Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
197 lượt xem

Bình giảng tác phẩm truyện Kiều của Nguyễn Du – PDF Free Download

Bạn đang quan tâm đến Bình giảng tác phẩm truyện Kiều của Nguyễn Du – PDF Free Download phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Bình giảng tác phẩm truyện Kiều của Nguyễn Du – PDF Free Download

ghi lại

1 bình luận về lịch sử kiều nguyễn du tác giả: elisa bình luận về tác phẩm lịch sử kiều nguyễn – bài số 1 “lịch sử còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn vẫn còn (pham quynh), kiệt tác truyện kí được viết bởi một nhà thơ lớn của dân tộc: nguyễn du. nguyễn du sinh năm 1765 mất năm 1820 tại tiên hiền, nghi xuân, hà tinh. gia đình có cha và anh trai của ông là tể tướng của dòng họ lê, ông sớm chịu nhiều thiệt thòi mẹ cha mất từ ​​khi ông còn nhỏ và ông phải ở nhờ nhà anh trai, sau đó nông dân nổ ra cuộc khởi nghĩa, cuộc đời của nguyễn du cũng vậy. đã phải trải qua nhiều thăng trầm. Truyện kiều thuộc thể loại truyện khoa cử, truyện du mục là một tác phẩm tự truyện dài, được viết bằng tiếng việt và được viết theo thể loại truyện ngôn tình. lịch sử của người du mục ra đời từ thế kỷ 16, 17 và phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ 18; cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 20 các sáng tác giảm dần. Truyện du mục ban đầu có tác phẩm viết theo thể thơ lục bát, nhưng sau đó trở nên phổ biến ở thể thơ lục bát. Có hai loại truyện du mục: truyện du mục dân gian được viết trên cơ sở truyện dân gian và truyện du mục bác học được viết trên cơ sở các truyện hiện có trong văn học Trung Quốc (truyện kiều); hoạt động dựa trên các âm mưu hư cấu. Nguyên du viết truyện kiều theo truyện kim văn kiều, một tiểu thuyết ngắn nhiều chương (20 đoạn) của tác giả thanh tam tài (Trung Quốc). Mặc dù không rõ thời gian viết Truyện Kiều, nhưng nhiều nhà khoa học cho rằng tác phẩm được sáng tác trong một quá trình lâu dài, bắt đầu từ Mười năm gió bụi ở Thái Bình (1789), và được hoàn thiện thêm vào thời kỳ nghỉ xuân (1796). ). lắng nghe)) cho đến khi Nguyễn Du làm quan dưới triều Nguyễn (1802). truyện kiều được tác giả Nguyễn Du đặt tên là Đoạn trường tân thanh, gồm 3254 câu thơ lục bát. Nguyễn Du đã biến câu chuyện tình yêu thành một khúc ca đau lòng về những con người lưu ly, gián tiếp phản ánh những sự thật đau buồn trong giai đoạn cuối và đầu của lịch sử nhà Nguyễn, thể hiện niềm thương xót vô bờ đối với con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến. nguyễn du lược bỏ những chi tiết thủ đoạn, sự trả thù độc ác và một số chi tiết thô tục trong tác phẩm Thanh tâm tài sắc, thay đổi thứ tự trần thuật và sáng tạo thêm một số chi tiết mới để tạo nên thế giới nhân vật hiện thực; biến những sự việc chính của vở diễn thành đối tượng để bộc lộ tâm tư, tình cảm của nhân vật và người kể; nó chuyển trọng tâm của truyện từ kể sự kiện sang thể hiện nội tâm nhân vật, làm cho các nhân vật sống động hơn, sâu sắc hơn và tác phẩm trở thành một bách khoa toàn thư về nhiều tâm trạng. chia sẻ trên

Bạn đang xem: Bình về truyện kiều

Xem thêm: Cảm nghĩ về nhân vật Mã Giám Sinh trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều

2 tác phẩm có giá trị sâu sắc về nội dung tư tưởng. trước hết là nội dung nhân đạo của nó. tác phẩm là bài ca về tình yêu tự do và ước mơ công lý. Chủ đề này tập trung vào mối tình giữa Thúy Kiều – Kim Trọng và hình tượng nhân vật Hai. đó cũng là tiếng khóc cho số phận con người: tiếng khóc cho sự tan vỡ của tình yêu trong sáng, chân thành; khóc cho sự chia lìa ruột thịt; khóc cho nhân phẩm bị chà đạp; khóc cho thân thể con người bị bức hại. truyện kiều còn có giá trị hiện thực: là sự tố cáo mạnh mẽ, mạnh mẽ những thế lực đen trong xã hội phong kiến ​​(quan lại, thổ phỉ…), bộc lộ thế lực tiền đồng tham nhũng; Bị trói buộc vào thế giới quan thời trung đại, Nguyễn Du cũng lên án tạo hóa và số phận, nhưng với trực giác của một nghệ sĩ, ông đã chỉ ra một cách chính xác kẻ đang chà đạp quyền sống của con người trong hiện thực. về nghệ thuật, truyện kiều rất thành công ở nghệ thuật xây dựng nhân vật. tác phẩm thể hiện một nghệ thuật xây dựng nhân vật sống có những nét tiêu biểu, đặc sắc, đặc biệt là tâm lí nhân vật, chỉ cần cô đọng một vài từ là bộc lộ ngay thần thái của nhân vật. đó là về nhân vật chính, Nguyễn Du miêu tả bằng lối viết thông thường, chọn những hình ảnh ước lệ tiêu biểu nhất để nhân vật có tính cách không nhầm lẫn với các nhân vật thông thường khác trong văn học trung đại Việt Nam. . với các nhân vật phản diện, ông sử dụng lối viết hiện thực để miêu tả đầy đủ cơ thể vật chất của họ (nguyễn đăng manh). Có thể nói, với mỗi nhân vật, dù chính diện hay chính diện, nguyễn du thường tìm được thần thái của nhân vật để miêu tả, dù chỉ là vài dòng, vài chữ cũng có thể lột tả được toàn bộ bản chất của. nhân vật. nghệ thuật kể chuyện trong truyện Kiều cũng là một thành công đáng chú ý. tác phẩm là mẫu mực của nghệ thuật kể chuyện và trữ tình bằng thể thơ lục bát, với lối trần thuật và giới thiệu nhân vật độc đáo, lối viết miêu tả tinh tế; đặc biệt là nghệ thuật kể chuyện theo điểm nhìn của nhân vật, làm cho những sự việc, cảnh vật thấm đẫm cảm xúc và thế giới tình cảm của nhân vật được bộc lộ trực tiếp. nhưng truyện Kiều được đánh giá cao cả về thể loại và ngôn ngữ: tác phẩm là sự kết tinh của tinh hoa văn học dân tộc cả về ngôn ngữ và thể loại. ngôn ngữ lịch sử của kiều rất rõ ràng. trong tác phẩm có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân. các từ ngữ tiếng Việt được sử dụng được chọn lọc ở mức độ vừa phải, sử dụng hợp lý, đúng chỗ, đúng lúc. Ngoài ra, hầu hết là lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, các bài ca dao, tục ngữ, thành ngữ được vận dụng khéo léo và nhuần nhuyễn. Lời bài hát của những câu chuyện kiều được viết cách đây hàng trăm năm vẫn còn mang nét hiện đại để đọc đến bây giờ. ngôn ngữ cho nhân vật rất riêng, lời nói của nhân vật phù hợp với nhân vật đó, làm rõ được thần thái của nhân vật, không thể nhầm lẫn ngôn ngữ của nhân vật này với nhân vật khác dù cùng thuộc nhân vật chính hay hệ thống đối kháng. Qua tác phẩm, Nguyễn Du đã nâng ngôn ngữ dân tộc lên thành ngôn ngữ của nghệ thuật và nghệ thuật, chia sẻ sức mạnh biểu hiện những biến thái của cảnh vật thiên nhiên và những biểu hiện tinh tế trong tâm hồn con người.

3 thể thơ lục bát được sử dụng rất tài tình, ưu điểm của thể loại này là vận dụng vừa sức để thể hiện nhiều sắc thái của cuộc sống và những biểu hiện tinh tế trong đời sống tinh thần của tâm hồn con người. Nhờ tài năng và kiến ​​thức không giới hạn của mình, Nguyễn Du đã đặc biệt thành công trong việc xây dựng một tiểu thuyết sử dụng thể thơ lục bát, một tiểu thuyết hoàn chỉnh không một câu văn gượng ép. vì vậy, vở tuồng được đông đảo nhân dân vùng sông nước yêu thích và sử dụng như một bài hát ru, như một cuốn sách bói toán, v.v. Sử ký là kiệt tác số một của dân tộc Việt Nam, là di sản văn học của nhân loại, là một bộ sưu tập lớn của các phương tiện truyền thông văn hóa nghệ thuật của Việt Nam, tiêu biểu cho tình cảm của con người Việt Nam. đó vừa là tấm lòng nhân ái sâu sắc, tấm lòng nghĩ đến muôn đời, vừa là thái độ trân trọng, nâng niu những giá trị nhân văn cao cả của con người. bình giảng tác phẩm truyện kí nguyễn du – bài 2 nguyễn du là nhà thơ sống hết mình với tư tưởng, tình cảm và tài năng nghệ thuật của mình trong suốt tác phẩm, trong suốt cuộc đời và sự thể hiện của mình. rõ ràng nhất qua áng văn chính là sử kiều. Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Quý dậu, tức ngày 3 tháng 1 năm 1866 tại Kinh thành Thăng Long, trong một gia đình quý tộc lớn. Thân sinh của ông là Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm (), làm quan đến chức Tể tướng (Tể tướng), tước Xuân Quận công nhà Lê. mẹ là Trần thị tân, quê ở kinh bắc, nổi tiếng xinh đẹp. Năm 13 tuổi, ông mồ côi mẹ, phải sống với anh trai là Nguyễn Khản. cuộc đời của người anh tài hoa, lịch lãm hơn anh 31 tuổi này đã ảnh hưởng rất nhiều đến nhà thơ. Việc Nguyễn Du vươn lên làm quan đã thành công. nhưng anh không quan tâm đến danh tiếng. trái tim anh đau nhói, buồn bã, phẫn nộ trước những gì anh thấy khi anh đi lang thang, quanh quẩn với những người da đen, và thậm chí sống giữa chốn quan liêu. ông đã đổ tất cả máu xương của mình cho văn chương và thơ ca. thơ anh là tiếng nói trong trái tim anh. đó là tình cảm sâu sắc của ông đối với một kiếp người khốn khổ, khốn cùng, sự căm ghét rõ ràng của ông đối với những số phận con người. sinh ra trong một gia đình quyền quý, được sống trong một môi trường văn học uyên bác, nhưng ông có cách nói riêng, bình dân, giản dị, dễ hiểu, thấm nhuần chất ca dao của nước nhà. Đối với thơ cổ điển, sáng tác của ông có thể chia thành ba giai đoạn. Trong thời gian sống ở Tiên Điền Nghi Xuân đến năm 1802, ông có làm bài thơ kể rằng các chàng trai đội nón lá ở chung với 2 cô gái cùng trường. đó là hai bản tình ca thể hiện rõ nét tính anh, sự đồng điệu của tâm hồn tác giả với thiên nhiên và con người. trong ba tuyển tập thơ chữ Hán, “thanh hiền thi tập” gồm 78 bài thơ, viết về cô nhi và những năm tháng mới về tiên hiền, đó là lời trăn trở, là tâm sự, là thái độ của nhà thơ đối với cuộc sống. hỗn loạn từ năm 1809, các sáng tác thơ của ông được tập hợp trong tuyển tập 40 bài thơ đầy cảm hứng, tự tin và sầu muộn. tài liệu chia sẻ về truyện kiều được nguyễn du dịch và sáng tạo từ tiểu thuyết kim văn truyện

XEM THÊM:  Nhà xuất bản văn học logo

4 kiều “của thanh tâm tài năng, tên thật là tu van truong, sinh ra tại sơn am huyện, phiệt giang, trung quốc. Truyện của kiều đã được nhân dân ta đón nhận nhiệt tình, đôi khi đã trở thành một vấn đề xã hội, điển hình là cuộc tranh luận xung quanh luận điểm “thiện ác hữu báo” giữa đại trưởng lão, đức thị và đức lang quân, thu hút nhiều người hai bên cùng tranh luận, không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc tranh luận giữa các tầng lớp thành thị, những câu chuyện về Kiều cũng say sưa đọc và viết bởi vị vua thượng đẳng minh mang là người đầu tiên chủ trì việc mở đàn bằng cách kể lại câu chuyện của kiều và lệnh cho các quan trong viện phải chép lại. triều đại nhà vua thường triệu các học giả trong triều để viết và viết lại lịch sử của kiều bào văn đàn, ở khu vực văn lau, đã được các nhà nghiên cứu dịch ra nhiều thứ tiếng từ Lịch sử của kiều rất được thế giới đánh giá cao. dịch giả người Pháp Rene-crir-sac khi dịch truyện của kiều đã viết một bài nghiên cứu dài 96 trang. g, có đoạn văn viết: “Kiệt tác của nguyễn du xứng với kiệt tác của bất kỳ nước nào, thời đại nào. So với văn học Pháp: trong tất cả các nền văn học Pháp, không có một tác phẩm nào được nhiều người biết đến, tôn sùng và được yêu thích bởi tất cả những người làm cuốn sách này ở Việt Nam “, và kết luận:” hạnh phúc “. tác phẩm đã lay động và âm vang mọi tâm hồn dân tộc “. Năm 1965 được hội đồng hòa bình thế giới chọn là năm kỷ niệm 200 năm ngày sinh của cụ Nguyễn Du. Nguyễn du là một nhà thơ sống hết mình, hết tâm tư, tình cảm và nghệ thuật. tài năng xuyên suốt trong tất cả các tác phẩm của ông, trong suốt cuộc đời của ông và được thể hiện rõ nét nhất qua tác phẩm văn học tuyệt vời là truyện kiều. trong truyện kiều ta thấy xã hội, ta thấy tiền, ta thấy một nguyễn du ẩn trong từng lời, từng ý, một nguyễn du sâu sắc, từng trải, một nguyễn du nhân hậu, hiểu mình, hiểu đời, một nguyễn du cháy bỏng khát khao cuộc sống hòa bình cho dân tộc, cho nhân dân. cảnh ngày kiều truyện của nguyễn du: khổ thơ thứ ba của thơ nguyễn du mở rộng. trước mắt ta.không phải đâu, sau bức chân dung mỹ nữ là bức tranh phong cảnh mùa xuân. câu hò trong tiết thanh minh và những chuyến du xuân của trai tài gái sắc, của chị em thủy chung? Bài thơ tả cảnh ngày xuân gồm 18 câu, từ câu 39 đến câu 56 của Truyện Kiều, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật tả cảnh và ngụ tình của đại thi hào Nguyễn Du. một vẻ đẹp thanh xuân, một niềm vui rộn ràng, rộn ràng cứ trào dâng, lan tỏa, rồi lắng đọng trong lòng ta khi đọc bài thơ này. bốn dòng đầu của bài thơ đã mở ra một không gian nghệ thuật đầy màu sắc, thơm ngát, đầy mê hoặc và thơ mộng. giữa bầu trời bao la có những cánh én bay từ bờ bên này sang bên kia như những “con thoi”. Những cánh én mùa xuân thân thiết biết bao. hai từ “thoi đưa” thật gợi và gợi cảm. những cánh én như con thoi tài lượn, sẻ nhanh, chao đảo; thời gian trôi nhanh, thanh xuân trôi nhanh. thành ngữ – tục ngữ: “Thời gian phù du như ngựa chạy, như nước chảy qua cầu” rồi

Xem thêm: Tác phẩm an dương vương mị châu trọng thủy

5 đi vào hồn thơ hơn bao giờ hết? đằng sau cánh én, “thoi đưa” là ánh xuân, là ánh xuân khi “chín mươi mới hơn sáu mươi”. Cách nhìn thời gian và miêu tả vẻ đẹp mùa xuân của các thi nhân xưa thật là hay và thú vị. “xuân hương lao” (auoi) là cảnh mưa bụi, tiếng chim hót trên đường thi, là tiếng vỗ cánh bướm trong thơ văn trần thế, và cũng là “xuân hồng” (xuân diệu), “chín xuân” (han mac tu), v.v … với nguyễn du có nghĩa là tháng ba mùa xuân đã đến, “thiêu quang chín mươi sáu mươi” hai chữ “thiều quang” gợi lên màu hồng của ánh xuân, sự hơi ấm của không khí xuân, sự bao la của đất trời “xuân xanh, nước xuân tiếp trời xuân” (nguyễn tiêu – thành phố hồ chí minh) cũng là màu “xanh” của cỏ non trải dài, trải như thảm ”cho đến khi chân trời ”, là màu“ trắng ”trong sáng và thuần khiết của những bông hoa lê lác đác, mới hé lộ, hướng về“ mấy bông ”: cỏ non xanh tận chân trời, cành lê trắng điểm xuyết vài bông hoa, vẫn là thơ chữ Hán xưa. coi như là sử dụng ách sáng tạo: “chiêu liên thiên liên – lê chi sách hoa. hai chữ “chấm trắng” là nhãn, hình thức chấm trong thơ cổ gợi vẻ đẹp thanh xuân, trinh nguyên của thiên nhiên; phong cách nghệ thuật phối màu tài tình: trên nền xanh của cỏ non có vài quả lê “trắng muốt”. giữa khu và điểm, giữa nền xanh và màu trắng của cảnh xuân là những cánh én “tung cánh”, sắc hồng của ánh đèn trời đêm, là “khát vọng xuân” rộn ràng, làm say đắm lòng người. : nhìn xem, hoa nở hân hoan, mong một mùa xuân thanh bình trở lại (bài hát khát vọng mùa xuân – mo-da) cảnh mùa xuân là một hình ảnh mùa xuân tráng lệ, một bài thơ tuyệt vời của cụ Nguyễn Du để lại cho đời, cho cái đẹp của mỗi người. của chúng tôi. lẽ sống, lẽ sống, nhà thơ che lan viên đã dày công nghiên cứu để viết nên bài thơ xuân tuyệt đẹp này: tháng giêng, tháng hai xanh cỏ đồi, hai tháng giêng bay với cánh én … tư liệu được chia sẻ trên (ý nghĩa của mùa xuân)

6 Tám câu thơ sau đây tả cảnh hội xuân: “hội là lăng, hội là thanh” trong tiết tháng ba. điệp ngữ: “lẽ… hội là…” gợi lên những khung cảnh về lễ hội dân gian bao đời nay: “Tháng giêng là tháng vui – Tháng hai trò, tháng ba hội”… (dân gian). khung cảnh đông vui, tưng bừng, huyên náo. trên các cung đường “xa gần”, dòng người đổ về. có biết bao “con én” ăn mừng trong niềm vui “xúc động”, kích thích, thôi thúc. có nhiều tài tử và mỹ nhân “sánh vai” sánh vai, chân ướt chân ráo. dòng người chật ních ngựa xe “đông như nước”, quần áo đẹp đẽ, màu sắc tươi tắn hàng nghìn người, chật kín đường phố “chật như nêm cối”. các từ láy: “rạo rực,“ én liệng ”, ví von (như nước, như nêm) đã gợi tả không khí lễ hội tưng bừng của mùa xuân đang diễn ra trên khắp mọi miền đất nước. , áo quần như nêm giữa người hâm mộ và mỹ nhân “xa gần, có 3 chị em ở nước ngoài. dòng “chị em sắm sửa đi dạo xuân” vừa đọc có vẻ chỉ là quảng cáo. nhưng xa hơn là chứa đựng bao cảm xúc: chờ mong, ngày tảo mộ, ngày hội bước lên thanh xuân du xuân trong những bộ quần áo đẹp đã được chuẩn bị sẵn sàng, “sắm sửa”… bạn biết chưa? Có bao nhiêu “bóng hồng” xuất hiện trong dàn nam nữ diễn viên đó? Ai đã từng đến lễ hội chùa hương, hội Lim, lễ hội Yên Tử sẽ cảm nhận được vẻ đẹp, niềm vui, sự tưng bừng và sức trẻ ở lễ hội đạp chân mà Nguyễn Du đã nói đến. thơ là nghệ thuật của ngôn từ. các từ ghép: “yến / anh”, “chị / em”, “tài / tử”, “giai / nhân”, “ngựa / xe”, “áo / quần” (danh từ); “gần và xa”, “gần / nức nở”, mua / sửa “,” tem / giúp “(tính từ, động từ) được nhà thơ sử dụng với sự chọn lọc tinh tế, làm sống lại không khí hội xuân, một nét đẹp văn hóa từ nguyễn du nói về đời sống tâm linh, phong tục dân gian truyền thống trong lễ tảo mộ được nhiều người đồng tình và xuất hiện nhiều ở các “gò đất mất trật tự” trong lễ an táng. tấm lòng thiêng liêng, tín ngưỡng dân gian giản dị mà chan chứa tình cảm. diễn viên, người đẹp và 3 chị em ở nước ngoài không chỉ cầu nguyện cho vong linh những người đã khuất. mà họ còn gửi gắm nhiều niềm tin, nhiều ước nguyện. vì một tương lai hạnh phúc cho mùa xuân khi xuân về. có lẽ sau hai trăm năm nữa, suy nghĩ của mỗi chúng ta sẽ ít nhiều thay đổi trước cảnh “hoa đỗ quyên vàng, giấy bạc tro bay”, nhưng giá trị nhân văn của vật chất thì chia sẻ! p>

XEM THÊM:  Triết lí nhân sinh trong Truyện Kiều

7 Sáu dòng cuối của đoạn văn ghi lại cảnh chị em ở nước ngoài tảo mộ dần về quê. mặt trời có “ác quỷ” canh giữ ngọn núi. những lễ hội, những ngày vui trôi qua nhanh chóng: tà ma, bóng đổ về tây, chị em lang thang đi về. bởi vì bạn không buồn cuối ngày tại sao không buồn? tốc độ chậm nhịp độ cuộc sống dường như dừng lại. tâm trạng thì “rục rịch”, điệu bộ “bảnh bao”, bước đi “rón rén”. một cái nhìn man mác và u sầu: “thấy … cho mỗi cảnh. đều nhỏ bé. suối chỉ là” tiều khe “. cảnh vật” trong sạch “, dòng nước chảy thì” không bao giờ có “. chiếc cầu “nhỏ” bắc qua cuối ghềnh Cả không gian êm đềm, tĩnh lặng, cảm xúc của chị em hải ngoại dường như dịu lại dưới bóng mặt trời lặn, như đang chờ đợi một điều gì đó sẽ đến, những mắt tiếp tục “ngắm nhìn” từ xa đến gần: từng bước men theo đỉnh núi, cảnh vật hiện lên rõ nét, các từ tượng hình: “thanh thanh”, “vô tận”, “nhỏ bé” gợi lên sự mờ ảo của cảnh vật và rung động tâm hồn trước cái đẹp khi lễ hội kết thúc, ngày tàn. nỗi buồn man mác thấm đẫm và lan tỏa trong tâm hồn vẻ đẹp đa cảm, đa cảm. và thời gian được miêu tả bằng những ước lệ tượng trưng, ​​nhưng rất sinh động, gần gũi và thân thuộc với bất kỳ người Việt Nam nào. màu của cánh đồng là cảnh sắc của đất nước chúng ta. Tính dân tộc là một nét đẹp phong phú trong thơ Nguyễn Du, đặc biệt là những bài thơ tả cảnh ngụ tình tuyệt vời. Nhà thơ Xuân Diệu đã từng viết: “Ôi Xuân Hồng, tôi muốn cắn em”. yêu mười hai điệu múa, tôi không kìm được cảm xúc mà phải thốt lên: “Mùa xuân của tôi … mùa xuân thiêng liêng của tôi … đẹp quá, mùa xuân – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, miền Bắc Việt Nam thân yêu, và chúng tôi muốn nói thêm: mùa xuân hà nội đẹp lắm đất nước thân yêu của chúng ta !, đến với em bao ước mong, xuân sắc, xuân tình như hoa nở, hương thơm trong tim em, anh đã nghe bản nhạc vàng của người đàn ông vàng trong ngày xuân đẹp trời về chưa từ xa? bài thơ báo ơn trích từ truyện nguyễn du kiều – bài số 4, tài liệu chia sẻ trên

8 một đoạn trích trong truyện Kiều được trích từ câu 723 đến câu 756. Trước đó, kiều và kim trong gặp nhau tại lễ hội mùa xuân, sau đó tình yêu nảy nở giữa hai người. họ đã thề sẽ sống bên nhau trọn đời, nhưng một tai họa ập đến với gia đình xa xứ, phải có ba trăm lạng bạc để mua chuộc bọn vô lại, để cứu cha và em trai khỏi sự dày vò của họ, kiều nữ buộc phải bán mình, đó là lời kể. hy sinh tình yêu của mình với kim trong. Bán xong, được cha và anh cứu, Kiều ngồi thẫn thờ nghĩ về thân phận và tình yêu, rồi ngỏ lời cầu hôn em gái Thúy Vân. Thúy Kiều là một người con gái vị tha, hy sinh, đã chấp nhận hy sinh để cứu cha và anh: sóng gió bất hiếu giữa hai người khi gia đình và người thân bị đe dọa không thể chần chừ do dự. anh phải chọn ngay giải pháp bán mình chuộc cha, hy sinh tình yêu. Khi cứu gia đình thoát khỏi sóng gió, Kiều lại cảm thấy mình như một người nặng tội. Chàng lo thuyết phục Thuý Vân lấy Kim Trọng, trả nghĩa tình thay chàng. cách thuyết phục, nghệ thuật thuyết phục của kiều nữ có rất nhiều, nhưng ấn tượng nhất là câu nói: dù thịt nát, xương mòn, nàng vẫn cười, suối vẫn thơm, thanh thản. Lúc này, mọi suy nghĩ của Kiều đều dồn vào việc trả nghĩa cho Kim Trọng, bởi Thuý Kiều là người có tình yêu sâu nặng, mãnh liệt. Kiều không phải là người chỉ biết hy sinh, chỉ biết chấp nhận đau khổ, bất hạnh vì nếu như vậy thì nhân vật sẽ không hoàn hảo, chân thực. Kiều cũng là người có tình sâu, cũng biết sống cho mình. cô nhận ra sự trống trải và vô nghĩa của cuộc đời khi không còn duy trì được tình yêu với anh. anh bất giác nhiều lần nghĩ đến cái chết. nhờ thuy van, những tưởng anh có thể được bình yên, nhưng không, trong lòng anh vẫn còn rất nhiều đau đớn và day dứt. cô than thở cho số phận của mình. Tình yêu mãnh liệt này cho thấy Kiều cũng sống theo tình cảm, cảm xúc. càng say đắm trong tình yêu, kiều càng cảm nhận được bản chất bi thảm của tình yêu và thân phận. Để thể hiện sự hi sinh, quên mình của Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau. Ngôn ngữ của kiều có mục đích thuyết phục rất rõ ràng: nói chuyện với em gái nhưng lại dùng những từ ngữ như hy vọng, tôn kính. rồi nói, đồng cảm máu mủ, rất muốn em gái trả nghĩa quý thay cho mình. ông nói về lời thề của mình với sự trân trọng: lời thề thủy chung. kiều đã nhiều lần nhắc đến những kỉ niệm đẹp đẽ, thiêng liêng của tình yêu. ghi nhớ từng chi tiết của ký ức cho thấy bạn trân trọng tình yêu, chân thành vì tình yêu đến nhường nào. Kiều cũng nghĩ đến cái chết rất nhiều, chứng tỏ chàng cảm thấy rõ ràng cuộc đời thật vô nghĩa nếu không được sống bên chàng Kim. đặc biệt anh còn tưởng tượng ra cảnh so tài mà âm dương cách biệt, đôi bên không thể nói lời nào với nhau.

Xem thêm: &aposTruyện Kiều tự kể&apos: Khi Mã Giám Sinh, Tú Bà và Hoạn Thư. tự kể chuyện mình

9 Powered by tcpdf (là sự kết hợp hài hoà giữa tình cảm và lí trí, nhân vật thủy chung là một kiểu nhân vật mới trong văn học Việt Nam giai đoạn 18-19, một giai đoạn phát hiện mới cho văn học Việt Nam về nội tâm phong phú và phức tạp. thế giới của con người

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Bình giảng tác phẩm truyện Kiều của Nguyễn Du – PDF Free Download. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *