa làng Cao Mi, tỉnh Hà Đông, năm 1980 được dời về chùa Hương làm tháp chuông. chùa chính, tức chùa trong, không phải là một công trình nhân tạo mà là một hang đá tự nhiên.

ở cửa động có một cửa lớn, mặt trước viết bốn chữ “cửa động”. Qua cổng có một con dốc dài, lối đi được xây bằng 120 bậc đá. vách động có năm ký tự chữ Hán “nam thien de nhat dong”, là bút tích của tinh do vuong trinh sam. Ngoài ra, động còn có hàng loạt bia ký và văn thơ trên vách đá.

Lễ hội chùa Hương được tổ chức vào ngày 6 tháng Giêng âm lịch, thường kéo dài đến hạ tuần tháng 3 âm lịch. Vào dịp lễ hội, hàng triệu phật tử và du khách thập phương nô nức về trẩy hội chùa Trầm hương.

đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng Giêng đến ngày 18 tháng Hai âm lịch, đây là lễ hội của địa phương, nhưng ngày nay lễ khai ấn được hiểu theo nghĩa là mở cửa mả. ngôi đền. lễ chùa hương trong nghi lễ rất đơn giản.

một ngày trước khi khai hội, tất cả các đền, chùa, lâu, miếu đều được thắp hương. Trong chùa có lễ dâng hương gồm hương, hoa, đèn, nến, hoa quả, đồ ăn. ăn chay. lúc cúng bái, có hai vị tỳ kheo ni mặc y phục chay mang lễ vật chay đến bàn thờ để dùng lễ vật.

Từ ngày khai hội đến khi kết thúc lễ hội, chỉ thỉnh thoảng các sư thầy của các chùa kể trên mới đến vui chơi, hát hò nửa tiếng đồng hồ tại các đình, miếu, am. và mùi khói không bao giờ dứt. phần nghi lễ nghiêng về “thiền”. nhưng ở đền ngoài họ thờ các vị thần trên núi với đủ màu sắc của Đạo giáo.

đền cổng vành khuyên là “chân văn hóa rồng” thờ nữ vương thượng ngàn cai quản núi rừng xung quanh với mệnh danh là “hồng nhan tri kỷ” của vị thần tối cao núi rừng. chùa bắc đại, chùa tuy sơn, chùa lớn và đình thờ ngũ hổ và tín ngưỡng cá thần. Chúng ta có thể thấy rằng lễ là sự tổng hòa của toàn bộ hệ thống tín ngưỡng, hầu hết các tín ngưỡng tôn giáo của Việt Nam.

Trong lễ hội có đám rước và đám rước. Thị dân đến nhà ông chuẩn bị đồ tế, mang bài văn vào đền để chủ tế đọc và điều khiển các bô lão trấn làm lễ tế để truy tố thần trấn. Lễ hội chùa Hương còn là nơi hội tụ của các hoạt động văn hóa dân tộc đặc sắc như chèo thuyền, leo núi, hát chèo, hát chầu văn.

Không chỉ mang vẻ đẹp độc đáo về kiến ​​trúc, cảnh sắc của ngôi chùa cùng với nét đặc sắc của lễ hội mà chùa trầm hương còn chứa đựng những giá trị sâu sắc về văn hóa tâm linh, lịch sử dân tộc và giá trị của ngôi chùa. . giá trị sống trong chuỗi phát triển của con người từ ngàn xưa cho đến ngày nay, cần được bảo tồn, duy trì và bảo tồn những di sản mà ông cha ta để lại.

Vì vậy, với những giá trị đó, chùa hương là niềm tự hào của người Hà Nội nói chung và của người Việt Nam nói riêng, đến với chùa nước hoa là đến với một không gian thanh tịnh, sống chậm lại để cảm thấy nhẹ nhõm trong tâm hồn, thả hồn. mọi áp lực và căng thẳng của cuộc sống.

bài viết số 5 lớp 10 đề 1 – văn mẫu 4

Nói đến phong cảnh, sơn thủy hữu tình ở Việt Nam, khó có thể không nhắc đến Vịnh Hạ Long. cái tên đó được mọi người Việt Nam biết đến. Nó không chỉ đẹp ở hiện tại hay tương lai mà nó còn đẹp từ quá khứ trong câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm: “Con gà mái, con cóc quê hương cũng biến Hạ Long thành thắng cảnh”. Mới đây, Vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là một trong bảy kỳ quan đẹp nhất của thế giới. Vậy không biết ha long có điều gì đáng trân trọng như vậy không?

Vịnh Hạ Long cũng có truyền thuyết kể rằng Ngọc Hoàng đã sai rồng mẹ mang một đàn rồng con xuống trần gian để giúp người Việt chống lại kẻ thù. tàu địch từ biển lao vào bờ đúng lúc rồng nhập thế. Rồng lập tức phun lửa đốt tàu địch, một số nhả ngọc và xây thành đá sừng sững, khiến tàu địch va vào nhau vỡ tan, cản đường tiến của nước ngoài.

sau khi chiến tranh kết thúc, nhìn thấy mặt đất yên bình, cây cối tươi tốt, người dân nơi đây cần cù, chịu khó, đoàn kết giúp đỡ nhau, rồng mẹ và rồng con không về trời mà ở lại nghỉ hè. thế giới. , nơi diễn ra cuộc chiến đấu bảo vệ dân tộc Đại Việt mãi mãi. vị trí đáp xuống của rồng mẹ là ha long; nơi rồng con đáp xuống là bãi tứ long và đuôi rồng vẫy vùng nước trắng là bach long vi (bán đảo chè xưa ngày nay, có bãi cát dài hơn 15 km).

Có một truyền thuyết khác kể rằng vào thời đất nước có giặc ngoại xâm, một con rồng bay xuống sông ra biển đậu vào bờ biển phía đông bắc tạo thành bức tường thành tiến công cho quân giặc. nơi rồng hạ cánh để bảo vệ đất nước gọi là ha long.

sau đây là đảo ở đây có 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên. Đảo ở đây gồm hai loại là đảo đá vôi và đảo đá phiến sét, tập trung ở Bái Tử Long và Vịnh Hạ Long. ở đây chúng ta thấy một loạt các hang động đẹp và nổi tiếng. khu di sản thiên nhiên thế giới được công nhận có diện tích 434 km2 bao gồm 775 hòn đảo, hình tam giác với 3 đỉnh: hòn đầu đi (phía tây), hồ ba hầm (phía nam), hòn đảo tay (phía tây) (phía đông ) khu vực giáp ranh là vùng đệm và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng năm 1962.

Đến với Hạ Long, người ta không thể rời mắt khỏi khung cảnh nơi đây. nào là núi, là nước với những hang động thực sự cuốn hút người ta muốn đi đến tận cùng để tìm cái hữu hạn trong cái vô cùng của núi trời ấy. chúng tôi cứ nghĩ ngọn núi kia giống như những người khổng lồ, ngồi trên thuyền và nhìn lên để đo độ cao của những ngọn núi đó thật là mệt mỏi. chỉ bây giờ chúng ta mới biết thế nào là vĩ đại, thế nào là mối quan hệ nhạy cảm giữa nước và tuổi trẻ. nước biển mặn với vị mặn của muối. hang động với những khối thạch nhũ trông như sắp rơi, nhưng thực ra không phải là rơi. nó không ngừng uốn lượn như hàng ngàn viên ngọc trai lỏng sáng bóng kết dính với nhau nhưng không rơi ra.

Con người ở đây cũng thực sự đáng yêu và xinh đẹp. họ không chỉ hiếu khách mà còn giống như một hướng dẫn viên du lịch vừa giới thiệu khung cảnh vừa vững tay lái đến nơi mà khách muốn đến. con người nơi đây niềm nở khi khách đến và khi ra về đều để lại những dấu vết khó quên về tình người non nước hữu tình với những cảm giác mặn nồng như muối biển.

qua đây, chúng ta thấy vịnh Hạ Long xứng đáng là một trong bảy kỳ quan của thế giới. nếu ai đã từng đến đây chắc hẳn rất ấn tượng về cảnh đẹp và con người nơi đây. còn những ai chưa đến, hãy sớm đến và tận hưởng những gì thiên nhiên ban tặng, những gì mẹ thiên nhiên ban tặng.

bài viết 5, lớp 10, chủ đề 2

bài viết lớp 10 đề 2 – văn mẫu 1

<3 giữa bầu trời mây nước bồng bềnh, khúc đàn du dương ai hát khiến lòng du khách giữa đêm thanh tịnh như được giải thoát, thăng hoa, chắp cánh bay lên cung trăng kia. …

Huế vốn là một vùng dân ca nổi tiếng với những mái nhì, đưa đẩy, dìu dặt, xòe nhẹ, ngọt ngào như chính tâm hồn người dân xứ Huế, những câu hát trữ tình bay bổng, mềm mại như tiếng sáo, tiếng đàn lia. hoài xuân, tang thương Ngoài âm nhạc dân gian, Huế còn có một dòng nhạc cung đình trang trọng như nhạc giao duyên, nhạc chùa, nhạc ngũ tu, nhạc triều đình, nhạc triều thường, nhạc triều yến.

Ca Huế được hình thành từ âm nhạc dân gian kết hợp với nhạc thực, âm nhạc tao nhã, trang trọng mang khí chất của âm nhạc thính phòng. giữa hai thể loại âm nhạc đó, ca Huế có những nét riêng với chất trữ tình sâu lắng đi vào lòng người, có đầy đủ hỷ, nộ, ái, ố như cuộc sống của những người bản xứ cố đô.

người ta đến với ca Huế để đắm mình trong cảm giác xốn xang, buồn vui đến lạ. bước trên mạn thuyền rồng, trong không gian tĩnh lặng giữa trời, mây, sông nước để cảm nhận nhiều hơn những gì tinh túy nhất của hò Huế qua những âm điệu du dương, da diết của những giọng hát hò xen lẫn tiếng hò. âm thanh. bởi dàn nhạc gồm đàn bầu, đàn tranh, sáo trăng, chũm chọe, la bàn … một bản giao hưởng gồm 4 bài hát nguyệt thủy, kim tiên, xuân phong và long hổ khai mạc vào một đêm tại ca Huế.

Hầu hết các thú tiêu khiển của người Huế đều liên quan đến dòng Hương Giang, nơi khởi nguồn và hội tụ của nhiều hoạt động vui chơi ở cố đô này. những cuộc đua thuyền, đò mơ, thả thơ, hát hò… tất cả đều diễn ra trên sông. Nước hoa river đã để lại trong tâm trí người dân xứ Huế một cảm giác êm dịu nhưng không kém phần sôi động. thú vui đến Huế là một thứ dưỡng sinh tinh thần quý giá, một thú vui tao nhã mà bất cứ du khách nào đến Huế có chút yêu thích Huế đều muốn có cơ hội thưởng thức.

ca huue, bao gồm các yếu tố ca huue và dan hue, dựa trên một hệ thống phong cách của hơn sáu mươi tác phẩm thanh nhạc và nhạc cụ ở hai dòng chính, miền Bắc và miền Nam. các nhạc cụ thuộc làn điệu miền Bắc có âm sắc vui tươi, sang trọng, các bài hát thuộc làn điệu nam có âm sắc trầm buồn. Cũng có những bài hát mang âm hưởng miền Bắc và miền Nam, chẳng hạn như bài hát tuồng canh rất nổi tiếng, được nhiều người cho là tác phẩm của hoàng đế Từ Đức (1848 – 1883).

Nghe những bài hát thanh lịch và quyến rũ. tham dự chương trình ca Huế ngắn trên sông nước hoa, du khách sẽ được ngồi trên những chiếc thuyền rồng nơi các vua chúa ngày xưa ở, trong khoang thuyền, đàn nguyệt, tam thập, tam thế, thập lý. ..

Các nhạc công, ca nương đều là nam nữ rất trẻ, nam mặc áo cà sa, quần ống rộng, đầu đội khăn, nữ mặc áo dài có từ thời vua Nguyễn Phúc Khoát vào giữa thế kỷ XVII. con thuyền từ từ rời bến, không khí trong lành, không gian huyền ảo bởi ánh trăng dưới ánh trăng soi bóng từng nhịp cầu in tiền trên sông …

con thuyền ra đến giữa sông bỗng dừng lại, không gian bỗng im lặng, bạn chỉ nghe thấy tiếng nhịp tim và tiếng anh của những con đường rẽ nước. thuyền tắt máy, buông xuồng lướt xuống dòng sông dưới cây cầu tiền tỷ, ánh sáng rực rỡ như những vì sao. Sau phần trình bày của một nghệ sĩ trẻ, âm nhạc cung đình vang lên, đưa người nghe trở về không khí trang nghiêm nhưng vẫn quen thuộc của một thời đã qua.

sau đó, tiếng hát thanh tao theo những giai điệu dân gian ca Huế cất lên và hạ xuống trong căn nhà gỗ thiếu ánh sáng. Thật sự tuyệt vời khi được nghe lại những bài hát, lời ca, bài hát về Huế với đủ thể loại mà trước đây tôi chưa từng có cơ hội được nghe và nghe đủ. những câu ca dao yêu thương, ngợi ca đất nước tươi đẹp, thơ mộng được thêu dệt thành lời và lên bậc thánh hiền, khiến lòng khách rộn ràng, nhất là một số bài ca cung đình trước đó như: lưu luyến, xuân phong, long hổ , hà giang nam cũng thực hiện.

Cái lạ của ca Huế, cũng như ca dao Việt Nam, là sự êm đềm, dịu dàng và sự quen thuộc đến lạ lùng của âm nhạc. nó đi vào lòng người rồi lắng đọng, để lại những ấn tượng khó phai mờ, xao xuyến …

Tham khảo: 5 dạng bài test tiếng anh phổ biến nhất và cách làm!

ca Huế là một môn nghệ thuật độc đáo vì không phải ai cũng hát đúng cao độ mà để nghe được tiếng ca chuẩn thì người biểu diễn phải là những người biết hát. ca Huế chỉ dành cho người dân xứ Huế, như quan ho bac ninh chỉ dành cho người dân kinh bắc. Sắc thái riêng của nhạc huue “không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác.”

XEM THÊM:  Soạn bài Ông đồ siêu ngắn | Ngữ văn lớp 8

bài viết lớp 10 đề 2 – ví dụ 2

Người Việt Nam luôn tự hào là “đất nước nghìn năm văn hiến” với sự giao thoa của nhiều nền văn hóa. Trải qua hàng nghìn năm bắc thuộc dưới ách thống trị của thực dân Pháp, nền văn hóa nước ta đã tiếp thu những giá trị văn hóa mới nhưng vẫn giữ được những tinh hoa của dân tộc, tạo nên những loại hình nghệ thuật vô cùng độc đáo, làm tăng thêm giá trị to lớn cho nền văn hóa Việt Nam. . Dân ca quan họ bắc ninh là một trong những loại hình nghệ thuật như vậy, nó có sức thẩm thấu mạnh mẽ, lay động người nghe bằng những bản tình ca dịu dàng, thắm đượm tình yêu miền Bắc.

Dân ca Quan họ là một loại hình dân ca đặc trưng của vùng đồng bằng sông Hồng phía Bắc nước ta, được hình thành từ lâu đời ở vùng Kinh Bắc xưa, chủ yếu ở hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Giang. cầu chảy ngang. Theo các nhà nghiên cứu khoa học, quan họ có từ thế kỷ 16 và có nguồn gốc từ phong tục cưới xin giữa những người hàng xóm.

Tên gọi “quan họ” có thể hiểu theo truyền thuyết rằng có một vị quan khi đi kinh lý, tình cờ nghe và say mê những câu hát quan họ của các anh, các chị, những người có quan họ. cùng sở thích hát dòng nhạc này và mọi người gọi nó là “gia đình”. nhưng cách giải thích này chỉ đúng ở một khía cạnh nào đó, ngoài ra còn rất nhiều cách giải thích khác liên quan đến thói quen sinh đẻ, sinh hoạt văn hóa và chế độ thời bấy giờ.

dân ca quan họ là một bài hát giao duyên giữa nam và nữ, một hình thức trao đổi tâm tư tình cảm giữa anh em với chị em. họ sử dụng ca từ tinh tế và giọng hát sâu lắng, mượt mà. lắng nghe để bày tỏ cảm xúc bên trong của bạn. Những làn điệu quan họ truyền thống thường được hát vào mùa xuân hoặc mùa thu, đó là những mùa đẹp nhất trong năm, khi tiếng hát quan họ rộn ràng, tưng bừng khắp các làng quê trên dưới làm thổn thức biết bao con tim. Tôi yêu nghệ thuật.

Thông thường quan họ phổ biến lối hát đối đáp giữa trai và gái, có thể cùng quê hoặc khác thị trấn, cái khó là cùng một làn điệu, người hát phải tìm lời cho phù hợp. , tạo sự hấp dẫn hơn và không bị nhàm chán, đó là nét độc đáo mà không phải ai cũng hát được.

nam nữ hát những bài hát đầy cảm xúc, lắng đọng cảm xúc, đó có thể là những câu hát cất lên từ lời thơ, ca từ trong sáng, tinh tế. quan họ là một thể loại âm nhạc. về mặt trữ tình, cách hát, cách gieo vần được trau chuốt kỹ lưỡng. bao gồm nhiều kỹ thuật làm cho âm điệu vừa vang, vừa vang và nền, nảy, nghe như rót mật vào tai, vô cùng ngọt ngào và tình cảm, như dòng chảy êm đềm của dòng sông cầu – “sông quan họ”. Hát quan họ có ba hình thức phổ biến nhất: hò canh, hò lễ hội và hò thi đua đoạt giải, mỗi hình thức đều có những nét đặc trưng và dấu ấn riêng.

trang phục cũng là một điểm nhấn trong nghệ thuật quan họ, anh chị em ngay lập tức khoác lên mình những bộ quần áo sặc sỡ tôn lên vẻ đẹp thanh lịch, quý phái của người dân phương bắc. phía Nam, anh em khoác ngay chiếc áo dài mỏng sẫm màu, bên trong áo sơ mi trắng và quần trắng, chân rộng phẳng phiu, đầu đội khăn xếp, tay cầm quạt hoặc ô màu đen càng tôn thêm vẻ đĩnh đạc, nét văn hóa truyền thống. đặc điểm của khu vực phía Bắc.

<3 Buộc tóc theo kiểu mỏ quạ, đội mũ trắng trên đầu hoặc cầm trên tay để trông thanh lịch và duyên dáng hơn. Những bài hát bay bổng, dịu dàng và ngọt ngào kết hợp với những bộ trang phục đặc biệt như vậy đã làm tăng thêm vẻ đẹp của những người hát tình ca.

Quan họ là một loại hình văn hóa độc đáo còn phát triển cho đến ngày nay, trong đó vẫn giữ được những nét đẹp truyền thống xưa, nhưng được người kế tục phát huy và phát triển cho đến ngày nay, tạo nên những cái mới để không bị tụt hậu. thời gian.

Quan họ được coi là dòng nhạc dân ca trữ tình với nguồn làn điệu phong phú và đa dạng nhất Việt Nam. Cho đến nay, khoảng 300 bài Quan họ với các làn điệu khác nhau vẫn còn được lưu giữ và được biết đến là những bài hát được yêu thích nhất. Ngoài ra, có nhiều làn điệu không được đăng ký chính thức mà chỉ được truyền miệng từ đời này sang đời khác. các làn điệu quan họ truyền thống phải kể đến là: kim loan đường, cây gạo, la hò, tình tang, …

hát quan họ bao giờ cũng có ba giai đoạn, giai đoạn mở đầu là ở giọng chính, khi hát xong khoảng mười bài thì người hát quan họ chuyển sang giọng sống tiếp tục quãng giữa, những bài ở giữa thì giọng. lặt vặt, đoạn cuối là tiếng nói lời từ biệt. Những làn điệu quan họ là những bài hát gần gũi, ngọt ngào, êm dịu, người hát luôn trong tâm trạng say mê, vui tươi, trìu mến thổi hồn vào lời ca tình cảm khiến cho âm hưởng của cả bài hát luôn ngân vang, thấm sâu vào tâm hồn. hút hồn người thưởng thức, khiến chúng ta không khỏi trầm trồ, thán phục trước cái duyên của làn điệu dân ca truyền thống, đồng thời cũng đòi hỏi khá khắt khe ở người nghe.

bài viết lớp 10 đề 2 – văn mẫu 3

ca trù là một trong những loại hình âm nhạc truyền thống của Việt Nam. xuất hiện vào đầu thế kỷ 16, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, có lúc tưởng chừng như không thể xảy ra, nhưng với nét đặc sắc của loại hình nghệ thuật là sự kết hợp tuyệt vời giữa lời ca, âm nhạc và giọng hát hòa quyện với các loại nhạc cụ: la bàn, đàn nguyệt, trống. …

ca trù là một trong những loại hình âm nhạc truyền thống của Việt Nam. xuất hiện vào đầu thế kỷ 16, trải qua những thăng trầm của lịch sử, có lúc tưởng chừng như không thể, nhưng với đặc thù của loại hình nghệ thuật là sự kết hợp tuyệt vời giữa ca từ và âm nhạc, giọng hát hòa quyện với các loại nhạc cụ: nhịp, trầm, trống. .

Cho đến ngày nay, ca trù đã khẳng định một vị trí quan trọng không chỉ của Việt Nam mà còn của nhân loại. Đây là nghệ thuật dân gian được Việt Nam đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. tên gọi và nguồn gốc của mắc ca có rất nhiều tên gọi.

Tùy từng địa phương, từng thời đại, hát ca trù còn được gọi là hát ả đào, hát cô liêu, hát xẩm… tuy nhiên, dù ở hình thức tên gọi nào thì sự tồn tại của ca trù vẫn luôn gắn liền với đào. ni cô, “không có ca trù nào sinh đào không thành, nói đến ca trù thì không thể không nhắc đến đào nương”.

Trở thành một ni cô không phải là điều dễ dàng, bạn phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn khắt khe như giọng hát, năng khiếu âm nhạc (thính giác, bộ gõ), kiến ​​thức âm nhạc và thơ ca, đam mê, đam mê và sự kiên trì … thì sự tồn tại của ca trù mới quyết định. do chính các cô đào.

các công chúa là người truyền và thể hiện cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của ca trù, giúp ca trù tồn tại cho đến ngày nay. ca trù được tổ chức chặt chẽ thành barrios và barrios, do các trưởng barrio và quản trị viên điều hành.

ca trù có quy định về truyền nghề, học đánh đàn, học hát, có phong tục công nhận thợ giỏi, như lễ mở áo xiêm (thầy cho phép mặc áo bà ba màu hồng đào). đối với quan chức biểu diễn) lần đầu tiên ở đình làng gọi là hát cửa) có quy định về việc lựa chọn cá nược để hát dự thi (ngoài tài năng, sắc đẹp cần có phẩm hạnh tốt).

các cuộc thi và giải thưởng ca hát được tổ chức tốt, các cuộc liên hoan được tổ chức rất nghiêm túc. ca trù có nguồn gốc từ các làn điệu dân ca, nhạc dân tộc và một số trò diễn, điệu múa dân gian. ca trù lúc đầu và trong một thời gian dài là một nghệ thuật tổng hợp, bao gồm âm nhạc, thơ ca, múa và diễn xuất. do đó, nét độc đáo của ca trù là sự kết hợp đa dạng, tinh tế và nhuần nhuyễn giữa thơ và nhạc, đôi khi có cả múa.

Hầu hết các loại hình âm nhạc cổ Việt Nam đều có sự kết hợp giữa thơ và nhạc như: câu hát, đồng dao với thơ 3, 4 chữ, hát ru, hò, lý và các làn điệu chèo thường. nó là một bài thơ lục bát, một biến thể của thơ lục bát, hoặc một bài hát là lục bát. Không chỉ vậy, ca trù là một loại hình âm nhạc thính phòng, như ca trù miền Trung, đờn ca tài tử ở miền Nam.

nhưng ở thể loại nhạc thính phòng này, bài hát có những đặc điểm âm nhạc cố định, nếu đặt lời mới bạn cũng phải theo dòng nhạc đó, và giai điệu ca trù không cố định mà phụ thuộc vào chất giọng của ca từ nên trong lời bài hát. , hát ru, hò bắc, hò vè… có những làn điệu khác nhau, cùng có thể hát nhưng có nhiều bài. mỗi loại thơ có một nhạc tính và nhịp điệu đặc biệt tạo nên nhiều hình thức trong ca trù.

đặc biệt là trong ca trù, thanh nhạc và nhạc khí song hành với nhau và mỗi loại đều có những đặc điểm riêng. Đối với thanh nhạc, ngoài hát tuồng có kỹ thuật phong phú, độc đáo mà các bộ môn âm nhạc cổ truyền khác không có kỹ thuật thanh nhạc phức tạp, cầu kỳ như ca trù.

biểu hiện rõ nhất là khi hát ả đào, kỹ thuật hát rất điêu luyện, không há miệng rộng, không tống khí ra khỏi phổi mà nín thở ở cổ, ngân nga nhưng lời ca vẫn rõ ràng, tròn trịa. . viền bằng chữ rõ ràng. hát trước cửa nhà không ngân nga. hát xẩm có lối đổ hạt, đổ kiến ​​để tiếng hát thêm duyên dáng, đôi khi như thổn thức, thở dài trong lòng người.

nền tảng nhạc cụ đàn tính, loại nhạc cụ tiêu biểu của ca trù trong ca trù, ngoài thanh nhạc thì nhạc cụ cũng rất quan trọng và đặc biệt. nhạc khí bao gồm: phách, đàn hạ, trống. nhịp chỉ là một thanh tre hoặc một khúc gỗ gọi là nhịp và hai thanh gỗ là nhịp cái và nhịp con. đánh hai que theo nhịp để tạo ra âm trầm, âm bổng, to, mềm, trầm, cao, rõ, mờ, dương, âm …

Người biểu diễn cũng rất nhịp nhàng, cô ấy duy trì nhịp điệu nữ tính, tiết tấu phụ, tay lên, tay xuống, uyển chuyển như thể cô ấy đang múa. Không thể không nhắc đến một loại nhạc cụ quan trọng, đó là cây đàn tính dùng trong ca trù, thân hình chữ nhật hoặc hình thang, đỉnh làm bằng gỗ sưa, không có đáy, cổ đàn rất dài, gắn mác.10 o 11 phím đàn bằng tre rất cao, phím đàn thứ nhất ở giữa chiều dài dây. đàn nguyệt có 3 dây tơ, cách nhấn khác thường, tiếng đong đưa, tiếng búng, tiếng lia lịa, khi chân thành, mượt mà, dễ đi vào lòng người.

Bổ sung âm thanh là trống chầu: trống chầu trong ca trù cũng khác với trống chầu trong tuồng, hò vè … cả về kích thước và cách chơi. kích thước và hình dáng của trống thờ cũng giống trống chèo nhưng cách chơi và chức năng hoàn toàn khác. dùi trống không được gọi là “dùi trống”, mà là “roi chau”. thanh gỗ dài hơn dùi trống của khách. người đánh trống (quan họ) phải là người sành ca trù, phải am hiểu kỹ luật âm thanh của ca trù thì mới có thể cầm được roi.

Người đánh trống phải biết ít nhất 5 phép khiêu dâm, 6 trống thờ và nhiều phép biến hình khác. khi tham gia vào dàn hợp xướng, trống trở thành nhạc cụ thứ ba sau phách và đàn để tôn vinh bài hát có lời. tất cả trở thành một bản giao hưởng vô cùng phong phú gồm nhiều âm sắc, nhiều đặc điểm khác nhau và luôn biến đổi, không ngừng thay đổi.

ca trù được cả thế giới biết đến, ca trù đã được các cơ quan, tổ chức quốc tế trao giải thưởng và xuất bản dưới dạng đĩa. tổng thư ký hội đồng âm nhạc quốc tế trực thuộc unesco jack sinh ra, giám đốc viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc với các phương pháp so sánh ở tây berlin, đức, gs alain danielou tặng bản sao danh dự cho nsnd quach thi ho, người đã tham gia sản xuất trong album ca trù y quan ho do unesco phát hành.

Kỷ lục này đã được UNESCO trao tặng cho hơn 400 trường đại học và nhà văn hóa ở nhiều quốc gia Châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ, Châu Úc và Châu Phi. năm 1994 tại Paris, album ca trù do nhà văn hóa thế giới phát hành với sự tham gia của nhóm ca trù thái hà đã bị laurent aubert, nhà phê bình của tờ báo âm nhạc thế giới (le monde de la musique), miêu tả là “choc”. (chấn động), loại cao nhất.

Năm 1985, Ca trù là một trong 9 buổi biểu diễn được chọn tham gia Diễn đàn Âm nhạc Châu Á do UNESCO tổ chức tại Bình Nhưỡng, Hàn Quốc. Ngoài ra, Ca Trù còn được nhiều nhạc sĩ, nhà âm nhạc học nước ngoài: TS. >

ca trù đã được trình bày tại đại học sorbonne paris, đại học hawaii tại manoa Honorlulu (theo chỉ dẫn của tran van khe). Nghệ thuật ca trù Việt Nam đã bộc lộ nét duyên dáng, sang trọng và độc đáo. những nét riêng biệt của nó đã tạo nên sự độc đáo không có ở bất kỳ loại hình nghệ thuật nào khác.

Ngoài ra, ca trù có bề dày lịch sử, bề dày nghệ thuật, được nhân dân trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt, được các tổ chức quốc tế tôn vinh và bảo trợ. được unesco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong tương lai.

>

bài viết lớp 10 đề 2 – văn mẫu 4

âm nhạc luôn là nguồn thức ăn để nuôi dưỡng tinh thần và tâm hồn của con người. Có lẽ vì vậy mà theo thời gian, âm nhạc luôn phát triển và định hình nên những thể loại hấp dẫn người nghe. có người thích giai điệu sôi động của rock, r & amp; b trẻ, nhưng có lẽ cũng không ít người bị mê hoặc bởi tiết tấu nhẹ nhàng, giai điệu trầm buồn mang âm hưởng da diết của những bản ballad.

Có nhiều ý kiến ​​cho rằng bản ballad do một số người hát rong biểu diễn, nhưng phần lớn do người châu Âu biểu diễn. Các học giả tin rằng những bản ballad xuất hiện ở Tây Âu bắt đầu từ thế kỷ 13. nội dung của các bản ballad thường nói về tình yêu vĩnh cửu, cái chết, danh dự và sự phản bội hay còn gọi là tình ca xưa. Bản ballad bắt nguồn từ nhạc đồng quê và dân gian: với giai điệu chậm rãi, thong thả bắt nguồn từ nhạc đồng quê, ca từ không hoa mỹ nhưng đủ tạo cảm xúc nơi người nghe bởi nó truyền tải được nhiều tâm trạng của tác giả và ca sĩ.

Nhìn chung, giai điệu của bản ballad khá cũ so với hiện tại vì nó xuất phát từ truyền thống bình dân. phần lớn nói về tình yêu đơn phương của các cặp đôi. Ngoài ra, vì giai điệu khá cổ điển, bản ballad kết nối mạnh mẽ với các vũ điệu ballet. Các giai điệu khiêu vũ đã được xuất bản trong các tập sách nhỏ như John Playford của Bậc thầy khiêu vũ người Anh. Trong số mười tám phiên bản của nó, 1651-1728, Playford đã công bố chương trình phát sóng phổ biến nhất trong ngày. Một nhà sưu tập ballad quan trọng là Thomas D’Urfe, một người đàn ông đa tài viết kịch, ca khúc, thơ ca và hài kịch. Ông cũng là một nhà soạn nhạc, nhưng ông đã dành nhiều công sức của mình để chuyển thể và sắp xếp các giai điệu hiện có. Chính từ những nguồn in như thế này, chúng ta có thể tìm thấy những giai điệu âm nhạc trong đó những bản ballad nổi tiếng như “up all the tail”, “drive cold Winter away”, “broom, bonny brooms, và nhiều hơn nữa” 1 tá tác phẩm khác.

Bất kể nguồn gốc xuất xứ hay các thế hệ giai điệu ballad sau này, chúng đều có những đặc điểm chung nhất định. đó là xu hướng lặp đi lặp lại và có tính logic du dương dễ thuộc, dễ thu hút công chúng yêu nhạc. những bản ballad thường sử dụng các quy ước. ví dụ, một câu hỏi và câu trả lời hoặc một mẫu biến thể và phân giải, chẳng hạn như được tìm thấy trong âm nhạc của Bach hoặc Handel. Một khi bạn đã quen với những quy ước này, bản ballad sẽ dễ nhận ra, có nghĩa là giai điệu dễ thuộc và dễ học, dễ nhớ. thậm chí là những bản ballad nổi tiếng. đặc điểm dễ thấy nhất là hình thức âm nhạc rời rạc, nhịp điệu lặp đi lặp lại và sức hấp dẫn của mẫu số chung thấp nhất. đây cũng là lý do tại sao các giai điệu ballad rất phổ biến trong văn hóa đại chúng, được rất nhiều người ở các thể loại và lứa tuổi khác nhau hát.

một bản ballad có cấu trúc tương đối ngắn được chia thành các câu và hát theo một câu chuyện như một giai điệu, một số bản ballad dài chỉ có vài dòng, từ điển định nghĩa về ballad là một bài thơ đơn giản ở thể thơ kể lại một số câu chuyện phổ biến , nhưng điều này vẫn chưa hoàn toàn chính xác, vì nhu cầu về một khổ thơ trong cấu trúc chỉ được đáp ứng trong các bản ballad quốc gia. Ballad có thể được hiểu theo nghĩa rộng là bất kỳ bài thơ nào kể về một câu chuyện gia đình, hoặc một đoạn hát ngắn và không có nhạc đệm hoặc vũ đạo. yếu tố quan trọng nhất trong một bản ballad là lời bài hát. Thông thường, bài hát được chia thành nhiều câu theo cách gieo vần. Có thể kể đến một số ví dụ như: “I love being love by you” của Marc Terenzi và “Not I, Not I” của Delta Goodrem …

Ngày nay, ballad đã được pha trộn với nhiều thể loại âm nhạc khác để tạo thành rock ballad, opera ballad, folk ballad, pop ballad … chính những màu sắc pha trộn này đã tạo nên sức sống riêng cho bản ballad. , sự khác biệt riêng mà không gây nhàm chán.

.

bài viết 5, lớp 10, chủ đề 3

title: giải thích một nghề thủ công tốt hơn

bài viết số 5 lớp 10 đề 3 – văn mẫu 1

nếu bạn cùng anh ấy trở lại thị trấn mái nhà, bạn sẽ trở lại thị trấn mái nhà với lịch trình tắm ao mát và công việc sơn

đó là những bài hát gợi cảm về một làng nghề truyền thống đã có từ lâu đời: làng tranh đồng hồ.

Đông Hồ, một tên thị trấn đẹp, nằm bên bờ sông Đuống, thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Hà Bắc cũ (nay là tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 35 km). cái tên làng từ lâu đã đi vào đời sống tinh thần của mọi người Việt Nam với những bức tranh dân gian nổi tiếng mang đậm âm hưởng dân tộc. Phố tranh Đông Hồ cổ, còn được gọi là Phố Mái (đôi khi người dân địa phương gọi là Phố Hồ), là một thị trấn thủ công mỹ nghệ nổi tiếng với những bức tranh dân gian. Thị trấn Đông Hồ nằm ở bờ nam sông Đuống, tiếp giáp với bến Hồ, nay được gọi là cầu Hồ. Từ Hà Nội, nếu bạn muốn đi đến Đồng Hồ, gần nhất là theo đường quốc lộ. 5 (đường hải phòng) đến ga phú mỹ cách hà nội khoảng 15 km rẽ trái đi thêm 18 km đi qua một số địa điểm khá nổi tiếng ở huyện gia lâm, hà nội) như phố xá, chợ keo, dâu tây. chợ (tân thạnh – bắc ninh) thuộc phố ho – thủ phủ quận tân thạnh. rẽ trái khoảng 2 km nữa là đến làng hồ. bạn cũng có thể đến hồ, đi lên đập, rẽ trái, gặp trạm gác đập thứ 2 sẽ có vé đi xuống thị xã đông hồ.

Tranh của người Đông Hồ có từ thời lê. Ở một thị trấn nghèo nhưng xô bồ như Phố của Họa sĩ Đông Hồ, người xưa đã nói “có lịch sử: Có sông tắm, có nghề vẽ tranh”. Qua nhiều thế kỷ, 17 dòng họ đã tụ họp lại trong làng, những gia tộc trước đây đều làm tranh. Không khí nhộn nhịp trong tháng mười một và tháng mười hai, tàu thuyền từ miền đông xứ Đoài cập bến để “ăn tranh”. trước khi người dân thị trấn ra khơi vào mùa sơn, họ phải bận rộn sớm tối. giếng nơi này rộn rã tiếng chày đập sò, có nơi ván in được tháo ra, lau chùi, vệ sinh. khói từ đốt than tre ẩn hiện trên ngọn cây. Người Đông Hồ ít đất đai, sống chủ yếu bằng nghề làm tranh. tranh trong làng rất được coi trọng. ai có đào hoa, có thú chơi, thi cử, thi họa đều được mọi người kính nể (cũng theo thú chơi tao nhã của nhà Nho xưa). Tranh đồng hồ hay có tên đầy đủ là tranh khắc dân gian đồng hồ là một dòng tranh dân gian của Việt Nam. Trước đây tranh chủ yếu bán vào dịp Tết Nguyên đán, người quê mua tranh về dán lên tường, cuối năm tháo xuống dùng tranh mới. Tranh làng dong ho không vẽ theo cảm hứng nghệ thuật mà người ta dùng ván để in. các bức tranh được in hoàn toàn bằng tay với giấy màu; môi màu sử dụng một bản và nét vẽ (màu đen) được in sau cùng. nhờ phương pháp in này mà tranh được “sản xuất” với số lượng lớn và không đòi hỏi tay nghề quá cầu kỳ. tuy nhiên, vì được in trên ván gỗ thủ công nên tranh bị hạn chế về kích thước, thường các tấm có chiều dài không quá 50 cm. để có những bức chạm khắc đạt đến độ tinh xảo, phải có người vẽ mẫu. Những người vẽ hoa văn, tranh in đòi hỏi họ phải có lòng yêu nghệ thuật và tâm hồn nghệ sĩ, đặc biệt là trình độ kỹ thuật cao.

Quá trình in hình có lẽ không quá khó vì ai cũng có thể vẽ lên bảng rồi in. giấy dùng để in ảnh là giấy gió mềm. Trước khi in, giấy bồi điệp làm nền, những con điệp óng ánh được lấy từ vỏ của những con sò, con hến, tạo nên chất liệu đặc trưng cho những bức tranh đồng bình dân. Sau khi in ảnh, ngay cả khi sơn đã khô, người xem vẫn có thể cảm nhận được màu sơn tươi như khi sơn còn ướt. các khối, một ma trận đặt cạnh nhau có một sự hài hòa tự nhiên. màu hỗn hợp thường được lấy từ nguyên liệu tự nhiên: màu đen, người ta đốt lá tre, rồi lấy thân của nó; màu xanh lấy từ vỏ và lá tràm, màu vàng lấy từ hoa, màu đỏ thẫm lấy từ thân và rễ cây rượu, màu son lấy từ sỏi núi, màu trắng là điệp. …

Khi xem những bức tranh bình dân, chúng ta thường thấy điều gì đó thú vị ở những nét đơn giản, nhưng hợp lý và hồn nhiên. Tranh Đông Hồ còn hấp dẫn bởi độ tươi sáng và màu sắc sặc sỡ của bộ tứ bình, thạch sanh, gà, lợn, mèo, chuột, ngựa ….

bài viết lớp 10 chủ đề 3 – văn mẫu 2

“gió cầu xin chiếc váy của cô gái thôn quê có quai buông xõa nghiêng vành nón thơ.”

(hồ phía đông)

Nghề chằm nón ở Huế đã tồn tại và phát triển hàng trăm năm với nhiều dân tộc làm nghề: Dạ Lê, Phủ Cam, Đốc Sở, Tây triều. Mỗi năm có hàng triệu chiếc mũ được sản xuất để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Những bàn tay nghệ nhân khéo léo đan từng chiếc nón, trải qua nhiều công đoạn khác nhau để hoàn thành sản phẩm.

các công đoạn bao gồm: chọn khung, gấp mép, tấm lợp, cắt hoa văn, đánh bóng và bảo quản, cuối cùng là đưa ra thị trường. Vì có nhiều công đoạn nên nghề thợ xay cũng được chia thành nhiều người thợ, mỗi người một công việc: thợ đóng khung, làm vành, làm nón,…

Để tạo hình chiếc mũ, người thợ thủ công bắt đầu làm khung. Công đoạn đầu tiên là chuốt rãnh, công đoạn này đòi hỏi người thợ phải khéo léo, sao cho các mép đều, khít, không quá to cũng không quá nhỏ làm mất đi vẻ đẹp của chiếc nón. vành nón làm bằng gỗ mỏng nhẹ, các mép ghép lại với nhau tạo cho nón có độ cong, tròn và có hình dạng nhất định. mỗi chiếc mũ thường có 15-16 vòng, đường kính khoảng 50 cm, làm bằng ván ép, có nhiều lời chúc bằng lời chúc bình thường. Bộ vành có tuổi thọ vài chục năm, theo đánh giá của người sử dụng. đây có thể xem là công đoạn quan trọng nhất, quyết định đến hình dáng của chiếc nón lá. 16 vành nón lá còn được người dân nơi đây đặt cho một cái tên ấn tượng nhưng dễ nhớ: “vành nón lưỡi trai”.

XEM THÊM:  Soạn bài Bố cục trong văn bản | Ngắn nhất Soạn văn 7

Tiếp theo là công đoạn lợp mái, một công đoạn quan trọng không kém. các tấm lợp dùng để lợp là những tấm côn thông thường nhưng phải trải qua các công đoạn lựa chọn tỉ mỉ và trải qua nhiều công đoạn: hấp, sấy, phun sương, ủi. người nghệ nhân phải cân nhắc kỹ lưỡng để lưỡi côn giữ được màu xanh trắng mới đạt tiêu chuẩn. các lá nón xếp đều mép, không chồng lên nhau tạo nên hình ảnh chiếc nón thon gọn, nữ tính. những người thợ thủ công sẽ gắn những chiếc lá này vào vành nón bằng một loại “chỉ” đặc biệt, để chiếc nón đẹp và bền hơn. Thông thường, mỗi nón sắp xếp đều nhau khoảng 24-25 tờ. lúc này chiếc nón lá đã có hình dáng, các bộ phận đã hoàn thiện khá nhiều.

sau quá trình lợp mái là việc đặt hoa văn. biểu tượng giữa hai lớp nón thường là hình ảnh cây cầu tiền lâu, núi binh, cây cầu ngói, … được đặt hài hòa trong không gian của nón, để khi soi dưới ánh nắng mặt trời. có thể nhìn thấy hình ảnh đẹp đẽ đó. và những bài thơ nổi tiếng viết trên huê cũng được in bên cạnh, những bài thơ này thường được làm bằng giấy bóng bảy màu, in nổi bật trên nền trắng xanh của lá côn. những chiếc nón lá với những họa tiết đẹp mắt và tinh tế đã lôi cuốn không biết bao nhiêu người đến với xứ sở mộng mơ thân yêu của mình.

Giai đoạn tiếp theo là quan trọng nhất: nhìn vào hình nón. Việc thiết lập đòi hỏi sự tỉ mỉ và khéo léo của người thợ, đó là lý do tại sao hầu hết những người thợ làm hàng đều là phụ nữ. từng đường kim mềm mại uốn lượn theo mép nón, nhanh mà đều, đẹp làm sao. Những đường chỉ mảnh quanh vành nón không làm mất đi vẻ đẹp vốn có mà còn tô điểm thêm cho nón, đồng thời còn giúp tăng độ bền cho nón. Nón lá sau khi hoàn thiện sẽ được chải qua một lớp nhựa thông có pha cồn để tăng độ bóng và chống thấm. cuối cùng, những sản phẩm đặc biệt này sẽ có mặt trên thị trường, trong chợ, cửa hàng lưu niệm.

bài viết số 5 lớp 10 đề 3 – văn mẫu 3

Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ tự tình lớp 11

Làng gốm Bát Tràng nằm ở tả ngạn sông Hồng, thuộc huyện Gia Lâm, cách trung tâm thủ đô Hà Nội hơn 10 km về phía đông nam và nam. Nói đến làng nghề nổi tiếng không thể không nhắc đến làng gốm Bát Tràng. Làng nghệ nhân này đã tồn tại ở ngoại ô Thăng Long hơn 500 năm. Khung cảnh ở Làng Gốm Bát Tràng cũng rất thơ mộng nên bạn sẽ có nhiều hoạt động thú vị để khám phá, đặc biệt là cưỡi xe trâu dạo quanh làng.

Để làm ra gốm, người thợ gốm phải trải qua các công đoạn chọn, xử lý và trộn đất, nặn, tạo hoa văn, tráng men và cuối cùng là nung sản phẩm. Kinh nghiệm truyền thống của người dân làng gốm Bát Tràng là “thứ nhất xương, thứ hai da, thứ ba nước lợ”. Người thợ gốm quan niệm một hiện vật gốm sứ không khác gì một cơ thể sống, một vũ trụ thu nhỏ, trong đó có sự kết hợp hài hòa của ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. sự phát triển của nghề được coi là sự tinh thông của ngũ hành, nhưng thành công của ngũ hành nằm ở quá trình lao động sáng tạo với quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt và chính xác.

Điều quan trọng đầu tiên để hình thành lò gốm là nguồn đất sét để làm gốm. các trung tâm sản xuất đồ gốm cổ thường được sản xuất trên cơ sở khai thác tài nguyên đất đai của địa phương. Làng Gốm Bát Tràng cũng vậy, sở dĩ người làng Bồ Bát chọn làng Bát Tràng hiện nay là vùng đất để định cư và phát triển nghề gốm vì họ lần đầu tiên phát hiện ra mỏ đất sét trắng ở đây. Vào thế kỷ 18, nguồn đất sét trắng tại chỗ cạn kiệt nên người dân Bát Tràng buộc phải tìm kiếm nguồn đất mới. Khác với tổ tiên, người Bát Tràng vẫn định cư ở những vị trí giao thông thuận lợi, qua sông, bến cảng, sử dụng tàu thuyền để mở mang và khai thác tài nguyên mới từ đất liền.

Trong đất nguyên liệu thường có lẫn tạp chất, ngoài ra tùy theo yêu cầu của từng loại gốm khác nhau mà có thể có cách trộn đất khác nhau để tạo ra sản phẩm phù hợp. Ở Bát Tràng, phương pháp xử lý đất truyền thống là xử lý bằng cách ngâm đất trong hệ thống bể, gồm 4 bể ở các độ cao khác nhau.

Phương pháp tạo hình truyền thống của dân làng Bát Tràng là làm bằng tay trên bàn xoay. Ở công đoạn làm mẫu, người thợ gốm Bát Tràng sử dụng một cách phổ biến là “chuyền tay, nong khí quản” trên bàn xoay

khám phá các sản phẩm chế biến gỗ để chúng khô, không nứt, không thay đổi hình dạng của sản phẩm. Phương pháp tối ưu mà người xưa thường áp dụng là phơi khô các đồ vật trên giá và để nơi thoáng mát. ngày nay, hầu hết các gia đình sử dụng phương pháp làm khô đồ vật trong tủ sấy, tăng nhiệt độ từ từ để nước bay hơi dần. các sản phẩm đồ gỗ định hình phải được “ủ” và sửa chữa để hoàn thiện.

người thợ gốm dơi sử dụng bút lông để vẽ hoa văn và họa tiết trực tiếp lên nền mộc mạc. người vẽ gốm phải có tay nghề cao, hoa văn và họa tiết phải hài hòa với hình thức của gốm, những họa tiết trang trí này đã nâng gốm lên tầm nghệ thuật, mỗi người là một tác phẩm. Người thợ gốm Bát Tràng còn dùng nhiều cách trang trí khác, có tác dụng mỹ thuật như xâu chỉ, tráng men màu, vẽ men màu … Khi sản phẩm chế tác gỗ hoàn chỉnh, người thợ gốm có thể nung trước sản phẩm ở nhiệt độ thấp, sau đó tráng men hoặc sử dụng. các sản phẩm gỗ thành phẩm trực tiếp trên đỉnh và sau đó đốt cháy.

Hầu hết đồ gốm ở Bát Tràng được sản xuất thủ công, điều này thể hiện rõ tài năng sáng tạo của người nghệ nhân được truyền từ đời này sang đời khác. Do tính chất của nguyên liệu để tạo ra lõi gốm và việc tạo mẫu thủ công trên bàn xoay, cộng với việc sử dụng men khai thác trong nước theo kinh nghiệm nên gốm Bát Tràng có đặc điểm cốt lõi là đầy, chắc và khá nặng, men trắng thường ngà, đục. Bát Tràng cũng là một thành phố gốm có các dòng men riêng, từ men ngọc trắng nâu đến men rạn với lõi gốm màu nâu xám.

bài viết lớp 5 đề 3 – văn mẫu 4

“Bên em sẽ hạnh phúc. Áo lụa, em mang thêm vẻ đẹp của con người.”

Nhắc đến các làng nghề thủ công truyền thống của Hà Nội không thể bỏ qua Làng lụa Vạn Phúc, một trong những làng nghề thủ công mỹ nghệ nổi tiếng của Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung. nơi đây không chỉ là nơi lưu giữ hồn cốt những nét đẹp văn hóa của cả dân tộc mà còn là một trong những điểm đến thu hút du khách. Hãy cùng khám phá những nét đẹp tinh túy của thị trấn nghệ nhân truyền thống này.

Làng lụa hà đông hay còn gọi là làng lụa văn phúc, thuộc khu phố văn phúc, huyện hà đông, cách trung tâm thành phố hà nội khoảng 10 km. Đây là một trong những làng nghề truyền thống nổi tiếng ở Hà Nội chuyên làm vải lụa.

Bên bờ sông Nhuệ, Làng nghề Vạn Phúc vẫn còn nguyên nét cổ kính của vùng quê xưa với hình ảnh giếng làng hoa sen bên cây đa cổ thụ và những ngôi chợ trước đình. lá dong đã trở nên nổi tiếng khắp nơi, trở thành nguồn cảm hứng vô tận trong thơ ca đại chúng, cũng như những tác phẩm truyền hình nổi tiếng như “áo lụa hà đông”… những chiếc khung dệt cổ xen kẽ với khung dệt hiện đại ngày nay vẫn còn được cơ khí lưu giữ như một lời nhắc nhở về quá khứ. và truyền thống của dân tộc.

Làng nghệ nhân van phúc ra đời cách đây khoảng 1200 năm, do một người phụ nữ thanh cao nổi tiếng xinh đẹp, dệt lụa giỏi theo chồng về làm dâu ở làng văn phúc. cô cũng là người đã truyền lại khả năng cho dân làng nên sau khi chết cô được phong làm hoàng tử của làng.

Đến nay, làng Vạn Phúc có khoảng 800 hộ dệt, chiếm 60% dân số sống trong làng. Mỗi năm, làng nghệ nhân sản xuất từ ​​2,5 đến 3 triệu m2 vải, chiếm 63% thu nhập của toàn làng.

Lụa tơ tằm van phúc có tên tuổi không chỉ được ưa chuộng trong nước mà còn được xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới. không chỉ góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa tinh thần truyền thống to lớn mà còn góp phần giải quyết việc làm, đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước.

Những mảnh lụa được tạo ra bởi những người thợ tài hoa qua nhiều công đoạn như khâu lụa, khâu chỉ, dệt, nhuộm … mỗi công đoạn đều phải tuân theo những quy định vô cùng nghiêm ngặt. Ngày nay, khi đến với làng nghệ nhân, bạn có thể yêu cầu nghệ nhân thêu tay bất kỳ hình ảnh nào bạn thích, thể hiện sự sáng tạo độc đáo của làng nghệ nhân truyền thống này.

qua nhiều thế hệ và nhiều bàn tay thợ dệt, đến nay, người dân làng văn đã thay da, đổi thịt. Những mảnh lụa được tạo ra không chỉ có chất lượng tốt, đẹp và độc đáo, sáng tạo mà còn phải hoàn hảo đến từng đường kim mũi chỉ. các hoa văn không chỉ tinh tế, độc đáo mà còn đối xứng, mượt mà và hài hòa.

Đến nay, Làng nghệ nhân Vạn Phúc vẫn giữ được những giá trị truyền thống vượt thời gian. Nó không chỉ gợi nhớ về một nền văn hóa, linh hồn của dân tộc mà hơn thế, nó còn giúp truyền bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.

..

bài viết lớp 5 đề 4

title : mô tả về các ngày lễ hoặc lễ hội truyền thống thể hiện vẻ đẹp của thời đại

bài viết lớp 10 đề 4 – văn mẫu 1

Vui hội, náo nhiệt là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Người Việt tổ chức lễ hội để bày tỏ lòng biết ơn đối với các đấng siêu nhiên như thần thánh hay anh hùng dân tộc. Lễ hội Gióng cũng là một lễ hội mang ý nghĩa thiêng liêng nhằm tôn vinh thánh gióng, tức là phu đồng thien tích.

Lễ hội là lễ hội truyền thống nhằm tưởng nhớ và ca ngợi công đức của vị anh hùng thánh Gióng, một trong tứ bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Lễ hội mô phỏng sinh động các trận đánh của các Thánh và nhân dân Văn Lang trong cuộc chiến chống giặc Ân, từ đó nâng cao nhận thức của cộng đồng về các hình thức chiến tranh bộ lạc cổ xưa. thời đại giáo dục lòng yêu nước, truyền thống thượng võ, ý chí quật cường và khát vọng độc lập. và quyền tự do của quốc gia.

Lễ hội cồng chiêng được tổ chức ở nhiều nơi ở đồng bằng Bắc Bộ, nhưng tiêu biểu nhất là lễ hội ở các đền phủ, phủ Hà Nội. Lễ hội tại đền Sóc (xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) diễn ra vào ngày 6 đến 8 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Theo truyền thuyết, sau khi đánh tan giặc an, phủ linh là nơi dừng chân cuối cùng của vị thánh trước khi bay về trời.

Để tưởng nhớ công ơn của thánh hiền, tại đây, nhân dân đã xây dựng khu di tích đền soc gồm 6 công trình: đền hạ (còn gọi là đền trinh), chùa đại bi, đền mẹ, đền thượng (còn gọi là sóc. chùa), tượng thánh gióng và nhà bia. trong đó, thượng điện là nơi thờ thánh và thực hiện phần lễ với đầy đủ các nghi lễ truyền thống như: Lễ mái ngói; quá trình; lễ dâng hương; nghi lễ voi và ngựa…

Để chuẩn bị tiệc chính, đêm mùng 5 tổ chức tiệc mộc dục (tượng phòng tắm) để mời thánh tổ đến dự tiệc. Vào ngày mồng sáu của lễ hội, nhân dân 8 thôn thuộc 6 xã nằm xung quanh khu di tích đền Sóc là Tân Minh, Tiên Y, Phù Linh, Dư Hòa, Xuân Giang và Bắc Phú dâng lễ vật được chuẩn bị chu đáo. cầu mong Đức thánh cha phù hộ cho dân làng có một cuộc sống ấm no và hạnh phúc.

nơi lần đầu tiên tổ chức lễ dâng hoa tre lên đền thượng thôn Vệ linh (xã phú linh). hoa tre được làm bằng những thanh tre dài khoảng 50 cm, đường kính khoảng 1 cm, đầu tre được tuốt và nhuộm màu để tượng trưng cho roi ngựa của thánh nhân. Những bông hoa tre sau khi cúng xong lên chùa trên sẽ được rước xuống chùa dưới và phân phát cho những người tham dự để cầu may.

vào sáng ngày mồng 7 chính hội (ngày thánh theo truyền thuyết), cảnh bắn hạ tướng giặc khắc họa 3 tướng giặc cuối cùng dưới chân núi Vệ Linh trước khi bay về trời. Chiều mùng 8, lễ hội voi và ngựa giấy lớn được tổ chức để kết thúc lễ hội vì voi chiến và ngựa sắt là hai linh vật gắn liền với quá trình chiến thắng và ngựa sắt là hai. nó gắn liền với quá trình thiêng liêng đánh giặc, bảo vệ ruộng đồng.

Tất cả những du khách tham gia lễ hội đều mong đoàn kết đưa voi, ngựa ra bờ sông để hóa thân vì theo tín ngưỡng, ai chạm tay vào vật tế thánh sẽ gặp nhiều may mắn trong cuộc sống. Trong lễ hội, nhiều trò chơi dân gian cũng được tổ chức như chọi gà, cờ tướng, hát ca trù, hát chèo …

Lễ hội ở đền phủ đồng giống như một nhà hát dân gian lớn với hàng trăm vai diễn được trình diễn theo một kịch bản chuẩn. trong đó mỗi vai diễn đều chứa đựng những ý tứ rất sâu sắc như: “ông là chức tước” họ là tướng của các bậc thánh hiền; “Phu giá” là quân chính quy của thánh hiền; các “nữ tướng” đại diện cho 28 đội quân xâm lược của một triều đại; “mr hổ” là tướng quân; “làng áo đỏ” là đội quân trinh sát trẻ trung; “những người mặc áo đen” là đội dân quân …

Ngoài ra, lễ hội còn có các lễ rước như: “rước đường” là đi lùng giặc; “rước nước” là tinh luyện vũ khí trước khi xuất quân; việc “rước đồng đập” là để thương lượng, xin hòa; “Diễu hành của trận chiến của bia” là một mô phỏng cách điệu của các trận chiến ác liệt …

Giá trị toàn cầu nổi bật của hiệp hội thể hiện ở chỗ nó là một hiện tượng văn hóa được bảo tồn, lưu truyền khá liên tục và trọn vẹn qua nhiều thế hệ. lễ hội còn mang vai trò gắn kết cộng đồng, chứa đựng nhiều ý tưởng sáng tạo, thể hiện khát vọng đất nước thái bình, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Về mặt nghệ thuật, lễ hội mang trong mình nhiều nét đẹp và giá trị đặc trưng của lễ hội như rước, cờ, trống, chiêng, các trò diễn dân gian, múa kỵ binh, múa hổ … vào ngày 16/11/2010, tại thành phố nairobi (thủ đô của kenya), trong kỳ họp thứ 5 của ủy ban liên chính phủ theo đại hội unesco năm 2003, hiệp hội đã được chính thức công nhận tại các chùa phú đồng và soc. đại diện di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. UNESCO đã ghi nhận một cách ngắn gọn và đầy đủ về lễ hội là “một bảo tàng văn hóa của Việt Nam, lưu giữ nhiều tầng văn hóa và tôn giáo”.

bài viết lớp 5 đề 4 – văn mẫu 2

Mỗi vùng đất có một phong tục riêng. và lễ hội cũng vậy, không có hai miền nào giống nhau. đây là những gì làm cho khu vực độc đáo. Tháng Giêng vừa rồi, tôi có dịp đi Hải Phòng và xem lễ hội chọi trâu. Đây là lần đầu tiên tôi được xem một cảnh chọi trâu ấn tượng như vậy.

Lễ hội chọi trâu không phải vùng nào cũng có, ở quê tôi cũng không có lễ hội đó. Tại Hải Phòng, lễ hội chọi trâu được tổ chức vào mùa xuân. vì đây là lúc mọi người có thời gian vui chơi, thư giãn và tham gia các lễ hội mùa xuân.

ở đây bà con chuẩn bị một cái hiên thật to và rộng, hai làng sẽ chuẩn bị hai con trâu khỏe nhất để chọi nhau. trâu ngã trước thì thua và ngược lại. Hai con trâu chọi có màu lông sẫm, da bóng trông rất khỏe khoắn và đầy sức mạnh. đôi mắt lấp lánh của hai con trâu tiếp tục nhìn nhau.

Hai con trâu bắt đầu tiến lại gần, chân dập xuống đất và mũi không ngừng thở. những chiếc sừng trâu cong vút, khỏe khoắn dường như đang chuẩn bị bước vào trận chiến khốc liệt và đẫm máu nhất. hai con trâu liên tục chạy vào nhau, sừng cọ xát, xô đẩy nhau bất phân thắng bại.

xung quanh tiếng hò reo của người dân, không khí của lễ hội chọi trâu trở nên sôi động và vui nhộn hơn bao giờ hết. hai con trâu chọi nhau trên bãi cỏ, vồ vồ nhóm nhổ trơ trọi trên mặt đất. đôi khi con trâu khác lao vào con trâu này, khiến chân con trâu này chìm xuống một hố cạn, nhưng cũng đủ để người xem cảm thấy trận chiến đang diễn ra ác liệt.

Con trâu ở làng sau do khỏe hơn và lâu hơn nên đã húc trâu làng bạn một lần. nhưng may mắn thay, con trâu kia có sức chống cự nên đã bình phục. cả hai anh chàng vẫn khiến trái tim người xem loạn nhịp không biết bao nhiêu lần. nhưng cuối cùng con trâu to nhất làng bên đã húc con trâu kia phải khuỵu xuống, kết quả hội chọi trâu được công bố. Tôi rất ấn tượng với lễ hội này ở Hải Phòng.

bài viết số 5 lớp 10 đề 4 – văn mẫu 3

Việt Nam là quê hương của lễ hội nên cứ vào dịp đầu xuân trên khắp đất nước ta lại rộn ràng không khí lễ hội, người người đổ về các nơi có lễ hội hành hương, lễ phật cầu an. Những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn và gia đình bạn. Đây là một tín ngưỡng lâu đời và lễ hội cũng đã trở thành một nét đẹp văn hóa của Việt Nam.

Tôi cũng rất may mắn khi được chứng kiến ​​sân khấu lễ hội đầy linh thiêng nhưng cũng không kém phần náo nhiệt. Đó là lần tôi cùng bà ngoại đi dâng hương ở một ngôi chùa gần nhà, nhất là khi tôi và bà ngoại đi vào dịp lễ vía Bà, nên tôi có dịp chứng kiến ​​nhiều cảnh khó quên của môi trường lễ hội ấy.

lễ hội mà tôi may mắn được tham dự là lễ hội đền bia, đây là lễ hội thường được tổ chức vào ngày 20 tháng Giêng hàng năm. tức là sau tết âm lịch, người dân vùng này tất bật chuẩn bị mọi thứ cho lễ hội. Đền bia là một ngôi đền thuộc xã Cẩm văn, huyện Cẩm giang, tỉnh Hải Dương, đây là ngôi đền thờ danh y đại danh y, một danh y Việt Nam không chỉ về tài năng mà còn về đức độ. / p>

Chuyện kể rằng ngày xưa, nhà y thuật lớn họ Tinh được vua cử đi sứ sang Trung Quốc, tại đây nhờ tài năng y thuật siêu việt, ông đã chữa khỏi bệnh cho Tống Vương, hoàng hậu của nhà Minh. Từ đó, ông được kính trọng, vua Minh phong cho ông là “Đại thiền sư y thuật”, nên ông không thể trở về quê hương mà phải ở lại Trung Quốc.

Dù xa quê, nhưng trong lòng ông không bao giờ ngừng nghĩ về quê hương, khi mất ông dặn mọi người khắc dòng chữ trên bia mộ của ông “ai đi về phía nam, hãy để tôi đi”, đây là niềm khát khao thiết tha đối với sự khôn ngoan Sau đó, có một vị lương y Nguyễn danh nho tình cờ đi ngang qua, khi đọc được những dòng tâm nguyện này, ông rất cảm động nên đã cho khắc dòng chữ này lên một tấm bia khác và mang về quê hương như để cầu cứu danh sĩ. điều này có thể đáp ứng mong muốn của bạn.

nhưng trên đường trở về, thuyền bị lật, bia đá rơi xuống nước không tìm thấy ở đâu và nơi bia rơi là xã Vân thai ngày nay. và khi nước cạn, người dân đã tìm thấy tấm bia này. Để tưởng nhớ danh y, người dân nơi đây đã dựng đền thờ và gọi là đền thờ bia.

hàng năm cứ sau tết âm lịch, dòng người từ khắp nơi lại đổ về đây để dâng hương và cầu mong những điều tốt lành, bởi nơi đây nổi tiếng là ngôi chùa linh thiêng, cầu may. , tiền bạc hay vận may mà mọi người đều muốn xem.

Hôm đó, tôi và bà ngoại đi lễ chùa này nên đặc biệt đông đúc và nhộn nhịp, con đường dài dẫn vào chùa chật ních xe máy và ô tô đậu bên đường, người thì dắt díu nhau vào chùa làm lễ. Tôi và bà ngoại đã phải rất vất vả mới vào được chùa. May mắn thay, ngay khi chúng tôi đến nơi, lễ rước tượng đã bắt đầu diễn ra.

Vẫn là khung cảnh đông đúc, nhưng khi lễ rước bắt đầu, dòng người hành lễ đứng trật tự hai bên đường, tạo không gian cho đoàn rước đi qua. Tôi không biết tại sao, nhưng tôi cảm thấy không khí lúc đó linh thiêng và thành kính hơn một chút và mặc dù không hiểu nhiều nhưng tôi đã đi theo cô ấy, xem đám rước với một tấm lòng thành kính.

đoàn rước tượng gồm mười lăm người, trong đó có một đoàn năm người tài trí khiêng kiệu của đại tiến sĩ, là pho tượng ngồi uy nghi, trang nghiêm trên ghế đỏ. Xung quanh chiếc kiệu đó là một tấm màn đỏ trông thật huyền bí. những người còn lại thì cầm cờ, đánh trống, đánh chiêng rất náo nhiệt.

Khi vào chùa, mọi người đều thành tâm thắp hương cầu mong những điều tốt đẹp sẽ đến với mình, với đủ mọi lứa tuổi, kể cả bà, cô, mẹ và các anh, các chị. tất cả họ đến đây với sự tôn trọng. Trước chùa có một lư hương rất lớn, đây là nơi mọi người dâng hương.

ba bảo vật và các đền thờ xung quanh không thắp hương được vì du khách thập phương quá đông, nếu thắp hương quá nhiều có thể sinh ra khói và gây cháy. khuôn viên chùa cũng rất đông đúc, có các vị sư ngồi viết chữ thảo, các vị thần đọc quẻ, tất cả đều náo nhiệt vô cùng.

Đây là lần đầu tiên tôi đến chùa trong một lễ hội như vậy. Qua buổi lễ hôm đó, tôi cũng có thêm nhiều hiểu biết và ấn tượng về lễ hội ở đền bia. Em cũng thành tâm cầu chúc sức khỏe cho ông bà, cha mẹ và em cũng muốn học thật giỏi để không phụ lòng cha mẹ.

bài viết lớp 5 đề 4 – văn mẫu 4

Cứ đến đầu tháng 3 âm lịch, mọi người ở quê tôi lại nô nức chuẩn bị đi trẩy hội. theo lời ông cha kể lại: hàng năm, ngày mồng sáu tháng ba âm lịch là ngày tưởng nhớ công chúa liễu hanh ở làng kim thai, làng văn cát, cách làng tôi chừng 10 cây số.

Sáng nay cả nhà dậy rất sớm, ăn tối và còn thức đêm để chuẩn bị liên hoan. mọi người ăn mặc rất đẹp, tôi và con tôi “diện” những bộ quần áo mới nhất. Khi ra đến đường chính, tôi thấy một nhóm người vừa đi vừa cười nói, gia đình tôi cũng tham gia vào chung vui.

khoảng 8 giờ, bạn sẽ được bảo hiểm. xin chào! Tất cả các con đường dẫn đến ngôi đền chính đều chật cứng người. ô tô, xe máy bấm còi inh ỏi nhưng không thể qua nhanh. có khi mẹ phải bế con đi qua chỗ đông người, tôi phải nắm chặt tay bố để không bị lạc.

Khi tôi đến trước ngôi đền chính, đầy những người mặc những chiếc khăn sặc sỡ, nhảy múa và ca hát khi họ bước đi. chính điện là một dãy nhà to lớn với ba lầu chuông, càng vào sâu, các đồ thờ tự càng hiện ra uy nghi, lộng lẫy trong làn khói hương nghi ngút.

Sau khi rời khỏi đền chính, cha tôi đưa chúng tôi đến thăm lăng mộ của hoàng hậu. Chuyện kể rằng xưa kia, trong một giấc mơ, nàng kể cho vua nghe một hoàng tử sinh hạ hoàng tử, nên nhà vua đã cho đem đá ngũ sắc và nhiều loại gỗ quý bằng huê để xây một lăng rất to và đẹp.

Trước khi đi, chúng tôi còn đến thôn kim thai để xem ngôi chùa nhỏ, còn có một cây chuối thần cách đây vài năm đã nở một buồng từ 120 đến 150 chùm. Đi ngang qua cửa hàng, bố mua cho hai anh em mỗi người một chiếc trống ếch, phát ra tiếng “bông” rất vui tai.

sau khi rời đi một quãng đường xa, tôi vẫn ngoái lại nhìn để thấy cảnh đẹp hùng vĩ làm sao. Từ bao đời nay, những người thợ xây và thợ mộc đã góp phần xây dựng nên một di tích lịch sử về bà chúa trồng liễu và vẻ đẹp của quê hương Nam Định mà nhiều người đi xa thường nhớ về.

………….

tải xuống tệp tài liệu để xem thêm chi tiết

Tham khảo: Soạn bài Con cò | Soạn văn 9 hay nhất

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Bài viết số 5 lớp 10 văn thuyết minh. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.