Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
449 lượt xem

Các nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới

Bạn đang quan tâm đến Các nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Các nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới

tôi. khái quát về thơ mới

1. quá trình hình thành và phát triển.

a. cơ sở:

+ sự hình thành của phong trào thơ mới trên cơ sở điều kiện văn hóa, xã hội Việt Nam 1930 – 1945:

– sự phát triển nhanh chóng của tầng lớp tiểu tư sản thành thị đã tạo ra một thế hệ nhà văn và độc giả mới với nhu cầu sáng tạo và thưởng thức mới.

– ảnh hưởng sâu rộng của phương Tây từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần đã mở đường cho sự hình thành văn học lãng mạn Việt Nam, trong đó có thơ mới

– Sự ngột ngạt về chính trị và kinh tế đã tạo ra sự hoang mang, vô vọng và chủ nghĩa thoát ly trong phần lớn thanh niên. họ muốn thoát khỏi thực tại đen tối, tránh xa chính trị mà họ thấy ồn ào và kém hiệu quả bằng cách tìm kiếm con đường văn học lãng mạn.

+ Như vậy, phong trào thơ mới lãng mạn ra đời năm 1932 nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm của một lớp thanh niên mới. nó là kết quả tất yếu của một cuộc biến chuyển lịch sử vĩ đại. (nỗi nhớ)

b. quy trình:

– những mầm mống đầu tiên dẫn đến sự hình thành thơ mới xuất hiện vào những năm 1920. Những bài thơ mở không quy luật, không có từ ngữ, câu hạn chế xuất hiện lẻ tẻ. đặc biệt là thơ tan da diết pha chút trác táng của muộn màng ”(hoai thanh)

– năm 1932 được coi là cột mốc đánh dấu sự ra đời của thơ mới với bài vọng cổ của người hâm mộ – nói lên ý nghĩa chân thật trong lòng mình bằng những câu văn vần điệu mà không bị ràng buộc bởi niêm luật. không có gì

– 1932 – 1935: thơ mới cạnh tranh gay gắt với thơ cũ, từng bước soán ngôi thơ và khẳng định vị thế của mình với các nhà thơ tiêu biểu: thơ lục bát, lưu ly…

– 1936 – 1939: thơ mới phát triển mạnh, đạt được nhiều thành tựu với hàng loạt tác giả: xuân điều, tản cư, nguyễn bình, hán tử, chế lan viên….

– 1940 – 1945: thơ mới dần bị tê liệt. khuynh hướng tiêu cực thoát ly xuất hiện: Tổ đàn, lễ hội xuân thu … Cách mạng tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc cũng như trong lịch sử văn học, thơ mới không còn nữa, khép lại. một thời đại trong thơ ca.

2. đóng góp của phong trào thơ mới trong văn học Việt Nam:

+ thơ mới đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc hiện đại hoá thơ ca dân tộc về nhiều mặt:

– Về quan niệm nghệ thuật: Nếu thơ ca trung đại coi trọng chức năng giảng dạy văn học truyền tải tôn giáo và thơ ca thì phong trào thơ mới đã thiết lập một quan niệm hoàn toàn mới: quan niệm nghệ thuật vì nghệ thuật. các nhà thơ mới tự nhận mình là khách lãng du, không chuyên tâm, không quý tộc. tâm hồn lãng mạn của họ ru theo gió, mơ trăng và lang thang với mây. họ tôn thờ cái đẹp và sáng tạo để làm đẹp.

– Về nội dung tư tưởng: thơ trung đại ít chú ý đến yếu tố cá nhân. thơ mới thực sự là tiếng nói của cá nhân đầy cảm xúc – sự khẳng định cái tôi dưới nhiều hình thức khác nhau: cái tôi đam mê cuộc sống, cái tôi hào hoa, cái tôi bơ vơ, cái tôi điên cuồng, cái tôi cô đơn …

– Về hình thức: phá bỏ khuôn khổ của thể thơ, đường nét, thay đổi ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ … trong thơ mới có những câu thơ cách tân như: Hơn một bông hoa rụng cành. / trong khu vườn là màu đỏ và màu xanh, với những hình ảnh mới như: bạn đang đi hết hàng này đến hàng khác? những từ đơn như: tôi đã ngủ trên mặt trăng vào đêm đó

sự chuyển thể sáng tạo những thành tựu của văn học phương Tây kết hợp với truyền thống và ý thức dân tộc đã tạo nên một cuộc cách mạng lớn về thơ ca.

+ trào lưu thơ mới đã tạo nên một thời đại phong phú và rực rỡ trong lịch sử văn học Việt Nam. Hoài thanh viết về Thi nhân Việt Nam: “… trong lịch sử thơ ca Việt Nam, chưa có thời đại nào phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ những người có tâm hồn rộng mở như vậy lại xuất hiện. mơ màng như luu trong lu, hùng vĩ như huyễn thông, trong sáng như ngọc phả, não nùng như huy cận, thôn dã như nguyễn bình, lạ lùng như che lan viên… và nồng nàn, say đắm, háo hức như mùa xuân. kỳ diệu của thơ mới là thời đại của những phong cách thơ độc đáo.

+ Những thành tựu của thơ mới có vai trò then chốt đối với sự phát triển của thơ ca Việt Nam đương đại: phong trào thơ mới là hiện tượng lớn nhất nửa đầu thế kỉ, nó đã đưa thơ ca Việt Nam vào cuộc sống trong thời kì hiện đại, góp phần đến cội nguồn và ảnh hưởng của thơ ca ngày nay. (khen ngợi)

ii. các tác giả tiêu biểu trong phong trào thơ mới

1. mùa xuân tuyệt vời

Xuân Diệu (1916 – 1985) là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào thơ mới và là một trong những cây bút lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. thơ xuân diệu có một phong cách riêng và rất hấp dẫn. đây là những đặc điểm chính trong phong cách thơ của anh ấy

a. có thể nói xuân điểu là một trái tim rộng lớn, là nguồn sống yêu đời, thiết tha với cuộc sống trần thế.

(Trước khi mất, xuân diêu ​​đã để lại những bài thơ xúc động:

“Hãy để tôi nói lời tạm biệt

chào thế giới thực

trong hơi thở cuối cùng để cho đất trời

vẫn yêu đến mức ngất đi ”

(không có tiêu đề)

Đây là một tính cách kỳ diệu mùa xuân tự nhiên. nhưng tính cách này còn liên quan đến hoàn cảnh gia đình anh và môi trường tự nhiên, xã hội nơi anh sinh ra và lớn lên. Phép thuật mùa xuân đã bị ảnh hưởng rất nhiều từ cha ông. anh là một “nghệ nhân” cần cù, chịu khó và rất ham học hỏi. gò người huyền diệu mẹ xuân quy nhơn. Xuân điểu đã lớn lên ở đây, nơi “gió mát thổi qua”. sau đó tôi đến Hà Nội và sau đó tôi đến Huế để học. Cảnh sắc đất trời Thăng Long lộng lẫy cùng với vẻ đẹp mộng mơ của Huế, gió Nam, biển khơi Quy Nhơn đã đánh thức một tình yêu nồng nàn yêu đời trong tâm hồn tuổi xuân.

b. Xuân điệu là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào thơ mới nghĩa là ông có ý thức sâu sắc trong việc khẳng định cái tôi cá nhân của mình thông qua nghệ thuật thơ, nhưng ông khác với nhiều nhà thơ khác của phong trào thơ. phép thuật không đưa bản ngã của bạn đối lập với cuộc sống và tìm cách thoát khỏi cuộc sống này; ngược lại, ông muốn khẳng định điều đó trong mối quan hệ với cuộc sống, hiểu theo nghĩa trần gian nhất: là con người, là đất trời, là cỏ cây hoa lá bao bọc lấy chúng ta. Anh tin rằng được sống mãi mãi là niềm hạnh phúc lớn nhất. nhưng trên đời này không có gì đẹp hơn thanh xuân, tuổi trẻ và tình yêu. đó là nguồn thơ phong phú, là chủ đề chính của thơ ông. hoai thanh viết: “xuân diệu thơ cũng là nguồn sống chưa từng có ở nước non yên ả này. xuân là yêu tình, yêu trời, sống vội, sống vội, muốn hưởng thụ cuộc đời ngắn ngủi. . Khi vui và khi buồn, mọi người đều say mê và nghiêm túc. ”

c. Với mong muốn được đồng cảm trọn vẹn với cuộc sống trần thế này, Xuân Diệu đương nhiên cũng là một thi sĩ của tình yêu, bởi tình yêu là sự giao cảm mãnh liệt nhất trần gian. Đây là thứ tình yêu luôn đòi hỏi cao độ “” vô hạn và trọn vẹn “… người ta đã đặt cho xuân điểu danh hiệu:” ông hoàng thơ tình “số một.

d. chân thành cống hiến cho mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu, sự kỳ diệu của mùa xuân đã đi đến một sự cách tân thơ đáng kể. Nếu văn học cổ đại coi thiên nhiên là ngọn cờ của cái đẹp thì nay, sự kỳ diệu của mùa xuân đã đảo ngược: đối với Người, không có gì hoàn hảo hơn con người, nhất là phụ nữ, đang ở tuổi thanh xuân trọn vẹn. một quan điểm thẩm mỹ như vậy đã tạo nên trong thế giới nghệ thuật của xuân điểu những hình tượng giàu sức sống, tràn đầy tình yêu và sắc xuân.

Tuy nhiên, trong xã hội trước đây, Xuân Diệu cảm thấy tình yêu nồng nàn, đắm say của mình không được trọn vẹn, chẳng khác nào “nước đổ lá khoai”. Với sự kỳ diệu của mùa xuân, thơ mới đã đi vào tâm hồn của con người và cái tôi cá nhân. và “càng vào sâu, trời càng lạnh.” Đó là lý do tại sao con người yêu cuộc sống nhưng đôi khi họ cảm thấy cô đơn, thậm chí họ muốn trốn chạy khỏi cuộc sống, trốn tránh chính mình (một vài nghìn cây số). do đó, trong thế giới của phép thuật mùa xuân, mùa xuân và bình minh gắn liền với những buổi tối cuối thu và những đêm trăng lạnh.

e. Xuân điệu bị ảnh hưởng bởi cả văn học phương đông và phương tây, cổ điển và hiện đại (mùa xuân đặc biệt chịu ảnh hưởng của thơ tượng trưng của Pháp, chẳng hạn như bodlele, rimbo, bản ngữ). Thơ tượng trưng đánh giá rất cao sự tương tác giữa các giác quan và âm nhạc của thơ, đồng thời mài giũa các giác quan để cảm nhận và thể hiện những biến thể tinh tế nhất của tạo hóa và trái tim con người.

kết luận:

Là nhà thơ của khát vọng giao cảm với cuộc đời, Xuân Diệu dễ dàng gắn bó với cách mạng và nhân dân. Từ một nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca lãng mạn mới, Xuân Diệu đã trở thành một nhà thơ lớn của nền văn học cách mạng. Là một nghệ sĩ đa tài, sau cách mạng, Xuân Diệu càng phát huy tài năng của mình trên nhiều thể loại: viết, chính luận, dịch thuật, đặc biệt là nghiên cứu và phê bình văn học. trong bất kỳ lĩnh vực nào anh ấy cũng đều có những đóng góp vô cùng quý giá.

2. bỏ chạy

+ vai trò trong phong trào thơ mới:

Nổi lên ở đỉnh cao của thơ mới, Huian đã trở thành một nhà thơ lỗi lạc giúp đưa phong trào này lên đến đỉnh cao. chạy trốn mang một giọng thơ khác, một phong cách thơ độc đáo. Nhắc đến Huy Cận, người ta nhớ đến một thi sĩ đến từ vũ trụ bao la đầy đau thương. là nhà thơ chuyển tải rõ nhất nỗi sầu muộn của thơ mới.

+ một số đặc điểm cơ bản của thơ chạy trốn:

– Thế giới của nghệ thuật Huian là một bầu trời và trái đất bao la, trống rỗng. thế giới đó được tạo ra bởi không gian vô tận và thời gian vô tận:

“mặt trời lặn và bầu trời mọc trên bầu trời

sông dài, trời rộng, bến vắng ”

“Trái tim tôi đã nhớ bạn hàng ngàn năm

hẹn gặp lại bạn hôm nay nhưng đã lâu lắm rồi ”

sông dài, trời rộng, cửa hang, đèo cao … là miền thơ tiêu biểu cho thơ ca chạy trốn, tạo nên một đặc điểm phong cách: ý thức về vũ trụ. Tìm về vũ trụ bao la và vẻ đẹp cổ kính là cách để cái tôi của Huy thoát ra khỏi thực tại. nhưng nó lại đẩy nhà thơ vào một nỗi cô đơn lạc lõng, khao khát một nhịp cầu gợi lên một nỗi niềm thân thương nào đó. vì vậy, cuối cùng, không gian và thời gian trong thơ của cô không chỉ thể hiện sự đối lập với thực tại mà còn chứa đựng tình yêu cuộc sống và khát vọng giao tiếp với cuộc sống.

– cái tôi thơ:

Huy gần bản thân thú nhận rằng anh ấy đã từng rất buồn trong quá khứ. Thực ra, thơ của Huian là tiếng nói của một cái tôi đa sầu đa cảm, một tâm hồn nhỏ bé nhưng mang bản chất đa sầu đa cảm. trạng thái cảm xúc này rất quen thuộc trong thơ mới, nhưng với sự cân bằng tuyệt vời, nó mang một sắc thái riêng. trước hết, đó là nỗi buồn toát ra từ sâu thẳm tâm hồn của một con người hầu như không biết đến thế giới bên ngoài. Thứ hai, nỗi buồn trong thơ Huian là sự giao hòa giữa nỗi u uất của thế gian đặc trưng thơ Đường với nỗi cô đơn, bất lực của cái tôi cá nhân thơ mới và nỗi đau của thực tại. Nỗi buồn đã trở thành một cảm xúc thẩm mỹ thường trực trong thế giới nghệ thuật Huian. nỗi buồn ấy tuôn trào từ trái tim nhà thơ, bao trùm lên mọi không gian và thời gian, tạo nên một cánh đồng thơ: sầu. tuyên bố: người đẹp luôn buồn. điều này tạo nên một phong cách thơ cơ bản nhất trước cách mạng tháng Tám: một hồn thơ não nề

– Thơ gần gũi của Huy chịu ảnh hưởng của cả trung đại và cận đại, phương Đông và phương Tây. đồng thời có thể tìm thấy ở huy gần với thơ: sự ví von trong ca dao tục ngữ, từ Hán Việt xưa trong then cổ, hình tượng thơ mới và hiện đại … những yếu tố này đối lập và hài hòa với nhau. . phải điều chỉnh tác phẩm để mang đặc điểm riêng của ngòi bút Fleen

3. Hân dùng cái chết

+ vị trí, vai trò trong phong trào thơ mới:

bắt đầu con đường thơ của mình bằng thơ tang, nhưng han mac tu nhanh chóng say mê thơ mới. han mac tu đã khẳng định được vị trí đặc biệt của mình trong phong trào thơ mới: một hiện tượng thơ lạ nhất của phong trào thơ mới.

+ nghệ thuật ý tưởng:

han mo tu có một hệ thống đầy đủ các quan niệm về thơ, về nhà thơ và về việc làm thơ. trong một số bài thơ văn xuôi được chơi giữa trăng, nhà thơ tuyên bố:

“Tôi có làm thơ không? nghĩa là ta đánh đàn, ta chạm vào sợi tơ, ta vẫy nhẹ “” thơ là niềm khát khao vô bờ bến về những thú vui trong sáng của một phương trời xa “

“một nhà thơ là một người đàn ông luôn khát khao”

Hệ thống khái niệm này thống trị ngòi bút của nhà thơ, đưa các bài thơ Hàn Quốc đến sự mở rộng vô biên của vẻ đẹp hiếm có và hoàn hảo.

Về cơ bản, quan niệm của nhà thơ vẫn thuộc về quan niệm nghệ thuật vì nghệ thuật. tuy nhiên, không giống như các nhà thơ đương thời, han mo tu đã thiết lập một khái niệm duy nhất về cái đẹp. Chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ tượng trưng và chủ nghĩa siêu thực Pháp, Han tin rằng cái đẹp là cái lạ, cái đẹp là cái đau. tuyên bố rằng nếu không có tiếng rên rỉ thì đó là thơ không có ý nghĩa. Có thể nói, một trong những cống hiến to lớn của Hàn Mặc Tử là mở rộng nội hàm quan niệm về cái đẹp trong trào lưu thơ mới.

+ một số đặc điểm cơ bản của thơ han:

– thế giới nghệ thuật

Thế giới phức tạp và đầy bí ẩn với sự đan xen chặt chẽ của những thứ thuần khiết và thiêng liêng nhất, thậm chí là kinh khủng nhất, rùng rợn và cuồng loạn nhất. có những bài thơ tươi như mùa xuân chín, có những bài thơ trong sáng như ave maria, lại có những bài thơ mơ hồ như phố này là đời, thơ cuồng loạn như ai là hồn ai, biển hồn ta … nào hàn vi chết chóc. cũng bị đẩy đến tột cùng.

mặt trăng, linh hồn và máu là những hình ảnh được sử dụng với tần suất cao và trở thành biểu tượng tiêu biểu của thế giới nghệ thuật Hàn Quốc. rất khó để phân biệt hình ảnh là vật thể hay chủ thể. thế giới nghệ thuật của thế giới dao động giữa cái thực và cái siêu thực, ý thức và vô thức. đây là một nét đặc sắc và độc đáo của thơ han mac tu.

– cái tôi thơ:

Hồn thơ han mac tu rất phức tạp với sự đan xen của nhiều cung bậc cảm xúc, cái tôi thơ đa nghĩa biến hoá theo từng giai đoạn của bài thơ. tuy nhiên, điểm trung tâm làm nên nét nhất quán của thơ ca Hàn Quốc là: tình cảm nồng nàn đến tuyệt vọng (tứ văn sơn). đó là sự nghiêm túc của một con người yêu đời và có chí cầu tiến. càng ý thức sâu sắc về cái chết sắp xảy ra, nhà thơ càng khao khát được sống. nhưng bạn càng sống lâu, bạn càng trở nên tuyệt vọng hơn. do đó, hãy yêu cuộc sống thật nghiêm túc nhé:

con tàu của ai đã cập bến trên dòng sông mặt trăng đó

Bạn có thể quay lại mặt trăng kịp tối nay không?

yêu một người sâu sắc đến mức đau lòng:

một nửa linh hồn của tôi đã biến mất

một nửa linh hồn của tôi chết lặng

bất lực đến cùng cực:

Tôi vẫn ở đây hay ở đâu đó?

người đã đặt tôi dưới bầu trời

hoa phượng nở trong máu

giọt ngọc trai rơi vào trái tim tôi

những cảm xúc đau đớn tột cùng đã khiến thơ của han mo tu rơi vào trạng thái điên cuồng và điên cuồng. đó là nguồn gốc của thơ điên, một dấu ấn của han trong phong trào thơ mới.

– về loại hình nghệ thuật:

han mo tu chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ tượng trưng Pháp, nhà thơ đã đưa thơ mới tiến thêm một bước trong cách tân nghệ thuật. thơ han mac tu là sự vận dụng sáng tạo những kỹ thuật nghệ thuật tinh xảo và huyền diệu của thơ tượng trưng:

đầu

hán mac tu đẩy thơ vào cõi tâm linh, cõi vô thức, mạch cảm xúc phi logic và bất định của thơ. ví dụ: đây là vi da – bài thơ có mạch cảm xúc nhảy vọt, không tuân theo logic của không-thời gian, tâm lý thông thường.

Thứ hai , nhà thơ tạo ra những câu thơ giàu chất nhạc. ví dụ:

mặt trăng, mặt trăng, mặt trăng! Đó là mặt trăng, mặt trăng, mặt trăng!

ai mua mặt trăng, tôi sẽ bán nó

hoặc một bài thơ có chuỗi tiếng cười, nhà thơ sử dụng đoạn điệp khúc 4 dòng để tạo nhạc cho bài hát.

thứ ba, nhà thơ sử dụng thành công một hệ thống biểu tượng độc đáo và có ý nghĩa (trăng, hồn).

thứ tư, việc sử dụng các tổ hợp ngôn ngữ kỳ lạ tạo ra sự giao tiếp giữa các giác quan. ví dụ như: đầy tiếng cười nên đầy mùi trăng ”,“ Đêm ấy tôi nằm trong bể trăng ”…

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Các nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *