Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
115 lượt xem

Cam nhan cua em ve bai tho trang giang

Bạn đang quan tâm đến Cam nhan cua em ve bai tho trang giang phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Cam nhan cua em ve bai tho trang giang

<3 gợi ý tham khảo, nắm chắc kiến ​​thức cơ bản, củng cố kỹ năng viết, mở rộng vốn từ để biết cách viết bài văn cho riêng mình.

Cảm nhận về bài thơ “Tràng giang” và qua đó, dòng sông vẽ nên một bức tranh phong cảnh tươi đẹp, giàu màu sắc, nhiều đường nét hùng vĩ. vì vậy, đây là 6 bài đánh giá hàng đầu, hãy theo dõi chúng tại đây.

nêu cảm nhận về bài thơ

giai đoạn số 1

Bạn đang xem: Cam nhan cua em ve bai tho trang giang

i. mở đầu

1, tác giả:

– là một trong những trụ cột của phong trào thơ mới

– Trang giang trích trong tập thơ đầu tay “Lửa thiêng” (1939)

2. nội dung phân tích: bài thơ là tiếng lòng của một cá thể cô đơn đối diện với vũ trụ vô tận, đối diện với dòng đời mênh mông

ii, nội dung:

1, tóm tắt:

a, hoàn cảnh sáng tác: trích từ tập thơ đầu tiên “Lửa thiêng” (1939)

– cảm hứng sáng tác: cảm hứng từ một buổi chiều thu, khi tác giả một mình trên bến tàu bờ nam, nhìn dòng sông hồng mênh mang sóng vỗ

b, tiêu đề:

  • sự ám chỉ “ang” gợi lên hình ảnh con sông lớn và bao la
  • đó là một từ cổ trong tiếng Hán gợi hình ảnh con sông cổ kính.

c, lời nói đầu:

  • ghi lại nội dung của toàn bài thơ
  • hình ảnh “trời rộng”, “sông dài” gợi ra những phạm vi, không gian khác nhau
  • cảm xúc của nhà thơ: nỗi buồn , ngọt ngào hoài niệm

= & gt; có tác dụng định hướng và tạo nét cổ điển pha lẫn hiện đại

2, phân tích:

a, khổ thơ 1: “Tràng giang” mở đầu bằng hình ảnh dòng sông mang nỗi đau của con người (trích 4 dòng)

– câu 1:

  • gợi sự chuyển động nhỏ bé, nhẹ nhàng của sóng
  • từ “điệp” làm cho nỗi buồn trở nên cụ thể, chồng chất lên nhau
  • trên dòng sông bao la, hình ảnh của một con tàu cô đơn, trôi dạt vô định
  • cụm từ “con tàu về nước” được đọc như thể có thứ gì đó ngăn cách họ.
  • li>
  • cụm từ “trăm mối sầu”: tang tóc vô hướng, lan tỏa khắp không gian

– câu 4:

  • hình ảnh “củi và cành khô” gợi sự cô đơn, nhỏ bé, phù du; từ “một” gợi sự khan hiếm, “cành khô” gợi sự héo úa, “lạc lõng” mang nỗi buồn vô định, leo lét

= & gt; cảm nhận tinh tế trước thiên nhiên sông nước, từ đó thể hiện tình cảm, tâm trạng của nhà thơ

b, khổ thơ 2: chạy trốn giống như vẽ thêm cảnh qua một góc nhìn lớn hơn (trích từ 4 dòng)

– câu 1,2:

  • từ láy với phương thức đảo ngữ: nhấn mạnh sự trống trải, khan hiếm của cảnh vật nơi cồn cát
  • từ “chậm”: tác giả rút ra từ câu ca dao “chinh phu ngâm vịnh” ( doan thi diem) -> làm sống lại không khí trống vắng và u ám của thơ cổ
  • chữ “đâu” có thể hiểu là một nơi nào đó, một bộ phận nào đó, nhưng trong mọi trường hợp, biểu tượng âm thanh nhỏ bé của dấu chân người là cũng quá mong manh, mờ nhạt

– câu 3,4

  • gần hơn đã thể hiện sự chuyển động, mở rộng theo mọi hướng của không gian
  • cụm từ “sâu chót vót” làm cho không gian được mở rộng theo 3 chiều: dài, rộng, cao

= & gt; đó là cảm giác nhớ nhung, bơ vơ, lạc lõng giữa thiên nhiên, trời rộng, sông dài

c, khổ thơ 3: nỗi buồn của cảnh gắn với nỗi đau của thế sự (thơ)

– câu 1,2

  • hình ảnh “nơi hàng nọ chỗ kia”: gợi lên sự bấp bênh và trôi nổi của kiếp người vô định
  • hình ảnh “bờ xanh gặp bãi vàng”: thiên nhiên thuận theo tự nhiên, không có bóng dáng của con người

– câu 3,4

+ cấu trúc phủ định “không… không” phủ định hoàn toàn các mối liên hệ giữa con người với nhau

= & gt; trước mắt nhà thơ không còn bất cứ điều gì gợi ra sự gần gũi để thoát ra khỏi nỗi cô đơn choáng ngợp

d, khổ thơ 4: nỗi cô đơn được tăng cường bằng những hình ảnh tương phản (đoạn thơ)

– câu 1,2

  • khải huyền: mở ra hình ảnh mây trắng và núi lấp lánh ánh bạc mặt trời
  • câu thứ hai có thể hiểu theo hai nghĩa: một con chim có đôi cánh nhỏ rơi vào buổi tối để dòng sông hay bóng chiều đè nặng lên cánh chim khiến cánh chim trĩu xuống

– câu 3,4:

= & gt; tâm trạng chung của các nhà thơ mới lúc bấy giờ

3, xếp hạng:

a, nghệ thuật:

  • sử dụng chất liệu thơ, chất liệu gần gũi với đời sống
  • lối kể điểm, lấy cảnh để kể tâm trạng được sử dụng linh hoạt
  • tiếp tục sưu tầm, đổi mới thơ cổ điển

b, nội dung:

  • nỗi buồn, nỗi cô đơn của tác giả khi đứng trước cảnh quê hương nhưng quê hương đã cùng nhau đi trong quạnh vắng
  • thầm bày tỏ lòng yêu nước sâu sắc

iii, kết thúc:

  • tóm tắt vấn đề
  • bày tỏ cảm xúc của bạn

lược đồ số 2

1. mở đầu

giới thiệu nhà văn chạy trốn và tác phẩm “trang giang”

2. nội dung bài đăng

– Hoàn cảnh sáng tác của “trang giang”: Tháng 9 năm 1938, một buổi chiều tác giả đạp xe ra bến tàu để nhìn dòng sông đỏ chảy.

– ý nghĩa nhan đề và ca từ của bài thơ: trang trọng và cổ kính – âm Việt. gợi lên khung cảnh sông nước bao la, sơn thủy hữu tình.

– khổ thơ 1:

  • từ “điệp” kết hợp với trạng thái buồn: nỗi buồn mênh mông lan tỏa như sóng trên sông.
  • thuyền “xuôi dòng song song” và “thuyền trở về đồng lại buồn cô đơn ”: nhuốm màu buồn chia ly, vạn vật như muốn dừng lại theo tâm trạng nhà thơ.”: một cành củi lạc trôi trong dòng vô định. số phận củi khô trôi sông.

– khổ thơ 2:

  • nhà thơ muốn nghe nhiều “tiếng người xa chợ chiều còn đâu”. nhưng hoàn toàn không có câu trả lời.
  • từ “vaan” tạo cảm giác xa cách và nhàm chán. , hiu quạnh
  • miêu tả “bầu trời nhô lên vực sâu” chứ không phải “vươn lên tận cùng”: “sâu thẳm” ở đây gợi lên một nỗi buồn không đáy, một nỗi buồn trải dài đến vô cùng. của trái tim con người.

– khổ thơ 3:

  • hình ảnh “may mắn”: những điều nhỏ nhặt, tầm thường thay cho lời mô tả cuộc đời con người bấp bênh, trôi nổi và vô định.
  • cấu trúc phủ định “không”. một chuyến phà “-” không đòi hỏi sự thân mật “: nó xóa bỏ mối liên hệ giữa con người với nhau

– khổ thơ 4:

  • Câu chữ màu cổ điển
  • Sử dụng kiểu tô sáng để vẽ một bức tranh màu nước về núi, mây, cánh chim nghiêng, bóng đêm và khói. hoàng hôn.
  • gợi cho câu thơ sự lắng đọng và so sánh.

3. kết thúc

khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm.

Bài thơ tâm tình trang giang – mẫu 1

huy cận là một trong những tác giả tiêu biểu nhất của phong trào thơ mới. thơ ông giàu chất suy tưởng, triết lí, luôn thể hiện sự giao cảm giữa con người với vũ trụ. Tràng giang là một trong những bài thơ tiêu biểu của tác giả, thể hiện đầy đủ tư tưởng và phong cách thơ của nhà thơ.

ngay trên dòng tiêu đề của bài thơ, nhà thơ đã cho người đọc cảm nhận được nỗi buồn của cảnh, cũng như tâm trạng của nhà thơ, từ ngữ cô đọng và chính xác cả cảnh và tình của bài thơ.

p>

sóng cuộn qua sông buồn, thuyền chìm trong nước, nhưng thuyền về ruộng buồn một mình, cành khô lỡ vài dòng

Đứng trước sông nước mênh mông, nỗi buồn của tác giả như nhân lên gấp bội. ngay ở khổ thơ đầu tác giả đã sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh để khái quát về cảnh vật, qua đó tác giả muốn gửi gắm tâm trạng của mình. hình ảnh “sóng lăn tăn” gợi cho ta liên tưởng đến những con sóng cứ trải dài miên man không dứt, như nỗi niềm của một thi nhân thầm lặng mà khắc khoải. sóng giữa sông dài biển rộng càng làm nhân lên nỗi buồn của thi nhân. cảnh con tàu và mọi cảnh hiu quạnh khiến nhà thơ ngập tràn nỗi niềm trong lòng, không biết bày tỏ nỗi lòng cùng ai. tác giả đã sử dụng những hình ảnh rất đời thường để ghi lại những vần thơ của mình và đó là sự sáng tạo độc đáo trong phong cách thơ của ông.

nơi âm thanh xa vắng, chiều tà, bầu trời thăm thẳm, sông dài, trời rộng, hiu quạnh

một lần nữa tác giả lại sử dụng những hình ảnh “cồn, gió, phố, chợ, bến” để nói lên cảm xúc của mình. bằng cách cảm nhận của tác giả, cảnh vật trở nên thưa thớt, trống trải với nỗi buồn sâu lắng, khiến cảnh vật trở nên tĩnh lặng, buồn tẻ, tĩnh lặng và cũng bằng sự tĩnh lặng, nhà thơ cảm nhận được điều đó.

đâu là âm thanh của thị trấn ngoài chợ tối

tác giả nhận được những âm thanh của cuộc sống hàng ngày, nhưng âm thanh đó không rõ ràng ở đâu. nhà thơ đã cố gắng bình tĩnh để lắng nghe âm thanh mơ hồ đó, nhưng anh ta không thể cảm nhận được và nhà thơ đã thay đổi góc nhìn của mình sang một điểm mới.

mặt trời lặn, bầu trời thăm thẳm, sông dài, trời rộng và cô đơn

nhà thơ sử dụng nghệ thuật tả thực để đối chiếu cảnh mặt trời lặn và bầu trời đang lên để gợi ra sự chuyển động hai chiều của đất trời và cũng là nỗi buồn trong tâm trạng của nhà thơ. đứng giữa mênh mông sông nước, đất trời, con người như nhỏ lại, nỗi đau vô bờ.

bạn đang đi đâu đây, những dãy hàng dài vô tận không có phà qua lại, không đòi hỏi một chút riêng tư, trong im lặng, từ bờ xanh đến bãi vàng

Hình ảnh cánh bèo gợi cho ta liên tưởng đến kiếp người trôi nổi. vịt nổi không biết trôi về đâu, không có cầu, không có thuyền đưa khách, cảnh tượng như vậy làm sao người ta thoát được nỗi xót xa? Tả cảnh ấy, tác giả thể hiện khát vọng giao cảm với cuộc đời, khát vọng thoát khỏi những u uất của cuộc đời để có một cuộc sống tốt đẹp hơn.

những lớp mây cao lấp ló những ngọn núi bàng bạc, những chú chim giương cánh bay lên, bóng chiều nhỏ trong lòng cánh đồng, với làn nước không khói, hoàng hôn cũng nhớ nhà

Xem thêm: Soan ngu van 9 bai trau doi von tu

Sau khi quan sát xung quanh, nhà thơ hướng ánh mắt về phía vũ trụ và nhìn thấy hình ảnh đầu tiên của những đám mây, với từ “đùn” cho thấy chúng chồng lên nhau mạnh mẽ. các ngọn núi sau đó kết thành một ngọn núi, sau đó được phản chiếu dưới ánh mặt trời lặn, tạo nên một màu sắc rực rỡ mà nhà thơ gọi là “núi bạc”. Hình ảnh này tuy tươi sáng nhưng nó chứa đựng nỗi buồn của cô ấy, giống như nỗi buồn của cô ấy tích tụ như núi với mây với hình ảnh cánh chim.

<3

Tác giả đã dùng từ “sóng sánh” để miêu tả những con sóng cuốn theo dòng nước, trải ra trong tích tắc, cho thấy nỗi nhớ luôn hiện hữu trong đó và sẵn sàng lan tỏa khắp nơi.

Bài “Tràng giang” đã thể hiện nỗi nhớ quê hương, đất nước của nhà thơ. đứng trước khung cảnh thiên nhiên bao la, nhà thơ căm giận cảnh vật mà nảy sinh tình cảm, nghĩa là tình cảm chân thành đối với quê hương của nhà thơ. Tập trung vào các đề tài gần gũi đời sống, Tràng Giang đã trở thành một sáng tác tiêu biểu trong văn học Việt Nam.

Cảm nhận bài thơ trang giang – văn mẫu 2

Cảm nhận bài thơ Tràng Giang hay nhất (6 Mẫu) - Văn 11

Huy Cận là một nhà thơ gắn liền với phong trào thi ca cách mạng Việt Nam. Trước Cách mạng tháng tám, thơ ông mang nỗi sầu về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, tạo vật với các tác phẩm tiêu biểu như: “Lửa thiêng”, “Vũ trụ ca… Nhưng sau cách mạng tháng Tám, thơ ông lại mang một màu sắc mới, thơ ông chủ yếu hướng tới cuộc sống và con người, thiên nhiên, tiêu biểu với những tác phẩm như: “Trời mỗi ngày lại sáng”, “Đất nở hoa”… Và một trong những tác phẩm không thể không kể đến đó là tác phẩm “Tràng Giang” được trích từ tập “ Lửa Thiêng”, bài thơ gợi lên vẻ đẹp của thiên nhiên nhưng lại chất chứa một nỗi buồn ảm đạm, ẩn dụ cho một kiếp người nhỏ bé, trôi nổi giữa dòng đời vô định.

với nhan đề “trang giang” có nghĩa là “sông dài” đã gợi cho người đọc một không gian bao la, không bến bờ. “trang giang” hai câu mang sắc thái cổ điển tao nhã, đồng thời gợi cho người đọc liên tưởng đến dòng “sông dài” trong thơ Đường thi, một dòng sông vĩnh hằng nhưng ẩn sau sự mênh mông. mông lung đó là nỗi lo lắng, buồn phiền của kiếp người nhỏ bé giữa vũ trụ bao la, bao la.

sau đây là câu chủ đề chỉ vỏn vẹn bảy chữ nhưng đã khơi gợi được cảm xúc chủ đạo của cả bài: “thở dài giữa trời thương nhớ muôn thuở”. đứng trước cảnh “trời rộng”, “sông dài” khiến lòng người khơi dậy cảm xúc “bâng khuâng”, thương nhớ. từ láy được sử dụng rất hay, nó thể hiện tâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn bã, sầu muộn, cô đơn, lạc lõng. và ngay từ khổ thơ đầu tiên, người đọc đã bắt gặp những làn sóng lo lắng và buồn bã như thế:

“sóng nhấp nhô buồn buồn thuyền xuôi sông song thuyền về ruộng buồn lẻ loi một cành khô lạc mấy dòng”

với bốn dòng đầu của bài thơ mở đầu, không gian thiên nhiên bao la và nỗi buồn hiu hắt hiện lên rõ nét. hai chữ “điệp” và “song song” ở cuối hai dòng kẻ càng làm tăng thêm không gian bao la của người đọc, thấm đẫm sắc thái cổ kính của đường thi. những gợn sóng thường rất dữ dội, nhưng trong thơ chạy trốn thì “sóng lăn tăn” tạo cảm giác người đọc có thể cảm nhận được nỗi buồn kết hợp với “điệp điệp” khiến người đọc thấy nỗi buồn vô cùng lớn và cứ miên man miên man. . hình ảnh con thuyền ở đây còn là hình ảnh ẩn dụ cho con người, sự chuyển động thầm lặng, “song hành”, nó như thân phận của mỗi người luôn trôi giữa dòng đời không biết đi về đâu. sông vô tận, vô tận, nỗi buồn của người cũng rưng rưng.

“Thuyền về ruộng buồn mất mấy hàng củi khô.”

con tàu và nước về bản chất gắn liền với nhau, nhưng tác giả thấy con tàu và nước tách rời nhau, xa “tàu về nước”, nghe có gì buồn. chính vì vậy mà nó gợi lên trong lòng người nỗi niềm “trăm mối sầu”. cái hồn của chủ đề trữ tình được thể hiện trọn vẹn hơn qua câu đơn: “mấy hàng củi, một cành tàn”. Huian đã khéo léo sử dụng phép đảo ngữ kết hợp với những từ ngữ chọn lọc, thể hiện sự cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ bao la. “một” gợi sự khan hiếm, nhỏ bé, “cành khô” gợi sức sống khô héo, “lạc lõng” gợi nỗi buồn vô định, lênh đênh, đung đưa trong “muôn vàn dòng chảy” của vùng biển thiên nhiên bao la. bao la. Cành củi khô ấy đi về đâu, hình ảnh giản dị, không tô vẽ nhưng đầy rùng rợn, khiến lòng người đọc trống trải, cô đơn.

với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, bằng ngôn từ và hình ảnh rất gần gũi với đời sống của con người, khiến người đọc hiểu và cảm nhận được không gian mênh mông và nỗi buồn vô hạn. sự kiên định trong lòng người ẩn hiện trong hình ảnh hùng vĩ của thiên nhiên.

và trái tim đó dần dần mở ra, cho phép người đọc dần dần khám phá và học hỏi

<3

Hai từ “lười biếng” và “đáng yêu” được tác giả sắp xếp khéo léo trong cùng một dòng thơ, tạo nên một khung cảnh tĩnh lặng. giữa cảnh “nhàn”, “ít cồn”, gió lào “tẻ nhạt”, một khung cảnh lạnh lẽo, mệt nhọc cộng với sự nghèo nàn, hiu quạnh khiến con người ta thật cô đơn, thật choáng ngợp. anh thốt lên “tiếng người ở đâu xa chợ chiều”. Nói đến cảnh họp chợ, người ta thường nghĩ ngay đến cảnh buôn bán, buôn bán hối hả, nhưng ở đây họ lại chọn khung cảnh là phiên chợ chiều, khiến người ta có cảm giác yên tĩnh và vắng vẻ.

“Mặt trời lặn, trời thăm thẳm, sông dài, trời rộng, bến vắng.”

“Nắng lên, trời lên” gợi sự chuyển động, mở rộng không gian nhưng vẫn gợi sự ngăn cách: vì mặt trời và bầu trời tách rời nhau. hình ảnh “rất sâu” là một cách thể hiện mới và sáng tạo của chạy trốn, với một vẻ đẹp hiện đại. đồng thời cho thấy nỗi buồn của nhà văn không chỉ dừng lại ở thiên nhiên xung quanh mà còn vươn tới tận trời cao. những hình ảnh “sông dài”, “trời rộng”, “bến vắng” thể hiện không gian mênh mông mênh mông, tịch mịch của sự vật trước sân khấu mênh mông ấy. Với nghệ thuật so sánh, tác giả đã khiến cho người đọc không chỉ thấy cảnh vật xung quanh bùi ngùi mà còn thấy được nỗi lòng của con người. nhà thơ trở lại nhìn sông, nhìn cảnh vật bao quanh mình, mong ước một điều gì đó thân thuộc mang hơi ấm cho tâm hồn đang chìm trong giá lạnh, trong cô quạnh. nhưng thiên nhiên đã đáp lại mong muốn đó bằng những hình ảnh hiu quạnh và hiu quạnh hơn.

“còn đâu sự trôi dạt, dãy này qua hàng khác, mênh mông không một bóng thuyền qua lại. không cần gợi một chút thân tình, êm đềm bờ xanh gặp bãi vàng.”

Hình ảnh đám bèo trôi sông là hình ảnh thường được sử dụng trong thơ ca cổ điển, nó gợi lên cái gì đó bấp bênh, trôi nổi của kiếp người vô định giữa dòng đời. nhưng trong những vần thơ gần gũi của huy không chỉ có một hai cánh bèo mà là “hàng này sang hàng khác” chứng tỏ không có từ ngữ nào có thể diễn tả hết được những số phận cô đơn, lạc lõng trong cuộc đời.<3

tác giả đưa ra một cấu trúc phủ định. “… Không… không” để phủ nhận hoàn toàn mối liên hệ giữa con người với nhau. trước mắt nhà thơ không còn bất cứ thứ gì gợi sự thân thiết thoát ra khỏi sự tịch mịch bao trùm và vây lấy anh, chỉ có thiên nhiên rộng lớn, bao la. những chiếc cầu hay những chuyến phà, những phương tiện kết nối của con người, dường như đã bị thiên nhiên gặm nhấm và cuốn trôi đi đâu đó.

Sau đó, tác giả sử dụng khéo léo các mô hình thơ cổ điển để thể hiện tình cảm

“một lớp mây cao phủ lên những ngọn núi màu bạc, những chú chim nghiêng cánh trong bóng tối.”

hình ảnh thơ là những nét chấm phá của thiên nhiên mang vẻ đẹp cổ điển, trữ tình và càng thơ mộng hơn khi được khơi nguồn từ một bài thơ tang tóc. huy cận đã khéo léo sử dụng động từ “đùn”, làm cho mây chuyển động, có nội lực đùn hết lớp này đến lớp khác của mây. hình ảnh con chim nghiêng đôi cánh nhỏ để thu hút bóng chiều rủ nhau xuống mặt sông, hay chính bóng chiều đang trĩu nặng trên cánh chim bé nhỏ nghiêng ngả cả lối đi. dòng miêu tả không gian nhưng gợi thời gian vì nó sử dụng “cánh chim” và “bóng chiều”, là những hình ảnh thẩm mỹ để miêu tả cảnh hoàng hôn trong thơ cổ điển.

như vậy, với những luận điểm tả cảnh thiên nhiên qua phép so sánh, phép tu từ biệt lập đã định hình được không gian bao la của thiên nhiên cùng với một nỗi buồn da diết cho kiếp người. nhưng giữa thiên nhiên và con người ở huy, thơ gần gũi rất hòa quyện, quyện vào nhau làm tan chảy bao trái tim người đọc. Điều này cho thấy sự tài tình qua cách dùng từ, cảm nhận thiên nhiên bằng đôi mắt rất tinh tế, sự bộc lộ chân tình của tấm lòng đã mang đến cho người đọc một tâm trạng rất thấu hiểu. . qua đó, nhà thơ chạy trốn cũng bày tỏ tình yêu quê hương đất nước, con người nơi đây.

Cảm nhận bài thơ Tràng giang – văn mẫu 3

Có những tác phẩm văn học ta vừa đọc xong, gấp lại thì sẽ quên, nhưng cũng có nhiều bài thơ, bài thơ, thật kỳ diệu, đã thấm vào sâu thẳm trái tim ta một sức hút vô cùng mạnh mẽ. . Huian Trang Giang là một công việc tuyệt vời! đọc bài thơ, ta cảm nhận được từng lời thơ, từng giai điệu… như dòng chảy của một dòng sông, nhẹ nhàng len lỏi mà len lỏi vào sâu thẳm tâm hồn, khắc sâu vào đó những ấn tượng sâu sắc. sâu! …

“Thơ của huy cận thường buồn”, xuan dieu, bạn thân và cũng là người bạn đời thân thiết của huy, cũng nói như vậy! họ là hai người bạn thân của nhau, hai thi sĩ say mê yêu và tìm kiếm thế giới tự nhiên vô tận, nhưng trong sự kỳ diệu của mùa xuân, thiên nhiên đã yêu hương vị ngọt ngào của ngôn ngữ tình yêu, trong khi mùa xuân gần kề, cây cối, sông núi êm đềm, lặng lẽ như đang xâm chiếm nỗi buồn của cái “tôi” lẻ loi. Tràng Giang là một trong những kiệt tác được kết tụ từ nỗi buồn “mang về thiên cổ”! đọc bài thơ, có lẽ ta gặp một nỗi buồn, một nỗi buồn của người thanh niên mà “cả đời thường nước mắt lưng tròng”, nỗi buồn có lẽ rất… huy hoàng mà hơn một lần thanh xuân đã nói. nhiều lần, như sau:

“Trong thơ Việt Nam ta nghe tiếng giặc buồn không phai từ tiếng sáo thien thai, không phải là tình ca, không phải là câu chuyện trữ tình của một bản ngã mà là một khúc ca dài ảm đạm” phải không? là sầu của rừng trúc, có phải là than thở của bờ cát, có phải là trăng thương xót những vì sao? nó làm tôi rơi nước mắt… ”.

thật là một nhận xét tuyệt vời! nhưng có lẽ đó là tất cả những gì cần thiết, chúng tôi đã học được rất nhiều điều về thơ từ cuộc chạy trốn!

và đặc biệt là trang giang …

Bài thơ là một bức tranh thiên nhiên có hồn là một nỗi buồn xa vắng, hoang vắng, có cái gì đó như một cái chết cô đơn. “

những con sóng đau đớn lăn tăn qua làn sóng của con tàu đi xuống vùng nước song song

nhìn những con sóng nhỏ đánh nhau trong lặng lẽ rồi xa dần về cuối chân trời, tâm hồn nhà thơ bỗng cất lên một “điệp ngữ” buồn. điệp từ đã tạo nên hình ảnh một nỗi buồn ngàn thu, một nỗi buồn triền miên, lớp lớp … nhiều khi người ta nói trùng điệp để chỉ núi non, nhưng ở đây tác giả đem nó ra để diễn tả một nỗi buồn, thật độc đáo. sự sáng tạo trong cách dùng từ để hình dung một nỗi buồn thật lãng mạn! nhạc điệu của bài thơ như thể xa xăm, như thể một sự thân quen quen thuộc! có lẽ họ bỏ chạy khi nghĩ đến một bài hát nổi tiếng:

wow, bụng tôi buồn quá

ở đây, bao nhiêu gợn sóng trong dòng chữ như nỗi buồn thơ. câu thơ không chỉ nghiêng về những con số mà còn về sắc thái, nỗi buồn chỉ nhẹ nhàng, êm đềm mà dai dẳng, dai dẳng, dường như vô tình xa vắng, đọng lại thành một giọng buồn vô tình, vang vọng mãi giữa vũ trụ. Trái đất. thiên đường …

và… hình ảnh con tàu nổi bật giữa mênh mông sóng nước, con tàu nhỏ bé nổi bật giữa sóng biển nhưng cũng ẩn chứa trong đó! hình ảnh vô cùng độc đáo! con thuyền nhỏ dường như đang trôi, chao đảo vu vơ, xuôi ngược mãi … dọc theo dòng chảy ngàn thu bất tận …

Cụm từ “song song” cũng là một cách liên hợp lạ mà chúng ta chưa từng đọc, nó giống với “điệp ngữ buồn” ở câu trước gợi nỗi buồn mênh mông.

đến câu thơ thứ ba, nước và thuyền đã chuyển động ngược chiều nhau, thuyền không còn trôi theo dòng chảy nữa:

thuyền về nước, tang thương trăm ngàn củi, mấy dòng lạc một cành tàn …

sự cân bằng song song của câu thơ đã bị phá vỡ. con tàu quay trở lại, nhưng ở đâu? … không rõ! chỉ còn lại một bên sông không có thuyền, nỗi cô đơn như kéo dài dường như vô tận. hình ảnh con tàu cứ mờ dần, mờ dần, rồi mờ dần, nước phải chia đôi “khắc nghiệt trăm phương”. huy near đã rất khéo léo trong việc miêu tả chuyển động của mọi vật để nói lên sự đi lại của không gian. thời gian vận chuyển theo tầm nhìn của con tàu và không gian cũng mở rộng theo nó. nếu như trước đây không gian chỉ được xác định bởi dòng nước chuyển động song song với con thuyền, thì nay bóng dáng con thuyền đã mất đi, không gian bỗng chốc mở rộng thành “trăm dạng”, dài vô tận. có một chỗ đứng vững chắc! do đó, câu thơ thứ ba đã trở thành đòn bẩy nâng câu thơ cuối lên bằng một chi tiết rất độc đáo:

một số dòng bị mất trong một số dòng gỗ khô

Chỉ về hình ảnh thơ và ý tưởng thơ! “củi trên cành khô” có lẽ là một hình ảnh mà chúng ta chưa từng thấy, nó đã đưa bài thơ thoát khỏi không khí xa xưa để trở về thời hiện đại “một cành khô dập dềnh nổi lên giữa sóng nước đôi bị đẩy sang bên này, có khi bị kéo sang bên kia … phải chăng là hiện thân của một kẻ lữ hành, luôn lạc lõng và không phòng bị, bị dòng xoáy cuộc đời lôi kéo?

giai đoạn ấy, vẫn bình thản suy tư qua những cơn sóng “buồn”, “dòng nước song song” và qua sự bàng quan mặc cho “con tàu về nước” mặc cho trôi củi lạc! …

Cho đến khổ thơ tiếp theo, tác giả đã đi sâu vào miêu tả nỗi buồn. nỗi buồn bàng bạc của cả không gian không còn lang thang bất khả chiến bại trên dòng sông nữa mà đã dừng lại trên một cồn cát nhỏ:

thấp thơ, gió nhỏ, nơi tiếng phố xa, nắng chợ chiều, trời thăm thẳm, sông dài, trời rộng, bến vắng hiu quạnh.

p>

khung cảnh của bài thơ đầy hài hước. có lẽ chạy trốn đã quy tụ tất cả hình ảnh và âm nhạc để tô đậm thêm nỗi buồn của con người trước cảnh trời rộng, sông dài. tình cảm buồn gửi trong vần, bằng từ gợi sự mong manh, cô đơn! “lờ mờ” gợi hình ảnh, “lắng đọng” gợi cảm xúc, cả hai từ dường như đã được nhà thơ phát huy hết sức gợi tả nỗi buồn, một nỗi buồn nhẹ nhàng mà sâu lắng, buồn đến lạnh lùng, giản dị đến choáng ngợp tâm hồn.

câu thoại “tiếng người xa chợ chiều ở đâu?”, có thể hiểu là “tiếng người xa chợ ở đâu”, nhưng đó cũng có thể là câu hỏi mà tác giả đặt ra. với chính mình “” anh ấy ở đâu “,” anh ấy ở đâu? ” âm thanh của “thị trấn có xa chợ không?”…

ở đây, chạy trốn một cách khá tự nhiên được sử dụng một kỹ thuật quan trọng trong kỹ thuật cổ điển “mượn” động “để chỉ” tĩnh “, cố gắng tìm và nghe một âm thanh chuyển động trong im lặng. Bước đi trong im lặng rùng rợn!

rằng nỗi buồn dường như kéo dài hơn trước khung cảnh không gian mà tác giả tạo ra bằng những từ rất kỳ dị:

mặt trời xuống thấp, trời cao, sông sâu, trời rộng, bến tàu hiu quạnh

Đồng thời, Hulian đã sử dụng thủ thuật của một nhiếp ảnh gia và nghệ thuật của một họa sĩ để tạo ra một bức ảnh độc đáo. bình thường từ “tháp” chỉ dùng để tả độ cao, “trong sâu thẳm bài thơ”, không gian như lớn thêm, trong bức tranh sông dài, có trời cao “cực sâu”, có mấy cồn cát. . nhỏ, “bến tàu đơn độc”. thiên nhiên phóng khoáng hơn và có vẻ sinh động hơn, nhưng không, khi lòng người vẫn “chán”, “lẻ loi”, “cảnh chẳng vui bao giờ”… một dải đất giữa sông dài, mấy đâu ”. những cơn gió điếc ”không đủ làm mát cảnh vật, và tiếng“ tiếng làng xa chợ chiều ”mơ hồ, mong manh. chỉ là thiên nhiên, một thiên nhiên mang một nỗi buồn man mác, da diết bàng bạc cả không gian và thời gian. ”Từng lớp sóng gợn trên sông, âm thanh du dương của bờ tre, nỗi buồn cổ kính chợt bay theo gió. thổi vào! giờ đây, giữa vũ trụ bao la, rộng lớn ấy, chỉ còn lại một tác giả, đứng trơ ​​trọi trong cô đơn, hiu quạnh, chẳng khác gì phong trần, ngàn năm trước cũng có một sinh mệnh như vậy:

<3

người cô đơn gặp cảnh cô đơn, nỗi cô đơn càng lớn mạnh. khổ thơ thứ ba mở ra một cảnh tưởng như không còn dấu vết của sự sống, một cảnh tưởng như đã chìm đắm trong thế giới vô cùng ngột ngạt.

bạn đang đi đâu, những dãy hàng dài vô tận không có phà qua lại không đòi hỏi một chút riêng tư, lặng lẽ từ bờ biển xanh đến bãi biển vàng.

nỗi buồn lan tỏa, mặc dù những con chữ có thêm một số màu sắc nhạt nhòa! khung cảnh mở ra thêm hàng ghế dài và bãi biển, thêm một chút màu vàng để tô điểm cho trung tâm của bức ảnh, và thay thế cho “cành khô và gỗ” đã trôi nổi “hàng nước” nối tiếp nhau mãi mãi. nhưng “hàng này qua hàng khác” chợt hiện ra trong dòng sông của nhà thơ như một câu trả lời, tôi đành để hồn mình trở thành một hòn đảo lẻ loi giữa mây, trời và sông ”“ hòn đảo tâm hồn mình rung động vì mọi người ”. / p>

hàng loạt từ láy lặng lẽ gợi lên bầu không khí hiu quạnh, lại thêm những chi tiết tiêu cực “” tàu không qua “, không một cây cầu, càng làm tăng thêm nỗi cô đơn. Một mình ở đây nỗi cô đơn có lẽ đã lên đến đỉnh điểm, mong muốn tìm được một” chút tri kỷ “trên một chiếc “du thuyền”, một số liên lạc với những người ở phía bên kia của cây cầu nhỏ, nhưng cả hai đều không có:

con tàu không đưa ra sợi dây mà một cánh buồm luôn chờ đợi qua đó!

Hai bờ sông như hai thế giới riêng biệt, cái này rút lui không liên lạc với cái kia! nước vẫn tiếp tục chảy ra ngoài ý muốn. dòng sông càng trở nên mênh mông, mỗi khi mỗi người cười dưới tâm tư trĩu nặng của thi nhân sớm muộn phiền mênh mông, cánh bèo trải dài trên lớp nước ấy là hình ảnh tượng trưng cho trạng thái của thi nhân. , của những người trẻ tuổi ba mươi, cũng bỡ ngỡ và bất khả chiến bại, cũng mong manh và nhỏ bé, cũng trôi theo dòng đời bất tận? như tâm trạng mà xuân điều đã từng viết “” ta cũng bơ vơ, hồn mỗi con người là một vương quốc lẻ loi giữa trời đất là khung trời bơ vơ “. Vì thế, nỗi buồn của huy hoàng, của một thi sĩ người nghệ sĩ đã”. hơn một lần anh gửi áo cho trăng ”mà lòng vẫn“ buồn mưa rơi ”,“ nắng ”không phải buồn vô cớ mà còn là nỗi buồn của thời cuộc, nếu nói chính xác hơn, đó là nỗi buồn của những trí thức vụn vặt, những thanh niên tiểu tư sản thời ấy, những con người bị “ta đè” bằng những mảnh ghép tâm hồn nhưng lại bị người đời “ruồng bỏ” với những đôi chân “muốn chui lỗ, chui rúc trong cuộc đời”! và có lẽ bởi họ đã nhiều lần than thở:

Nếu không biết bao lần anh hoảng sợ trong bóng tối, cánh gãy như dơi, nếu không biết bao nhiêu giọt lệ đắng cay chảy dài như dòng sông không gột rửa được bao muộn phiền!

mượn dòng sông để soi sáng tâm hồn bé nhỏ cô đơn, nỗi buồn dường như càng thêm sâu nặng! nhà thơ đã mang tâm trạng cô đơn và buồn bã ấy bao trùm lên cảnh vật thiên nhiên.

<3

Giữa bầu trời xanh bao la, mây bay lên như núi bạc trắng, bỗng xuất hiện một chú chim nhỏ mà “bóng đè nặng đến nỗi phải nghiêng cánh” (xuân diệu).

sử dụng thứ gì đó hữu hình để mô tả thứ gì đó vô hình. Thật khó để tưởng tượng ranh giới giữa sự nhỏ bé hữu hạn và sự vĩ đại vô hạn đã đưa ra sự chạy trốn! cảnh hiện lên trong thơ ông tuy rất buồn nhưng vẫn không ẩn chứa một chút gì đó hùng vĩ, hùng tráng. điều duy nhất ở đây là góc nhìn của nhà thơ! “Trên cánh chim rủ xuống tác giả đã thấy bóng mặt trời lặn!” trong khi nguyễn du nhìn thấy “bóng chiều” qua cành “liễu rũ tơ”, hán tử nhìn thấy “bóng xuân” trên những thềm trời thì ở đây trốn chạy cũng tinh tế không kém khi nhận thấy “bóng chiều” trên cánh chim nghiêng mình. ! một cánh chim đơn độc, bám lấy ánh sáng của buổi chiều sắp tới, khiến đất trời như mở rộng thêm! không gian vừa trải ra muôn ngàn “lớp” mây xếp chồng lên nhau, bất chợt hoàng hôn buông xuống rất nhanh, cũng là lúc tâm hồn lữ khách chợt nhớ quê da diết.

<3

âm hưởng thơ tang da diết ở câu cuối, mượn nỗi nhớ quê hương của bậc hiền nhân trong bài Hoàng hạc diên niên.

<3

nhưng bỏ trốn cho thấy một tình yêu nồng nàn hơn! tình yêu đau nên thủy triều xôn xao. chữ “điệp” xao xuyến như làn sóng “điệp điệp”, trùng điệp xao xuyến chứa chan bao yêu thương. ngày xưa tang thi phải có “sóng khói sông”, hồ dzế phải có “khói buồn bay lên mây” để gợi nhớ quê hương thì mới “nhớ nhà trong điếu thuốc”. nhưng nó đây, một lần nữa khác. nhân vật trữ tình trong thơ chạy trốn đứng trước một sân khấu không sương, không khói lúc chiều tà, nhưng họ cũng rung lên nỗi nhớ về một cánh đồng xa xôi phía chân trời. gần gũi không cần bên ngoài! lúc này nỗi buồn đã hình thành, không chỉ là cảm giác buồn mênh mang do xúc động khi nhìn mặt nước. hai câu cuối gói gọn trong cảm xúc nồng nàn và đẹp đẽ! và nhắc nhở chúng ta về những câu thơ cổ:

<3

Bao trùm toàn bài thơ là một nỗi buồn lan tỏa và da diết, một nỗi buồn từng được một kẻ hoài cổ bình luận “ai kể nỗi buồn nơi thanh cao hẹp, nỗi buồn sông dài, nỗi buồn người lữ khách dừng chân. vó ngựa lên núi, nỗi buồn đêm mưa, nỗi buồn mất bạn bè … cái gợi lên cái hồn buồn Á Đông, cái gợi cái mạch sầu đã ẩn chứa trong mảnh đất ngàn đời này. năm! năm! ”.

buồn nhưng không bi quan, không chán nản! bài thơ được trình bày như một bài thơ buồn nhưng vẫn dạt dào, sâu lắng với tình yêu quê hương tha thiết, tha thiết! có phải vì thế mà xuân khảo đã từng ca ngợi “” trang giang là bài thơ hát sông nước non sông, dọn đường cho tình quê “.

Cảm nhận bài thơ trang giang – văn mẫu 4

tên thật của nhà thơ huy quan là cu huy can. bằng giọng thơ riêng của mình, ông đã khẳng định được tên tuổi của mình trong phong trào thơ mới 1930 – 1945. Ông quê gốc ở quê hương Hà Tĩnh, sinh năm 1919 và mất năm 1919. 2005. Trước cách mạng tháng Tám, thơ ông mang nỗi buồn về cuộc sống của con người và tôn vinh vẻ đẹp của thiên nhiên, tạo vật bằng những tác phẩm tiêu biểu như “Lửa thiêng”, “Bài ca vũ trụ”, câu kinh. nhưng sau cách mạng tháng Tám, hồn thơ của Người trở nên lạc quan, tràn đầy cảm hứng về cuộc sống đấu tranh và xây dựng đất nước của nhân dân lao động ”“ trời sáng mỗi ngày ”,“ đất nở hoa ”,“ bài thơ cuộc đời ”. …. vẻ đẹp của thiên nhiên, nét u uất của thế gian, một nét thơ tiêu biểu của Huệ An, được thể hiện khá rõ nét trong bài thơ “Trang giang”, bài thơ nổi tiếng và tiêu biểu nhất của Huệan trước Cách mạng tháng Tám.

bài thơ là một đoạn trích trong tập “Lửa thiêng”, được sáng tác khi Huy đang ở gần bờ nam bến tàu sông Hồng, nhìn cảnh vật mênh mông của sóng biển, lòng đầy xót xa và biết ơn chiếc phao bé bỏng của mình. cuộc sống trôi qua dòng đời bất tận. Với nỗi niềm ấy, bài thơ vừa mang vẻ đẹp cổ điển vừa hiện đại, mang đến cảm xúc và tình yêu cho người đọc.

<3

Từ nhan đề của bài thơ, nhà thơ đã gợi lên vẻ đẹp cổ điển của bài thơ một cách thông minh. “trang giang” là một cách viết sai sáng tạo của từ chạy trốn. hai tiếng “anh” nối tiếp nhau gợi lên trong người đọc cảm giác về dòng sông không chỉ dài vô tận mà còn rộng lớn vô hạn. hai chữ “trang giang” mang âm hưởng cổ điển tao nhã, gợi nhớ đến dòng sông dài của thi ca, dòng sông vĩnh hằng, dòng sông của suy tư.

Tham khảo: Soạn bài ôn tập về văn bản thuyết minh

bốn bài thơ “trang giang” mang đặc điểm cổ điển như thơ cổ “nhà thơ thường ẩn mình sau mênh mông của sóng biển, khác với các nhà thơ mới thường bộc lộ cái tôi của mình, nhưng nếu các nhà thơ xưa tìm về với thiên nhiên mong hòa nhập, đồng cảm và trở về với thiên nhiên để bày tỏ sự lo lắng, xót xa cho kiếp người cô đơn, nhỏ bé trước vũ trụ bao la. tác phẩm chứa đựng tinh thần hiện đại.

những câu đơn giản, ngắn gọn chỉ vỏn vẹn bảy chữ nhưng đã chiếm được cảm xúc chủ đạo của cả bài “” tiếc trời rộng, thương nhớ muôn năm “trước cảnh” trời rộng “,” sông dài “mênh mông và bao la của thiên nhiên, lòng người thao thức cảm giác “đau đáu”, thương nhớ Từ “khoảnh khắc” được sử dụng rất hay, nó diễn tả tâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn, buồn, sầu, cô đơn, lạc lõng, bâng khuâng. dòng sông ”, nghe tựa bất tận, gợn sóng không ngớt suốt các khổ thơ, cứ cuộn trào trong lòng nhà thơ, làm rung động trái tim người đọc.

và ngay từ khổ thơ đầu tiên, độc giả đã gặp phải những làn sóng lo lắng và buồn bã như thế.

Sóng nhấp nhô buồn buồn, thuyền xuôi dòng song song, thuyền về ruộng buồn, mấy dòng lạc cành khô.

Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rõ ngay từ bốn dòng đầu. hai chữ “đối” và “song hành” ở cuối hai câu thơ mang đậm âm hưởng cổ nhạc của đường thi. và không chỉ mang vẻ đẹp ấy mà nó còn chứa đầy những hình ảnh gợi, liên tưởng đến những con sóng cứ trải, trải, chồng lên nhau, dòng nước cứ cuốn đi đâu cũng có, không dứt. trong cái “trùng điệp” nhấp nhô của dòng sông, mà dòng nước “song hành” là “con thuyền trên nóc” đang xuôi dòng. trong cảnh có chuyển động như vậy, nhưng sao tôi chỉ thấy sự tĩnh lặng và bao la của thiên nhiên, một dòng “trang giang” dài và rộng lớn, không biết bao nhiêu mà kể.

con sông dài vô tận, vô tận, nỗi buồn của con người cũng đong đầy trong lòng.

con tàu trên đường về nhà buồn và bị lạc một số dòng.

con tàu và nước vốn có mối liên hệ với nhau, con tàu đi xa nhờ dòng nước chảy xiết, nước va vào con tàu. tuy nhiên, huy thấy con thuyền và dòng nước chia nhau gần, xa “thuyền đi ngược dòng nước”, thật buồn không biết tại sao.

Chính vì vậy mà nó gợi lên trong lòng người nỗi niềm “trăm mối sầu”. từ số nhiều “trăm” tương ứng với từ “nhiều” thổi nỗi buồn vô hạn vào bài thơ.

Tâm hồn của chủ đề trữ tình được bộc lộ trọn vẹn hơn qua câu thơ đơn “” mấy dòng lạc lõng giữa rừng cành tàn “. Chạy trốn được sử dụng một cách khéo léo phép đảo ngữ kết hợp với những từ ngữ chọn lọc thể hiện sự cô đơn, lạc lõng trước mặt của vũ trụ bao la, “một” gợi sự khốn cùng, nhỏ bé, “cành khô” gợi sức sống khô héo, “lạc lõng” mang nỗi buồn vô định, trôi lững lờ trôi trên “mấy dòng” nước thiên nhiên mênh mông, cành củi khô ấy cuốn trôi. đối với một số người Thay vào đó, hình ảnh đơn giản, không tô vẽ nhưng đầy kinh dị, khiến trái tim người đọc cảm thấy trống rỗng và mồ côi.

Vẻ đẹp cổ điển trong lối “diễn cảnh tả tình” điêu luyện và tài hoa của tác giả đã gợi lên một nỗi buồn, u uất như một làn sóng sẽ tiếp tục vỗ về trong những khổ thơ còn lại để người đọc đồng cảm và thấu hiểu một nét tâm tư. tinh thần chung. ở các nhà thơ mới. nhưng bên cạnh đó ta còn thấy được một vẻ đẹp hiện đại rất thơ của khổ thơ. chính trong cách nói đặc biệt “củi khô cành khô” không chỉ khơi gợi cảm xúc của mọi người cùng khổ mà còn bộc lộ tâm trạng của nhân vật trữ tình, một nỗi cô đơn, lạc lõng.

Cảm giác ấy được bộc lộ rõ ​​hơn qua hình ảnh cô đơn giữa không gian lạnh lẽo.

thơ rơi trên cồn nhỏ nơi gió điếc nơi âm thanh phố thị xa dần chợ chiều.

hai từ “lười biếng” và “buồn tẻ” được tác giả sắp xếp khéo léo trong cùng một dòng thơ, tạo nên một khung cảnh êm đềm. “ngu dốt” gợi sự khan hiếm, “bệnh tật” gợi sự cô đơn. giữa cảnh “cồn nhỏ”, gió hiu hiu, một cảnh lạnh lùng, cay nồng, con người trở nên cô đơn, choáng ngợp đến mức phải thốt lên “còn đâu tiếng người xa chợ chiều”. vừa là câu thơ mang nhiều sắc thái, vừa gợi “đâu đây”, âm hưởng xa xăm, không rõ ràng, có lẽ câu hỏi “ở đâu” như một nỗi niềm, khao khát của nhà thơ về một hạnh phúc, sinh hoạt, âm thanh nào đó của kiếp người. nó cũng có thể là “hư không”, một sự phủ định hoàn toàn, không có gì sống động ở đây để xua đi sự cô đơn của thiên nhiên. đôi mắt trữ tình của nhân vật dõi theo mặt trời và dòng chảy của sông.

Mặt trời lặn, trời thăm thẳm, sông dài, trời rộng, bến vắng.

“sun, sky above” gợi sự chuyển động, mở rộng trong không gian và thậm chí là sự tách biệt “vì mặt trời và bầu trời được tách biệt với nhau., đầy sáng tạo từ xa và gần, mang lại vẻ đẹp hiện đại hút mắt nhà thơ họ không chỉ dừng lại ở ngoài trời đất, mà còn xuyên thấu cả vũ trụ, không gian bao la vô tận, rằng thiên nhiên thật bao la với “sông dài, trời rộng”, còn những gì thuộc về con người thì sao mà hiu quạnh. “bến tàu cô đơn” nhỏ.

vẻ đẹp cổ điển của các khổ thơ hiện lên qua những chất liệu thơ quen thuộc trong thi phẩm như “dòng sông, bầu trời, mặt trời, đời người tẻ nhạt, tẻ nhạt với“ chợ chiều ”, vạn vật tan vỡ, tan nát.

Nhà thơ nhìn lại dòng sông, thu vào cảnh vật xung quanh, mong ước một điều gì đó thân thuộc mang hơi ấm cho tâm hồn đang chìm trong giá lạnh, quá cô đơn. nhưng thiên nhiên đã đáp lại mong muốn đó bằng những hình ảnh hiu quạnh và hiu quạnh hơn.

bạn đang đi đâu, chèo hết hàng này đến hàng khác, mênh mông mà không có thuyền. không nhất thiết phải gợi lên một chút gì gần gũi, một bờ xanh êm đềm bên một bãi vàng.

Hình ảnh đám bèo trôi sông là hình ảnh thường được sử dụng trong thơ ca cổ điển, nó gợi lên cái gì đó bấp bênh, trôi nổi của kiếp người vô định giữa dòng đời. nhưng trong thơ chạy trốn không phải chỉ có một hai cánh bèo mà phải “xếp hàng”. hàng bèo tấm khiến lòng người xao xuyến trước thiên nhiên, để lòng thêm xót xa, cô đơn. bên cạnh những hàng bèo là “bờ xanh sau bãi vàng” như mở ra một không gian bao la vô tận, thiên nhiên thuận theo tự nhiên, đường không có người, không có hoạt động của con người. , không có sự hài hòa, kết nối:

rộng mà không cần qua thuyền, không yêu cầu bất kỳ quyền riêng tư nào.

tác giả đưa ra một cấu trúc phủ định. “… không … không” để phủ nhận hoàn toàn các mối liên hệ giữa con người với nhau. trước mắt nhà thơ không còn bất cứ thứ gì gợi lên sự gần gũi để thoát ra khỏi sự tịch mịch bao trùm và vây lấy anh, chỉ có thiên nhiên bao la, bát ngát. cây cầu hay bến phà, phương tiện kết nối của con người, dường như đã bị thiên nhiên nuốt chửng và cuốn trôi đi đâu đó.

Kính cận khéo léo vẽ nên vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bầu trời “

những lớp mây cao tạo nên những ngọn núi màu bạc, những chú chim cánh nhỏ trong bóng tối.

ngòi bút với những “mây cao đùn núi bạc” theo từng “lớp” đã khiến người đọc hình dung ra những đám mây trắng trong nắng như dát bạc. hình ảnh mang vẻ đẹp cổ điển trữ tình và càng thơ mộng hơn khi lấy cảm hứng từ một tứ thơ tang cổ du fu:

mặt đất được bao phủ bởi những đám mây.

huy gần đã khéo léo sử dụng động từ “đùn”, làm cho mây chuyển động như đang chuyển động, có nội lực từ bên trong, hết lớp này đến lớp khác mây cứ đùn ra. đây cũng là một nét thơ hiện đại, bởi nó đã được vận dụng một cách sáng tạo từ lối thơ cổ điển quen thuộc.

và hiện đại được bộc lộ rõ ​​nét hơn qua hai điểm tình trong đoạn thơ sau. dấu hai chấm này gợi ý mối quan hệ giữa con chim và bóng chiều. cánh chim nghiêng cánh thu hút bóng hoàng hôn rủ nhau xuống mặt sông, hay chính bóng hoàng hôn đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng cả không gian nhưng gợi thời gian vì dùng “cánh chim. “.” và “bóng tối”, là những hình ảnh thẩm mỹ được sử dụng để mô tả cảnh hoàng hôn trong thơ cổ điển.

Cảm nhận về bài thơ Tràng giang – văn mẫu 5

trang giang ‘là một trong những bài thơ tiêu biểu cho tài năng anh hùng và thể hiện rõ nét phẩm chất tâm hồn của ông. chạy trốn cũng kể nhiều lần quá trình viết nó. cảm hứng thơ được gợi lên trong cảnh sông nước ngoại thành Hà Nội. Bây giờ nơi đây đã là một trung tâm thành phố sầm uất với nhiều nhà cao tầng và biệt thự, nhưng lúc tản cư viết trang giang cho đến mấy chục năm sau vẫn hiu quạnh, vắng lặng, đẹp và buồn như miêu tả trong bài thơ.

hụi gần kể lại rằng ông đã thử nhập môn với nhiều thể thơ, nhưng cuối cùng ông chọn một bài thơ bảy chữ, đậm chất thơ lục bát. ông còn cho rằng, tầng mây cao đùn núi bạc là do ông nghiên cứu trong bản dịch thơ làm “tầng mây đùn ra từ cửa xa”. from tan da “in the river”. làn khói sóng làm ai buồn ”để diễn tả nỗi buồn trong lòng: không có khói chiều tà cũng nhớ nhà. chính không gian đường thi trong bài thơ bảy chữ đã tạo nên sự cộng hưởng cảm xúc không kém nếu nó được viết ở một thể thơ khác. , chưa chắc đã có tiếng vang như vậy. huy gần buồn hơn hiệu. Thân thiết em mới biết anh ấy đang đứng trên vai ai đó, anh ấy cao nhưng em chưa chắc anh ấy có cao hơn người khác không. cần trục dài, nhưng ở nhiều chỗ khác, không phải ở cuối.

Bài thơ thang giang mang vẻ đẹp cổ điển, trang trọng mở ra đất trời mà nỗi buồn thấm sâu vào lòng người. nỗi buồn mơ hồ nhưng khi sờ đầu mới thấy. buồn mơ hồ không có lý do cụ thể. phẫn nộ vì không trong sáng, không rạo rực mà vo ve như một nỗi sầu, một trạng thái tâm hồn không nhớ nổi vật nào: trời rộng nhớ sông dài. câu kết quả đã bao hàm chủ đề của bài thơ. nỗi buồn và nỗi buồn tràn ngập khắp không gian. mỗi cảnh buồn, cảnh đó nhiễm từ trường cảm xúc. chạy trốn cho biết: đây là bài thơ của tâm hồn. tâm hồn anh lúc bấy giờ luôn là nỗi buồn thế hệ, thế hệ chưa kịp nghĩ đã chạm ngay vào nỗi buồn mất nước, thân phận yếu đuối, một tâm hồn bé nhỏ / mang nỗi đau xa xưa. phẩm chất tâm hồn khác thường nắm bắt những cảm xúc rất nhạy cảm trong một không gian rộng lớn, yên tĩnh và cô đơn. nhất là với huy cận, người đã từng “tai biến ảo diệu” nửa nghe vũ trụ nửa nghe trái tim mình. nghe mưa to nặng hạt, nghe mình buồn man mác, không gian trời nước, sông đỏ nơi sơn cùng âm vang lòng anh thành thơ cũng không khó hiểu.

từ “trang” trong bài và trong câu đầu tiên ít được sử dụng trong ngôn ngữ giao tiếp hơn trong trường học, nhưng từ đó đã quyết định sử dụng từ này … có người nói là để tránh nhầm lẫn với sông trường giang ở Trung Quốc. . Tôi không hiểu điều đó có đúng không. nhưng chỉ dựa vào âm thanh (không chỉ nghĩa của từ), hai tiếng vang song song nằm cạnh nhau gợi ra một sự rộng lớn hơn, dần dần theo chiều ngang chứ không phải là một cánh đồng. trường chỉ hiển thị độ dài, từ đa nghĩa và âm vực thu hẹp trong khi dấu hai chấm mở. mặt sông dài, rộng nên sóng trước mặt càng thấp càng như gợn nhẹ trên mặt sông phẳng lặng. nó rộng và tĩnh, do đó gợi lên sự u ám và buồn bã. nhưng sóng dội hoặc sóng ầm ầm chắc chắn sẽ dẫn đến một cảm giác khác. điệp là trạng thái gợn sóng của dòng sông và cũng là nỗi buồn của lòng người. câu này rất buồn. nhưng câu thứ hai: “thuyền xuôi dòng nước song song” một số người cũng cho rằng đó là một câu thơ buồn, rất buồn, cho rằng: song thân nghĩa là không bao giờ gặp gỡ, không đoàn kết với nhau. Việc sử dụng định lý các đường thẳng song song trong hình học sơ cấp vào các hình tượng văn học, thật khó thuyết phục. con thuyền nước trong câu ca dao này là đoàn kết, hài hòa, thuận buồm xuôi gió. vui thì vui (từ song song chỉ là nghĩa cho thông điệp buồn) vui sẽ dẫn đến buồn ở câu tiếp theo, tạo nên mối tương quan: vui chỉ chốc lát nhưng buồn về sau tất yếu, đó là lúc tàu cập bến. bến, nước cứ đi, đi một mình, lang thang trong hai ngã rẽ vô thường, nên sẽ kinh hãi với nỗi sầu trăm phương Con tàu về quê thấy buồn, một lời lại (trạng từ), lại buồn. .. cho thấy cái nhìn về cuộc sống của huy cận lúc bấy giờ khá giống với xuân diệu (hoa nở tàn – trăng sáng tàn – bèo tấm) thích hợp cho những cuộc chia tay – người thân chia lìa). thuyền và nước song trần, chỉ chốc lát rồi đơn độc với bao nhiêu ngã ba sông, trăm mối sầu. từ hình ảnh trăm hướng dẫn đến câu cuối cùng của đoạn văn như tóm tắt:

một số dòng bị thiếu một số dòng.

Trên sông Hồng, nhất là vào mùa lũ, có thể thấy cây cối, lũa vật vã chìm trong sóng lũ âm u. cảnh ảm đạm. nhưng không phải là cảm giác tự hào về bài báo này. anh ta nói rằng anh ta phải chọn một hình ảnh để anh ta có thể vứt bỏ thân phận nổi tiếng của mình trong cuộc sống của con người. chọn củi hơn gỗ, chọn một cành trên cây tươi. củi một cành mà lạc mấy dòng thì đắt quá, chưa kể còn tương ứng với trăm địa chỉ trước đó.

đoạn một là nhìn vào bề mặt của dòng sông. tung hứng chi tiết, ngôn ngữ thay đổi và đi đúng vào trọng tâm của vấn đề. phần thứ hai nhìn ra xa: cồn nhỏ, thị trấn xa, trời sâu, bến tàu rộng… không gian mở ra rộng – cao cho tâm hồn đắm chìm trong sa mạc. thưa thớt và yên tĩnh. chỉ là một âm thanh xa xăm, vọng lại từ hư không, mơ hồ như nghe thấy trong một phiên chợ quê đầy hoài niệm khi người vẫn còn quanh quẩn. âm thanh mơ hồ là một cách miêu tả sự tĩnh lặng. câu thơ này mở ra không gian. phương thẳng đứng như trải dài theo mặt trời và bầu trời:

“Mặt trời lặn, bầu trời sâu thẳm.”

sâu thay vì cao là một sáng tạo, ấn tượng. chiều ngang, “sông dài, trời rộng, bến vắng”… không màu, không tiếng, không hoạt. tất cả đều bất động, im lặng, chìm đắm trong cô đơn.

Chiều rộng không giới hạn, dễ mô tả không có kết thúc. chạy trốn gần như tỉnh táo hướng ánh sáng của mình sang dòng sông, ở đầu bài thơ “em trôi đâu, hàng này sang hàng khác”. đẩy mức độ yên tĩnh đến nơi không có người. hai phần trước cũng có thuyền và chợ. bây giờ dưới sông chỉ có vịt, chỉ có vịt, hết hàng này đến hàng khác. không có tàu vượt biển, không có cầu bắc, không có công trình kiến ​​trúc do con người đánh dấu, chỉ thiên nhiên trong im lặng với thiên nhiên. nỗi buồn rải rác cảnh vật. nỗi buồn trải dài “trong lặng, bờ xanh gặp bãi vàng”. rồi lại nổi lên “lớp mây cao chiếu núi bạc”. tràn ra qua những cánh chim nhỏ rơi vào lòng người, nơi cảnh chẳng còn, nên lòng mới trỗi dậy nỗi nhớ nhà đối với cánh đồng trôi ngoài kia khiến lòng người xót xa cho thân phận, khao khát tình thân ấm áp. đoàn tụ gia đình.

Bài thơ khép lại bằng nỗi nhớ da diết. logic trong các chuyển động của tâm hồn là rất quan trọng trong bài thơ này. có lẽ vì thế mà huy cận hiện lên: “trang giang là bài thơ tình, tình gặp cảnh, bài thơ về tâm hồn”.

cảm nhận dòng sông – mô hình 6

Trong cuộc đời con người, có những lúc bạn lang thang qua những nơi tĩnh lặng để lắng đọng tâm hồn. khi đó, con người cảm thấy mình nhỏ bé trước không gian bao la, vũ trụ bao la. rồi chợt họ nhận ra đời người quá ngắn ngủi, kiếp người là phù du, con người thật nhỏ bé so với vạn vật. đọc “trang giang” của huy gần mang lại cho tôi cảm giác cô đơn, buồn tủi khi nghĩ đến cuộc đời trôi nổi của con người.

Bài thơ “trang giang” ra đời năm 1939 khi tâm hồn thơ Huệan đang u uất, chất chứa bao nỗi niềm, suy tư. do đó, ngôn từ của bài phản ánh trực tiếp nỗi buồn của nhà thơ trước thời cuộc và suy nghĩ của tác giả trên con đường tìm kiếm “thơ mới”.

nhan đề tác phẩm “trang giang” đã tạo ấn tượng mạnh về sông dài mênh mông, nhan đề còn tạo cảm giác nhớ nhung khi nhà thơ sử dụng hàng loạt từ Hán Việt. nhiều người đã thử nó. Đã thay tên vở kịch “trang giang” bằng “trường giang”, nhưng cá nhân tôi nghĩ cái tên vốn có của nó vẫn là chính xác nhất vì khi sử dụng “trường giang” nó chỉ miêu tả chiều dài của con sông. tuy nhiên, khi được thay thế bằng “trang giang”, dòng sông không chỉ dài mà còn rộng, lòng sông trở nên rộng lớn hơn, thể hiện dụng ý của tác giả trong sự đối lập giữa thiên nhiên rộng lớn và con người nhỏ bé. để nêu về một dòng sông lớn “dẫn trời mất sông dài”. nhưng cảm giác mà nó mang lại là nỗi nhớ nhung, hoài niệm về một dòng sông năm xưa.

khổ thơ đầu không chỉ mang hình ảnh buồn cô đơn mà thiên nhiên còn gợi lên sự chia ly, xa cách

“Sóng cuộn qua sông buồn điệp điệp, thuyền chìm theo dòng nước, nhưng thuyền về nước buồn trôi mấy dòng.”

với những câu thơ đầu, tác giả sử dụng nhiều hình ảnh như sóng, thuyền, củi. gợn sóng kết hợp với động từ “nhấp nhô”: chuyển động nhẹ nhàng, lăn tăn và lan xa, chỉ với sự gợn sóng nhẹ ấy thôi cũng đủ làm tâm hồn nhân vật trữ tình xao xuyến. điệp từ diễn tả nỗi buồn chồng chất, nối tiếp nhau. nỗi buồn không chỉ nảy sinh trong chốc lát, mà còn kéo dài mãi mãi, không có hồi kết. trong những con sóng ấy xuất hiện một “con thuyền trên nóc” – đơn độc, lạc lõng, trơ trọi, không nghe thấy tiếng mái chèo, không nghe tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền, chỉ thấy một con thuyền chìm, lênh đênh mặc cho dòng nước. câu thơ còn đặc sắc trong việc miêu tả cuộc chia ly giữa con thuyền và dòng nước. thiên nhiên không chỉ gợi mà sự tách biệt còn hiện rõ.

“Thuyền về đồng lại buồn” là câu thơ có thể hiểu theo nhiều nghĩa, câu thứ nhất có thể hiểu là khi con thuyền nhân lên trên nỗi buồn của nước, câu thứ hai nói rõ hơn về chia ly khi thuyền và nước ngược chiều nhau, khi thuyền trở về chốn cũ cũng là lúc nước ở lại với dòng sông nỗi buồn, nhưng nỗi buồn này không theo nước ở một nơi mà đọng lại nhiều. chỗ khác nhau được sử dụng thành công để nói về cuộc chia ly này, cách kết thúc của khổ thơ gợi lên hình ảnh đậm nét của nỗi cô đơn: “củi”. bản chất của hình ảnh này là “khô” – khô héo, không có sức sống với sự đối lập giữa “một cành khô” – “một số đường” làm nổi bật cái bóng và cô đơn của củi trên đường đi của nó. . động từ “lạc trôi” đã thể hiện sự bấp bênh, nổi của sự vật, nhưng tác giả dùng “lạc mấy dòng” để làm rõ hơn cái khó, “bảy nổi ba chìm” của gánh củi. tâm trạng nó mang lại thật buồn, thật u uất.

tác giả mở đầu bằng khổ thơ đầu tiên trong phạm vi hẹp. chuyển sang khổ thơ tiếp theo, không gian bây giờ đã được mở rộng.

“lơ thơ và gió nhỏ nơi tiếng phố xa, nắng chợ chiều, trời thăm thẳm, sông dài, trời rộng, bến vắng. . ”

hình ảnh “cồn nhỏ” gợi không gian vắng lặng, hiu quạnh. tính từ “bé nhỏ” khiến hình ảnh này càng nhỏ bé, tịch mịch, kết hợp với từ “thơ” gợi cảm giác ít diễn. Đại diện cho hình ảnh vô hồn trong cồn, không gian trong cồn không chỉ buồn mà còn hiu quạnh, ngay cả cơn gió cũng mang một nỗi buồn man mác, “hiu hắt” như muốn ép cảnh vật vào nỗi sầu muộn. những câu thoại mà tác giả sử dụng trong bài thơ đôi khi được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. “đâu tiếng người xa chợ chiều?” có thể hiểu là một câu hỏi tu từ về vị trí của “tiếng người phương xa”, chờ tiếng kẻng buổi tối. tuy nhiên, “ở đâu” cũng là một từ phủ định, tức là cả giọng nói và người đi chợ đều không thể nghe thấy. >

Không gian trong khổ thơ thứ hai mở rộng cả chiều cao, chiều dài mà còn cả chiều sâu vũ trụ. kỹ thuật nghệ thuật tương phản “ánh sáng mặt trời và bầu trời mọc” đã giúp không gian mở rộng về chiều cao. bất cứ nơi nào có ánh nắng mặt trời chiếu vào, bầu trời được đẩy lên cao hơn. nó không chỉ gợi chiều sâu và sự hấp dẫn mà còn giúp vũ trụ kéo dài ra, nhấn mạnh sự nhỏ bé. của con người trước dải ngân hà. dòng cuối của khổ thơ là hình ảnh thiên nhiên rộng lớn, bao la với “sông dài, trời rộng”. hình ảnh này không chỉ tượng trưng cho sự nhỏ bé, cô đơn mà “cô đơn” còn là sự cô đơn, lạnh lẽo và cô đơn. nỗi sầu của tác giả, nỗi buồn khi nghĩ đến cuộc đời trôi dài.

“bạn đang đi đâu vậy? những hàng dài vô tận không có phà qua lại mà không đòi hỏi một chút riêng tư, bờ biển xanh yên tĩnh bên bãi biển vàng.”

“beo”: sinh vật phù du sống trôi nổi và bấp bênh, vì vậy nó cũng được kết hợp với động từ “trôi dạt” để làm rõ thêm khả năng nổi của sinh vật này. “where” để hỏi địa điểm của “beo”. hình ảnh mất đi, không có khả năng tự vệ, không có chỗ dựa và không có nơi để bấu víu. “line on row” như một mô tả rõ ràng hơn về số phận của sinh vật này. đọc câu thơ ta liên tưởng đến những kiếp người lênh đênh, không nơi nương tựa, trong không gian “mênh mông” ấy, tác giả mong mỏi được nhìn thấy con phà để cảm nhận cuộc sống, nhưng dường như chẳng có một dấu hiệu nào đáp lại. kỳ vọng đó. “Không có phà” cũng có nghĩa là không có hoạt động của con người, điều này làm cho nỗi cô đơn càng thêm dữ dội. Trong khổ thơ này, nhà thơ sử dụng nhiều từ ngữ phủ định để khắc họa sự cô đơn, trống trải của con người. “. cây cầu là hình ảnh tiêu biểu của thôn quê, mang đến sự bình dị, gần gũi. Nhưng vì hình ảnh đó không tồn tại nên cảm giác quê hương thiếu vắng. Câu thơ cuối tác giả dùng màu xanh và màu vàng để vẽ nên bức tranh tươi sáng hơn, nhưng từ” êm đềm “đã át đi màu sắc này. Hai hình ảnh” bờ xanh “,” bãi vàng “không còn tươi như màu ban đầu. Từ này được đưa lên đầu như nối tiếp nỗi cô đơn của sự vật này đến sự vật khác.

Trong ba khổ thơ đầu, tác giả chỉ miêu tả thiên nhiên, khổ thơ cuối bộc lộ nỗi nhớ quê hương đất nước

“Mây cao che khuất núi bạc, chiều chiều cánh chim nghiêng cánh mỏi, miền quê thanh bình sông nước không khói buổi tối cũng nhớ nhà”

Chỉ với 4 câu thơ, nhà thơ đã thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa cái cổ điển và cái hiện đại. từ “layer” là một từ viết tắt hoàn toàn mô tả sự phân lớp, nối tiếp nhau. câu thơ đầu miêu tả những lớp mây đùn lên thành núi bàng bạc. Đến đây, tôi chợt nhớ đến từ “đùn” trong bài hát “thu” của Đỗ phu nhân:

“mặt đất có mây ở rất xa”

vâng, câu thơ trên là hình ảnh những đám mây trắng rơi xuống thật thấp, tưởng như bay ra khỏi mặt đất, che mất cánh cổng phía xa. thì ở câu thơ “lớp mây đùn núi bạc” ông đưa hình ảnh nhiều tầng mây xếp chồng lên nhau như thể nỗi đau của nhà thơ đã thấm sâu vào cảnh vật, chất chứa trong tâm hồn như từng lớp. đến những ngọn núi bạc. ở đoạn thơ sau, tác giả sử dụng bút pháp cổ điển để nói lên tình cảnh lẻ loi của cánh chim trước “bóng chiều tà”. Hình ảnh “cánh chim bay” không chỉ gợi sự cô đơn mà “nghiêng nghiêng” còn ám chỉ trạng thái mất thăng bằng, không biết nơi ở của mình, hình ảnh này càng tô đậm thêm những nhọc nhằn của kiếp người trước thiên nhiên. Trong không gian u buồn ấy, nhà thơ chợt nhớ về quê hương

“Trái tim của Tổ quốc gọi là có nước”

“squishy” là gợi lên, đánh thức, những cảm xúc khó nói. chỉ cần nhìn thấy “con nước” là lòng nhà thơ nhớ quê hương – nỗi nhớ thường trực nếu trong những câu thơ. phải có hình ảnh hoặc chi tiết nào đó về quê hương để nhà thơ bộc lộ cảm xúc của mình, và ở dòng cuối “chiều tà, nỗi nhớ” không cần gì cả, nỗi nhớ ấy vẫn còn. trong thơ Đường hơn nghìn năm trước cũng có tác phẩm nói về nỗi nhớ nhà.

“Lăng mộ nhất hương quan ha de thien ba giang thuong su nhan buồn.”

(quê hương biến mất trên dòng sông lúc chiều tà, vỗ về sóng biển)

(cần trục cũ – dừng lại)

Nhưng khi nhìn thấy khói và sóng, tôi nhớ ngay đến quê hương mình, nhưng không cần nhìn thấy nỗi nhớ ấy cứ trào dâng. nếu thôi đứng trên mặt đất, lòng háo hức muốn trở về quê hương, thì bỏ trốn càng đặc biệt hơn khi bản thân đang đứng trên chính mảnh đất của mình nhưng lòng lại bùi ngùi không nguôi.

do đó, bằng cách kết hợp nhuần nhuyễn yếu tố tang thi và yếu tố thơ mới, cùng với việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật như điệp ngữ, biện pháp tương phản,… nhà thơ Chạy trốn đã giúp cho người đọc cảm nhận được hình ảnh thiên nhiên kỳ vĩ. ở đó con người có thể cảm nhận được sự nhỏ bé của mình trước không gian, kiếp người ngắn ngủi trước vũ trụ. “Trang giang” còn là tiếng nói của một người con yêu quê hương đất nước sâu nặng.

Xem thêm: Các cách lập ý của bài văn biểu cảm

XEM THÊM:  Viet bai tap lam van so 5 lop 8

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Cam nhan cua em ve bai tho trang giang. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *