Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
243 lượt xem

Các nhà thơ thời kháng chiến chống mỹ

Bạn đang quan tâm đến Các nhà thơ thời kháng chiến chống mỹ phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Các nhà thơ thời kháng chiến chống mỹ

(dcsvn) – cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền nam, thống nhất đất nước là một trong những trang hào hùng trong lịch sử đấu tranh dựng nước của dân tộc. dân tộc. Là sản phẩm tinh thần của thời đại hào hùng, đau thương và hy sinh ấy, thơ và văn đã làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình đối với dân tộc và thời đại.

thơ ca với cuộc kháng chiến cứu nước thống nhất đất nước

Bạn đang xem: Các nhà thơ thời kháng chiến chống mỹ

Thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước thực sự là vũ khí tinh thần có sức mạnh to lớn đánh thức lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng, ý chí chiến đấu và niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của mỗi người, như toàn thể dân tộc Việt Nam.

Thơ ca Kháng chiến chống Mỹ cứu nước không chỉ có ý nghĩa lịch sử, ý nghĩa thời đại mà còn là một hiện tượng nghệ thuật lớn, độc đáo, một thời kỳ phát triển mạnh mẽ, có nhiều thành tựu nổi bật trong lĩnh vực nghệ thuật. thơ hiện đại Việt Nam. Những giá trị tư tưởng và nghệ thuật của thơ ca kháng chiến chống Mỹ đã được khẳng định trong thực tiễn, trong lòng công chúng văn học đương đại và trong nhiều tác phẩm phê bình, điều tra cả trước và sau năm 1975.

Các đại biểu tham dự hội thảo “Thế hệ nhà văn lớn lên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”.

do đó, cần có thêm nhiều nghiên cứu để đánh giá một cách khách quan, toàn diện về thời kỳ thơ ca kháng chiến chống Mỹ từ nhiều khía cạnh và giá trị, nằm trong điều kiện lịch sử thời bấy giờ, đồng thời xem xét thơ ca của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trong tiến trình thơ ca hiện đại Việt Nam. chuyên luận văn thơ với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của tôi là một nỗ lực nhằm đáp ứng một phần yêu cầu trên. Trong khuôn khổ bài viết tham gia tọa đàm “thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, tôi xin chỉ đề cập đến tác phẩm phi sử thi giọng bên trong cùng với giọng sử thi là yếu tố then chốt trong văn học cách mạng.

Cảm hứng sử thi – yếu tố chính của văn học cách mạng

Sử thi là khái niệm dùng để chỉ một thể loại hoặc một loại nội dung văn học thường xuất hiện trong những giai đoạn lịch sử nhất định. họ thường xây dựng hình tượng trên một thang giá trị cao nhất, đẹp nhất, hoàn hảo nhất nên việc thể hiện cái tôi sử thi luôn ở trạng thái kính nể, tôn kính. lời của sử thi là lời của nhân dân, của cộng đồng, là lời đầu tiên và cũng là lời kết cuối cùng …

về sau, những đặc trưng cơ bản của sử thi dần thay đổi, bắt đầu từ khái niệm sử thi – thể loại văn học, các nhà nghiên cứu văn học đã đề xuất khái niệm văn học sử thi. văn học sử thi không thuộc thể loại sử thi, nhưng chứa đựng những nét cơ bản của sử thi. nghĩa là, cái tôi trữ tình sử thi phải có cả đặc điểm chính luận (sử thi) và giới tính (trữ tình). tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn vận dụng linh hoạt, sáng tạo nguyên tắc sử thi vào phạm trù văn học hiện đại. Sự biến đổi của thể loại sử thi đã được tiểu thuyết hiện đại áp dụng để hình thành một thể loại mới: “ tiểu thuyết sử thi ”. văn học sử thi hướng tới cái chung, cái cao cả, những sự kiện lịch sử, vận mệnh của toàn dân, chủ nghĩa anh hùng cách mạng. nó thường phản ánh những sự kiện có ý nghĩa lịch sử và quốc gia. đồng thời, văn học sử thi cũng chỉ “ đời sống tinh thần của thực thể xã hội với ý nghĩa đối lập với thực thể chủ quan, nội tại và cá thể ”. vì vậy, sử thi không phải là số phận cá nhân mà là tiếng nói của cộng đồng, dân tộc trước những thử thách gay gắt. nhân vật trung tâm không đại diện cho một cá nhân con người mà là một giai cấp, dân tộc, thời đại với một nhân cách dường như kết tinh đầy đủ những phẩm chất cao quý của cộng đồng. mọi người chủ yếu sống với hiện tại và tương lai.

Văn học Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám là một thiên anh hùng ca hiện đại với đặc điểm nổi bật là “ thấm đẫm chất sử thi “. cuộc kháng chiến chống Pháp, nhất là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã hun đúc nên nền văn học sử thi. bối cảnh lịch sử ấy là mảnh đất màu mỡ để những bản anh hùng ca ra đời. Tất nhiên, tính chất sử thi đã thâm nhập và tác động mạnh mẽ đến mọi loại hình nghệ thuật, tạo nên diện mạo và những đặc sắc riêng của văn học nghệ thuật thời kỳ này.

Cái tôi sử thi xuất hiện trong văn học sử thi, một nền văn học ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh. sự phát triển bản ngã sử thi là có cơ sở từ chính hiện thực của cuộc kháng chiến. Nguồn gốc của bản anh hùng ca xuất phát từ truyền thống văn học yêu nước chống giặc ngoại xâm, được phát triển qua các thời kỳ văn học cách mạng đầu thế kỷ, văn học kháng chiến chống Pháp, tiếp nối trong mười năm hòa bình và phát triển. hoàn cảnh mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. và cũng trong cuộc kháng chiến này, cái tôi sử thi đã trở thành hình tượng chủ đạo. sự thể hiện của cái tôi trữ tình sử thi rất đa dạng. đó là cái tôi công dân trữ tình được phát triển đến cao trào, nhà thơ và nhân dân đã hòa thành một khối thống nhất. Có thể thấy rõ nền tảng tinh thần chung của bản ngã sử thi trong câu thơ xuân diệu hiển linh:

Tôi là máu thịt với nhân dân đ ườ ng mồ hôi và máu sôi (những đêm hành quân)

cái tôi “bám vào các sự kiện lịch sử và các sự kiện không thể là một cái tôi khác ngoài cái tôi công dân nhận thức được mình là một phần của sự vận động lịch sử” [1]. bản ngã sử thi một mặt thể hiện tiếng nói của dân tộc, lương tri của nhân loại, ca ngợi đất nước, ca ngợi các anh hùng, mặt khác vạch mặt, lên án, tra khảo, bắt bớ, tố cáo kẻ thù. cái tôi sử thi còn được thể hiện ở sự tự nhận thức, khám phá và tự thể hiện của dân tộc, của nhân dân qua tiếng nói của người đại diện là nhà thơ. Khi nói về quê hương, về dân tộc, các nhà thơ thường sử dụng cái tôi sử thi với hai khía cạnh: một mặt là sự tự khẳng định, tự thể hiện của cộng đồng dân tộc, của nhân dân; thay vào đó, nhà thơ tách mình ra khỏi đối tượng để chiêm ngưỡng, ngợi ca với tất cả sự trân trọng và tự hào.

Hình tượng cái tôi trữ tình sử thi nổi bật trong cảm hứng và giọng điệu của hầu hết các nhà thơ thời chống Mỹ: chạy trốn gần sẵn sàng, chào các quốc gia, muôn đời chào thánh địa, vượt đồng địa ; xuân diệu: thăm nghĩa địa máy bay giặc Mỹ, tòa án nhân dân thế giới, cuộc đời không bao giờ chán ; Lan viên với tập thơ hoa hàng ngày, chim báo bão (1967), thơ đánh giặc (1972), tân thoại ( Năm 1973); tình bạn với “đường vào thành phố”; viết “những người đi biển”; bằng tiếng Việt và luu quang vu với “ cây hương – bếp lửa”; và phương pháp với một số bài thơ đăng trên tạp chí văn nghệ quân đội “bếp từ trời”, “ hình sông” …

Quốc gia của chúng ta phải đối mặt với kẻ thù xấu xa, hùng mạnh và nham hiểm nhất trong thời đại của chúng ta và điều đó đã khiến cả dân tộc xích lại gần nhau như một:

“Những năm tháng đất nước cùng chung tâm hồn, chung một khuôn mặt, cùng một nụ cười, cùng một ngàn mẹ” (che lan vien)

đối tượng của việc điều tra và khám phá văn học là sự giống nhau, ‘như một’, nghĩa là những gì chung cho cả dân tộc, thay vì những gì riêng biệt, những gì khác biệt

cảm giác sử thi chi phối hầu hết hình ảnh những con đường, đang chiếm vị trí ưu tiên trong nhận thức và miêu tả của các nhà thơ thời chống Mỹ. đường ra trận trải dài từ Bắc vào Nam, đường hành quân rộng mở, sôi nổi, hấp dẫn như cuộc diễu binh trên đường trường chinh vì lý tưởng độc lập, tự do: “tiệc vui cả nước tiếp bước: rung chuyển chõng tre mỗi khi tiếng trống vang lên “đường ta đánh giặc ta xuôi nam hay ta bắc” (chỉ) , “con đường đánh giặc mùa này đẹp lắm… từ đông sang tây không phải là con đường thực: con đường chuyển kiện và con đường chuyển gạo ” (pham tien duat), “ đêm hôm ấy, đêm trăng sáng, ta hành quân qua bến đò dài. ”(vu dinh van),“ Con đường nhỏ cũng dẫn đến chiến trường ”(thanh thao),“ Tôi vẫn theo con đường từ rừng mải mê vượt núi hôm nay lên đường chống Mỹ ”(hoàng đế đắp tường ngọc),“ bước đến trường núi lớn- gặp lửa báo trước. st-nhưng bài hát không có bạn “ (wildfire-y method) …

trước là thời siêu hình, vĩnh hằng, ngàn năm, ngàn năm… thì nay là thời gian lịch sử “ bốn mươi thế kỷ cùng xung trận ” với những mốc son. vinh quang dinh, ly, tran, le, chiến thắng cơ quan thương mại, chiến dịch thành phố hồ chí minh. tất cả các nhà thơ chống Mỹ đều cảm thấy “giao điểm ” của thời gian:

chúng ta sống với bốn nghìn năm lịch sử khi biết rằng cuộc sống của chúng ta không phải là của chúng ta (te hanh)

ôi, non nước giang sơn hùng vĩ (thành huu)

ôi đất nước mà tôi yêu quý như máu thịt, như mẹ và cha, như vợ, như chồng.

Ngay lúc đó, một hồn nước mênh mông đ ược xuất hiện (như hướng sông)

Tham khảo: Con gái nhà thơ Quang Dũng và những hồi ức về cha

tình yêu đất nước gắn liền với tinh thần trách nhiệm. sử thi trữ tình trở thành phương thức chủ đạo của thơ ca thời kì chống Mĩ. cái tôi sử thi cũng chiếm một vị trí đáng kể trong cảm hứng và giọng điệu của nhiều nhà thơ chống Mỹ như những dấu hiệu của phong cách.

Sức mạnh của dân tộc được phản ánh trong một tầm nhìn sử thi. chủng tộc anh hùng trong những năm tháng hào hùng của cuộc chiến tranh chống Mỹ đã được nhà thơ che lan viên tóm tắt tự hào “ ta đánh giặc ba mươi năm trời không ai thay thế được cả dân tộc, không ai dự bị được ” ( ngày đại lễ ) .

cái nhìn sử thi với một thế giới được phân chia rõ ràng khiến các thi nhân không nhận ra kẻ thù là người, mà là loài vật vô nhân tính. việc “thú hóa” kẻ thù được sử dụng như một biện pháp nghệ thuật tiêu biểu. chúng không có mặt người, mà là một bộ mặt quỷ ghê rợn và đáng sợ: chúng là “ những con chó hôi hám có khuôn mặt người – Động vật của Mỹ mà cứ béo lên ” ( tou hu ), “ chúng tôi vẫn đang chiến đấu với hổ và báo Hoa Kỳ (moloyclavi), the American the plane anh be so bepor than beo ”(t huớng) ; anh ta bị điên “ họ đã bắt một người điên trong cung điện độc lập ” ( phòng chống lan viên ) …

Không khí hào hùng, hiện thực chiến tranh ác liệt trong những năm tháng chống Mỹ là bối cảnh của “ sử thi khơi gợi tư tưởng “. do đó, tuy những bài thơ có giọng điệu trữ tình là cơ bản, nhưng chất sử thi vẫn có ý nghĩa như một “ khí thế tinh thần ” [3], một nền cung đình chủ đạo.

Ở các thành phố của chúng tôi, chúng tôi giương cao còi báo động lên bầu trời và phần tư thứ tư, pháo sáng bùng cháy trên Rio de la Plata, các cặp đôi đi trên con bò, những người phụ nữ chăn trâu, cắt cỏ, may vá và thêu thùa. vịt sao, thần không triệu năm chỉ biết chuyện bằng nghề làm ăn ” (chuẩn bị hoa lan)

dọn bếp hát tro, nhặt chân bàn ghế còn sót lại, nhìn yêu cái hũ còn đựng được, mảnh gương soi soi được (đời mùa xuân không bao giờ là nhàm chán-mùa xuân)

XEM THÊM:  Nhà thơ Nguyễn Kim Huy     - Văn Nghệ Đà Nẵng

<3

có thể đề cập đến hiện tượng xâm nhập và thống trị mạnh mẽ của phương thức sử thi với tư cách là một “ siêu nhân ” trong thơ trữ tình thời kỳ này dưới góc độ phạm trù quan hệ. sử thi không phải là một thể loại, nhưng ở thời kỳ này nó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả các thể loại: tự sự, trữ tình, kịch. nền tảng tinh thần chung của bản ngã

Tôi bằng xương bằng thịt với dân tộc của mình mồ hôi và máu sôi

cái tôi sử thi ở vị trí đại diện cho cái tôi xã hội, tiếng nói của cái tôi trữ tình có âm hưởng của tiếng nói chung, sức thuyết phục của chân lý phổ quát. bài thơ thường có đại từ nhân xưng “ ta ”:

Một lần nữa tôi viết bài thơ trên mông súng (hoàng trung) Bốn ngàn năm nay tôi là một người cha sẵn sàng làm tan nát trái tim tôi. Tôi hiểu tôi đang chiến đấu vì ai Tôi hiểu tôi hiến máu cho ai (có thể)

Cái tôi sử thi mang lại cho nhà thơ một tâm trạng trữ tình cao cả và rộng lớn với tư cách là phát ngôn viên của toàn dân tộc, đất nước, nhân dân. do đó, cái cá nhân dường như quá “nhỏ nhen ” thường ít được nhắc đến trong thơ ca.

vật phẩm biến mất hoành tráng

Trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, những bản anh hùng ca của đời sống xã hội tinh thần gắn liền với chủ nghĩa anh hùng của cuộc kháng chiến như một phương tiện truyền cảm và cộng hưởng cũng dần vang xa. cái tôi sử thi, vốn là âm hưởng chủ đạo của thơ ca chống Mỹ, không còn là một hình thức đồng nhất và duy nhất một khi nó đã hoàn thành sứ mệnh là biểu hiện đỉnh cao của tinh thần quần chúng, nhân dân và chiến đấu.

Cảm hứng chủ đạo trong nhiều tập thơ ra đời vào nửa cuối những năm 70 vẫn là cảm hứng sử thi về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. uu. và chiến thắng của dân tộc, nhưng có nhiều nét mới từ cảm hứng đến chất liệu và giọng điệu. . Có một sự “ khác biệt ” nhất định giữa cảm hứng của bài điếu văn và thực tế khắc nghiệt của cuộc sống sau chiến tranh. văn học chống Mỹ tuy không xa rời đời sống nông thôn và xã hội, nhưng trọng tâm có phần chuyển từ góc độ cá nhân. người ta có thể nhận thấy một sự thay đổi thầm lặng, dai dẳng và cả một sự “ngập ngừng ”, manh mún trong cái tôi sử thi, vốn là âm hưởng chủ đạo của thơ ca chống Mỹ. sự gia tăng của một số sử thi do nhu cầu nội tại của thể loại này trong những năm 1980, và số lượng tác phẩm viết trong chiến tranh được công bố rộng rãi trước khi độc giả có con mắt bình tĩnh có thể thấy được yếu tố sử thi bất bạo động “ ông trở nên đậm nét trong phong trào thơ ca, trở thành tiếng nói đối thoại với sử thi ”[4]. đó là dấu hiệu báo trước một sự đổi mới căn bản cả về tư tưởng và thể thơ, làm phong phú thêm phần nào diện mạo thơ, cái tôi trữ tình nhìn từ số phận riêng của cá nhân còn “ ẩn ”. có sự “giao thoa” rung động “giữa cái nhìn sử thi và những yếu tố trần tục, giữa giọng điệu thanh cao và giọng điệu êm đềm, giữa lí tưởng và hiện thực, giữa không gian công cộng với đời tư, giữa những bài hát. sử thi và màu sắc bi tráng…

Bản chất của thơ trữ tình là ý thức về bản thân, về lòng tự trọng, về quyền sống, quyền làm người. khát khao cấp bách nhất của con người là tự do cá nhân và dân chủ xã hội. sự thức tỉnh nhu cầu xã hội, nhu cầu của con người luôn là nhu cầu cấp thiết và chính đáng. nhưng khi đất nước có giặc ngoại xâm, lợi ích của dân tộc và của nhân dân hòa làm một thì sự nghiệp giải phóng dân tộc đồng thời là sự nghiệp giải phóng con người. như một lẽ tự nhiên, văn học đã dành ưu tiên cho chủ đề độc lập tự do, lợi ích cho đất nước, cho nhiều nhiệm vụ lớn lao khác, nên cái tôi cá nhân nhất thời “nén chặt i>”, âm thầm rút lui đến bình diện cuối cùng này và do đó “ sự tinh tế của những bông hoa tạm bợ chưa được nghĩ đến (sự chuẩn bị của phong lan).

Những dấu hiệu đổi mới ấy có thể thấy trước hết ở lớp nhà thơ xung trận, đương đầu với khó khăn, thử thách, trực tiếp đối đầu với kẻ thù. Bên cạnh cái cao cả, cái hùng và cái vĩ đại được phóng chiếu trên mọi chiều cạnh vốn là sức mạnh của bản anh hùng ca, cái tôi trữ tình còn ẩn chứa bao nỗi trăn trở, day dứt của con người trước sự lựa chọn: sống – chết, thành – bại, thắng. . – sự hy sinh … con người được nhìn từ nhiều góc độ, thơ nói lên nhiều hơn nỗi đau của con người do chiến tranh gây ra, nỗi buồn vui trong cuộc sống của chính mình, những nỗi niềm chất chứa bên trong không dễ giãi bày. hiện thực cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã tác động mạnh mẽ đến cảm xúc của nhà thơ. vì vậy, nhiều nhà thơ từng say mê tiếng hát của dàn đồng ca, nhưng trong cảm quan của họ đã bắt đầu bộc lộ những góc nhìn đa dạng, khác lạ về cuộc sống qua những bản anh hùng ca viết sau chiến tranh. thu quyên góp ba-dan khát (1977), hiền triết với người đi biển (1977), trần vũ mai viết ở làng phuộc hau / i> (1978), huy đôi sáng tác Đường vào thành phố (1979), nguyễn đức mua phản ánh về sự cống hiến, hy sinh của những người lính trong trường hát sư đoàn > i> (1980), và phuong lặng lẽ cho ra đời hai sử thi “chín tháng” và “làm trăng” (2010) khi chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm; nguyen anh nong với sử thi “truong son”; nguyen huu quy với “van ly truong son”…

Sự “tan biến ” của bản thân sử thi còn được phản ánh qua một số tác phẩm viết vào những năm 70 – 80 của thế kỷ trước, như Cửa mở của Việt Nam. , viết về số không của tác phẩm tiên hiệp, đặc biệt là tập thơ lục bát (Mây trắng đời tôi-1989, Con ong trong đêm sâu-1993, tập thơ). amor xuan quynh-luu quang vu-1994 luu quang vu po and doi do -1997) được công bố khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đã xa.

cái tôi cá nhân và mối quan tâm về số phận con người

Cái tôi phi sử thi quan tâm đến số phận con người và nỗi đau chiến tranh. Chính vì lẽ đó, không đợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc, chưa rời xa vầng hào quang của bản ngã anh hùng ca, tiếng nói tự sự với khát vọng chân chính đã xuất hiện trong thơ, tiềm tàng như một mạch. dưới lòng đất.

Những bài thơ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đề cập đến số phận của con người theo cách riêng của mình. nó không trực tiếp phân tích hay mổ xẻ mọi khía cạnh tâm lý con người như văn xuôi. nhưng thơ có thế mạnh riêng để nói đến tận cùng của những “ trăn trở”, “tra tấn”, “xót xa ”. hiện thực chiến tranh đầy khốc liệt thể hiện qua những số phận riêng lẻ và thế giới nội tâm phức tạp. dấu vết của chiến tranh, ở môi trường tiền phương hay hậu phương cũng khắc sâu vào số phận của con người. tư duy thơ chống Mỹ, có xu hướng nói về những con người tiêu biểu cho phẩm chất và trí tuệ của cộng đồng với lòng dũng cảm và cống hiến cho sự nghiệp, thay vì “những người nhỏ bé ”; mặt khác, nỗi đau ít hơn những lời khen ngợi và động viên. Nằm ngoài xu hướng chung của mọi nền thơ, một số nhà thơ có tầm nhìn và phẩm chất thơ khác với các nhà thơ khác cùng thời ở sự tuyệt đối hoá cái đẹp và cái cao siêu của người anh hùng. tuy không phải là dòng chính, nhưng thơ đã đổ mạch ngầm của các phụ lưu và phụ lưu.

Sự phai nhạt của yếu tố sử thi còn ẩn chứa trong con người những chiều sâu vô hạn. Ngoài con người anh hùng cống hiến hết mình vì sự nghiệp giải phóng dân tộc – nguồn cảm hứng hùng tráng là thế mạnh -, còn có (tuy không nhiều) sự đa dạng của các loại người. tâm lý chống Mỹ được sử dụng để xây dựng một hình tượng tráng lệ “ nhặt nắng hồng ”, say sưa với con người lý tưởng ” như một tinh thần du dương, như một vẻ đẹp hùng vĩ > ”( khúc xuân 68-sang) . thơ đề cao“ phẩm chất con người ”cao cả, phi thường. những khía cạnh của cuộc sống đời thường (cảnh nghèo, nỗi đau, thói hư tật xấu, những hiện tượng xã hội tiêu cực …).

luu quang vu quá nhạy cảm cảm giác, lộ ra một cái khác nhìn chiến tranh từ phía sau. thơ ông nói nhiều về nghèo khó, đau khổ, mất mát, chia ly mà thời đó không dễ viết. thơ của ông thoát khỏi những ràng buộc của những quan niệm cố định, nói với một giọng bình tĩnh hơn nhiều người cùng thời với ông, những người viết về chiến tranh. cảm giác mất mát, đau thương đã xuất hiện trong thơ lục bát từ khá sớm. nhà thơ nói về những ẩn ức (những điều nhạy cảm, khó viết), về sự khốc liệt, tàn khốc của chiến tranh, về vận mệnh quốc gia, dân tộc từ nhiều góc độ rất nhân văn và cũng bằng chính tấm lòng, người nghệ sĩ vô độ của mình. những câu thơ trên được viết ra do nhu cầu nội tâm bức thiết của bản thân, tuy không đại diện cho số đông lúc bấy giờ nhưng là những tâm tư, tình cảm, tâm trạng của con người khi chứng kiến, cảm nhận được nỗi đau, nghịch cảnh của con người khác. điều đó không dễ bắt gặp trong thơ ca những năm chiến tranh. chỉ sau chiến tranh, các nhà thơ chống Mỹ mới nhận ra đầy đủ điều đó. đó là bi kịch của chiến tranh với “ đứa bé ngủ trong mồ ”, với người mẹ “ đào bới đống đổ nát để tìm con ” ( cầu nguyện) > i> và nhiều người đã chết “ chôn dưới hố bom ”, là “ khăn tang trắng ”, tượng trưng cho những mất mát khủng khiếp mà thân xác gây ra. xuất hiện trong bài thơ “ viết trên số không ” (nhiều người vẫn gọi là vòng tròn trắng ). đi trên con đường của dân tộc từ bình minh đến ngày toàn thắng, bài thơ đất nước đàn đúm cho thấy quê hương đau thương, quanh co “dân ta bốn ngàn năm cơm áo rách… dân tộc đã trải qua nhiều đau khổ . ”

nhà thơ miền Tây bắt đầu con đường thơ ca với cái tên Lời hẹn ước muôn thuở và xuất bản hai tập thơ đầu tay “Bếp trời ” và “Hình dáng dòng sông i. > ”In trên tạp chí văn nghệ quân đội (số 6, 1973), không ngoại lệ với“ dàn đồng ca ”, thuở sơ khai, thơ anh chưa thể khác được tiếng thơ chung hào sảng đã thống trị cả một thế hệ sáng tác: “câu hát thiêng quá i> – hát bây giờ hát sau ”, nhưng nhà thơ dân tộc Tày làng Nhánh đã sớm thoát khỏi “bè cao” để khẳng định con đường riêng của mình. , phong cách riêng, với một di sản thơ ca vững chắc, vạm vỡ không mờ “ có sức trỗi dậy đặc trưng dân tộc và khát vọng chế ngự đỉnh “. Hai sử thi “chín tháng” và trăng của y phùng. con thuyền ”vẫn không thoát khỏi dư âm của chiến tranh, vẫn là“ sức ì ”trong dòng chảy thơ ca kháng chiến chống Mỹ suốt 40 năm kể từ ngày“ toàn thắng ”. chiến tranh. tôi “(30/4/1975). Trong thơ chị, số phận được khắc sâu hơn, điển hình hơn là người phụ nữ, nhưng tập trung hơn ở hình ảnh người mẹ. Đó là người mẹ Việt Nam có tinh thần trách nhiệm cao với chiến tranh- nước xé rách: “ Sáng ngày 6 tháng 4, bà mẹ tám mươi buông cánh đồng – đứa con trai của bà mẹ uể oải bám chặt lấy lòng bà – bà đã cho đứa con xuống đất. Nước ”. Trải qua chiến tranh giúp nhà thơ hiểu rõ hơn về cái giá phải trả của sự hy sinh, trong thơ ông kìm nén xúc động khi cảm nhận được tin người mẹ Việt Nam hy sinh, trái tim như vỡ òa vì: “ mẹ không đủ sức. hét to-đau đến tột cùng-mẹ buông thõng ngực buông thõng dựa vào hàng rào . ”Vượt qua nỗi đau của chính mình, người mẹ thấy nhớ nhà thương con nhưng chỉ biết tìm lại những kỉ niệm đã in hằn. con trai anh ấy “ đừng nhìn vào thân cây áo cũ – những chiếc áo sơ mi ngày xưa – ngày tôi chúng ta nó. đi học ”để“ mặc áo cho con ”để vợ nhớ. đứa con vẫn trọn vẹn trong lòng mẹ, nên hàng ngày mẹ vẫn ngóng cơm canh “ bát đũa để con nằm trọn trong lòng mẹ ”. trớ trêu thay “ cái chết bao giờ cũng rất thật ”, tuy hão huyền nhưng đối mặt với nỗi cô đơn, “khi đến ngày thương binh liệt sĩ “ bà lại làm mẹ ”. Tôi đóng cửa, tôi ngồi một mình trong nhà, lặng lẽ lau bức tranh, con tôi dường như … khóc, nước mắt thấm vào tôi … ướt nhẹp ”(thuyền trăng)

XEM THÊM:  Nhà thơ nguyễn ngọc hưng ở quảng ngãi

nhạy bén với mọi thay đổi của cuộc sống là phẩm chất của một nghệ sĩ. trong tập cửa ngỏ , các nhà thơ Việt Nam đã gửi gắm vào thơ nhiều nỗi niềm khắc khoải, tự tin. sự nhận ra cái phần “ với ” ẩn chứa trong cái chất “ người ” không chỉ xuất hiện trong thơ Việt Nam, mà quan trọng hơn, nhà thơ đã viết và đã viết (qua một tuyển tập gây nhiều tranh cãi. của những bài thơ từ đầu những năm 1970), vào thời điểm mà việc viết lách không hề dễ dàng:

Tôi đã nghĩ rằng sau những người đồng đội, trong hàng ngũ của chúng ta không còn ai xấu nữa, chỉ còn lại tình yêu thương

nhà thơ đã đưa vào bài thơ một vài phạm trù phẩm chất đối lập của con người:

những người cao thượng là những người xấu xa là lời nói của trái tim và lời nói của miệng

Tham khảo: [LỜI GIẢI] Nhà nghiên cứu Hoài Thanh từng khẳng định: Nhà văn không có phép thầ – Tự Học 365

Sử dụng dòng chữ in đậm “ chúng tôi khẳng định rằng đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ … hãy tưởng tượng rằng mặt trăng của Trung Quốc tròn hơn mặt trăng của Mỹ “, người Việt Nam bày tỏ một cái nhìn chân thực về con người, kể cả những người thiếu chính kiến ​​của mình, bị kiểm soát chặt chẽ bởi lối suy nghĩ thông thường, họ đã nói, họ đã từng nghĩ bằng cái đầu của người khác.

Trong âm hưởng hùng tráng, say sưa với hào khí chiến thắng, thơ ca chống Mỹ thường tránh nói lên nỗi đau:

đã có lúc nỗi đau ta phải giấu kín, mất mát trong mỗi người (truong nam huong)

những câu thơ chỉ vang lên tiếng cười của chúng ta (che lan vien)

hay đối mặt với thực tế phũ phàng, nhà thơ vẫn cố gắng “ xoa dịu ” nỗi đau bằng sức mạnh tinh thần:

<3

v

Cùng với đội ngũ văn nghệ sĩ, các nhạc sĩ cố gắng sử dụng “ tiếng hát ” để “ át tiếng bom ” và “ áp đảo đau ““. nhưng dù không chạm đến nỗi đau, vết thương mà nó cố gắng che giấu vẫn tiếp tục bùng cháy, hằn sâu trong tim, tự nó tuôn trào. mỗi thế hệ nhà thơ cảm nhận nỗi đau riêng, theo cách riêng. với các nhà thơ lớp lớn (che lan viên, đểu …), nỗi đau trước đây ít được diễn tả bằng thơ, nhưng những năm cuối của chiến tranh, điều khó viết đó đã được nhắc đến một cách trực tiếp và thấm thía:

thân vạc, thân cò… khói thịt người làm cay mắt tôi hơn khói đốt nhà (thơ bổ sung-che lan viên)

cũng đúng như vậy, chưa có lần nào ông nói nhiều đến nỗi đau như trong tập thơ máu và hoa : “ máu trên đất > “, cờ này là máu, nó là da , dòng chảy của máu , hôn vào nỗi đau tan nát thoáng qua ”… nỗi đau đó đã được “ chuyển hóa ” theo cách vật chất hơn, cụ thể hơn là qua những con người bằng xương, bằng thịt, thay vào đó nghiến răng chịu đựng, bất chấp ý chí chết chóc của con người – điều thường thấy trong các tác phẩm trước đây của ông. tác giả đã nói lên phần nào nỗi đau quê hương trong thơ.

Trong đoạn “cửa mở” , người Việt sử dụng tần suất từ ​​”đau” nhiều lần với nhiều mức độ khác nhau: “ đau đớn trần gian ” và ” nỗi đau trong mỗi kiếp người ”;“ nỗi đau biến mất rất nhanh ”, nhưng có“ nỗi đau thấm vào tôi trong một thời gian dài ”trong suốt“ đêm dài và nặng trĩu ”; có“ nỗi đau mồ côi ”và cũng có“ cơn đau đẻ ”…

cùng thế hệ thơ trẻ, thanh tao mang đến một vần thơ đầy trăn trở, suy tư về những cặp phạm trù đối lập giữa được – mất, sống – chết, công – tư, cá nhân – cộng đồng, gia đình – quê hương … của mình. thơ nói về nhiều chiến công, nhưng cũng không ít những mất mát, hy sinh: “Gương nước non sông gấm vóc quê hương”. :

người bạn của tôi vài năm nhìn vào một ngôi sao trong miệng hố của một máy bơm nước (một người lính nói về thế hệ của anh ấy)

thanh thao đã viết những câu thơ đầy xúc động về “ tuổi thọ ” của áo lính, và “ sống hơn một đời người ” (người lính) nói về thế hệ của tôi “.

cảm thấy đơn độc

Có thể thấy sự phai nhạt cảm hứng sử thi trong cảm giác cô đơn của chính cái tôi trữ tình trong thơ của lãng du quang vũ mà không phải của nhiều nhà thơ khác trong những năm cuối của chiến tranh. Lưu Quang Vũ được công chúng yêu mến với tư cách là một nhà viết kịch và đặc biệt trong lĩnh vực thơ, ông đã có 12 tập thơ “ tinh anh “, trong đó có nhiều tập đã hoàn thành. nhà thơ đã đặt tên cho nó là: hương cây , mây trắng đời em, cỏ tóc tiên, cuốn sách in nhầm trang … và một số tập khác chưa hoàn thành và cần viết thêm. ra giữa tập thơ: phần hương cây (những bài thơ in bằng Việt ngữ trong tập hương cây – bếp lò ‘(1968) được độc giả yêu thích với những cái tên quen thuộc như việt, nguyễn mỹ, lê anh xuân, nguyễn duy … trong cái nhìn tươi sáng, vui vẻ và lạc quan về cuộc sống của các nhà thơ trẻ lúc bấy giờ, hầu hết các bài thơ của ông mãi đến những năm 80, 90 mới in được. thế kỷ trước (sau khi ông mất – 1988), các tập “ mây trắng đời tôi”, “bầy ong trong đêm sâu”, “thơ tình xuân quy – nguyệt quang vu” và “the thơ của lưu quang vu và cuộc đời” gần đây đã được gia đình và bạn bè sưu tầm để xuất bản.

Qua cái thời “ nghe mùi bưởi và chanh (lá bưởi và lá chanh), những năm 1971-1973 loạn lạc. cảm giác. đây là khoảng thời gian anh “giấu giếm”, “tiêu hóa”, “đấu tranh đến cùng” để viết nên những vần thơ chất chứa nỗi niềm cô đơn. anh ấy đã viết một cách chân thành – chân thành một cách tàn nhẫn (một từ được sử dụng bởi các nhóm nhảy) cho chính anh ta, cho những nhu cầu của riêng anh ta, có trong hai mươi bài thơ trong tuyển tập cuốn sách. nhầm trang – tên một tập thơ cũng là tên của cả một tập thơ giả danh, nhưng vẫn ở dạng bản chép tay gia đình, chưa in, mang nhiều “day dứt”, nhiều suy tư. , những cuộc đấu tranh và những thất vọng ”[5]. nỗi cô đơn dày đặc và triền miên đã đồng hành cùng anh trong suốt những năm tháng không yên. Đối với ông, cô đơn là một trạng thái bủa vây từ cả hai phía: khách quan do hoàn cảnh thụ động và chủ quan do cái tôi, nhà thơ chủ động tách mình ra khỏi sự đơn điệu và buồn chán, chọn con đường riêng cho mình: “Tôi mệt mỏi vì những người bạn của tôi ”bởi vì“ họ không thể nói bất cứ điều gì mới ”; “Tôi rời đi ” và “ họ ở lại; Cuối cùng, nhà thơ ở một mình trong “ phố vắng về đêm ” ( có những lúc) . anh đơn độc trên con đường anh chọn “ Em là ong bay giữa trời, đêm dài không một vì sao (bầy ong trong đêm sâu) . chọn ở một mình có nghĩa là nhà thơ đã chọn một chủ đề là “điều” cấm kỵ “vào thời điểm mà cả dân tộc đang phát triển mạnh mẽ hơn như một cộng đồng. anh thấy mình như một người lính đơn độc giữa những người đồng đội của mình “ một mình trong trung đoàn … hoàn toàn cô đơn, cô đơn khủng khiếp ” ( bài thơ ). nhạy cảm đến nỗi anh nhận ra sự cô đơn của những người xung quanh khi chính họ không cảm thấy “ hải đồ không biết đi đâu về cảng không có bến tàu (thư ) . với tư cách là một công dân, anh thấy mình đơn độc giữa xã hội: “Anh rời hồ, anh rời vườn, tìm chân trời mát mẻ, nhưng anh chỉ cảm thấy một mình ” ( những ngày khi họ đã không em ); lạc giữa bạn bè “ mặt tôi đen như rạ, nghe bạn cười trong đám đông bạn bè ” ( đôi khi) ; một mình trong lớp học ồn ào; tình yêu đôi lứa tan vỡ; những người xa lạ ngay bên cạnh những người thân yêu “ Tôi là đứa trẻ cô đơn khi ngồi cạnh mẹ ” … điều đáng sợ nhất không chỉ là bạn bè, tình yêu bị từ chối “”> đóng cửa , chỉ “ lãnh nhiều cái tát ” ( vài đoạn thơ ), nhưng thơ – nơi tôi lắng đọng hầu hết những cảm xúc của chính mình vẫn nằm trong bản thảo. , người đọc không ai khác chính là tôi “ khi những bài thơ anh ấy viết – anh ấy chỉ đọc chúng ” ( nếu đó là một tội lỗi) i>.

ngoài giọng điệu chung chung là phấn khởi và tự hào, đề cao cuộc chiến đấu chống kẻ thù được thống trị bởi tinh thần anh hùng ca, những bài thơ, bài thơ này có hiệu quả “ lạc điệu ” [6], thật khó. có chỗ đứng trong lòng độc giả vào thời điểm nó ra đời.

Thơ ca chống Mỹ không chỉ đề cập đến nỗi đau với ý nghĩa vượt lên trên nỗi đau khi tinh thần sử thi vẫn chiếm vị trí chủ đạo, mà còn thể hiện nỗi đau được coi là mất mát không dễ gì bù đắp được bằng con người vật chất, con người trần thế. không bị áp lực sử thi và trở về với con người của mình. thơ đã cung cấp một thành tựu bằng cách thể hiện con người, khát vọng của con người từ một góc độ phi sử thi. Ưu tiên mục đích lợi ích công cộng, mặc dù cái tôi nhìn từ số phận cá nhân không phải là nguyên nhân để quan tâm, nhưng nó có một vị trí trong cuộc chiến chống lại kẻ xâm lược.

khi yếu tố sử thi mất dần, cái tôi trữ tình thiếu chất thơ mà thay vào đó đã tìm thấy tiếng nói khác đầy tâm trạng, lo lắng, day dứt và trăn trở đầy trách nhiệm về chiến tranh quê hương, về hy sinh, mất mát, về nhu cầu và khát vọng của con người, văn học bộc lộ những bức xúc. khát vọng, đòi hỏi sự quan tâm đến từng số phận cá nhân. mối quan tâm của công chúng đã nhường chỗ cho số phận cá nhân. đó là cơ sở để đánh thức ý thức cá nhân và tinh thần con người sẽ trở thành nền tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo của văn học sau năm 1975.

[2] vu tuấn anh. nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945-1995. nxbkhxh. h 1997, tr. 134. [3] vu tuan anh. nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945-1995. nxbkhxh. h 1997, tr. 125.

[4] vu tuấn anh, nửa thế kỷ thơ Việt Nam. nhà xuất bản khoa học xã hội. h.1997

[5] thơ luu khanh (biên tập) (1997), luu quang vu thơ và cuộc đời. nhà xuất bản văn học, Hà Nội.

[6] thơ luu khanh (biên soạn) (1997), thơ và cuộc đời của luu quang vu. nhà xuất bản văn học, Hà Nội.

Tham khảo: Tình yêu quê hương của nhà thơ tế hanh

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Các nhà thơ thời kháng chiến chống mỹ. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *