Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
316 lượt xem

Cảm nhận khổ cuối bài thơ về tiểu đội xe không kính

Bạn đang quan tâm đến Cảm nhận khổ cuối bài thơ về tiểu đội xe không kính phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Cảm nhận khổ cuối bài thơ về tiểu đội xe không kính

Khổ thơ cuối của bài thơ viết về tiểu đội xe không kính thể hiện ý chí, quyết tâm chiến đấu giải phóng miền nam thống nhất đất nước. với 10 bài phân tích khổ thơ cuối bài thơ về tiểu đội xe không kính sẽ giúp các em hiểu sâu sắc hơn.

với tư thế tự hào, thái độ bất chấp khó khăn, gian khổ đã tiếp thêm sức mạnh cho những người lính làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chi tiết, mời các bạn tải miễn phí 10 bài phân tích khổ thơ cuối bài thơ Tiểu đội xe không kính để học tốt hơn môn Ngữ Văn 9, ôn thi vào lớp 10 hiệu quả.

Bạn đang xem: Cảm nhận khổ cuối bài thơ về tiểu đội xe không kính

phân tích sơ đồ khổ thơ cuối bài thơ Tiểu đội xe không kính

lược đồ 1

1. mở đầu

giới thiệu tác giả bài thơ tiểu đội xe không kính và khổ thơ cuối.

2. nội dung bài đăng

Câu 1 + 2: Xe thiếu xin khẳng định lại một lần nữa, không kính, không đèn, không mui và xe có nhiều vết xước. sự lặp lại của các chi tiết này tạo thành cấu trúc đầu cuối tương ứng, khiến người đọc hiểu thêm về người lính, điều kiện chiến đấu và bối cảnh lúc đó.

Câu 3: là một tuyên bố mạnh mẽ rằng dù khó khăn, thiếu thốn đến đâu, những người cách mạng vẫn sẵn sàng chiến đấu và vẫn chạy về phương nam. hoàn cảnh phía sau, thể hiện tinh thần anh dũng, dũng cảm của người lính năm xưa.

câu 4: thể hiện lòng yêu nước, tinh thần đồng đội, đoàn kết dân tộc. Dù trong hoàn cảnh khó khăn, quân thù dù mạnh đến mấy cũng không thể đánh gục được ý chí và lòng yêu nước của nhân dân ta. câu cuối cũng là câu khẳng định chắc chắn ý chí kiên cường của nhân dân ta.

→ bài thơ ngắn gọn, súc tích nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc.

3. kết thúc

hãy khái quát nội dung, nghệ thuật của bài thơ và ý nghĩa của bài thơ.

lược đồ 2

i. giới thiệu:

  • trình bày vài nét về tác giả và tác phẩm

    ii. nội dung:

    * hình ảnh của toàn bộ khổ thơ là một lỗi, nhưng lỗi còn lỗi hơn khi:

    • không có kính
    • không có mui xe
    • không có đèn chiếu sáng
    • cốp xe bị trầy xước

    – thước đo nghệ thuật

    • từ điển: không có
    • danh sách: kính bảo hộ, đèn chiếu sáng, mũ trùm đầu, hộp

    = & gt; thể hiện sự tàn phá của chiến tranh và những mất mát to lớn mà chúng ta phải gánh chịu

    – Tinh thần bất khuất, ý chí quật cường của những người lính lái xe

    • luôn lạc quan và tràn đầy tự tin
    • vượt qua mọi khó khăn, vững tay lái

    – hình ảnh trái tim ở cuối bài thơ

    • đó là một ẩn dụ sáng tạo
    • lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc
    • ý chí đấu tranh giải phóng đất nước thống nhất miền Nam
    • tình yêu thương và sự dũng cảm của anh em là nhân tố quan trọng làm nên thành công của cuộc kháng chiến

    * bạn cũng có thể liên hệ với tiện ích mở rộng

    • hình tượng những người lính trong thơ tả thực: họ là những người lính từ những vùng quê nghèo nghe tiếng gọi thiêng liêng của quê hương đã rời quê hương ra mặt trận
  • li>

* tóm tắt nghệ thuật trong khổ thơ cuối của bài thơ về tiểu đội xe không kính

  • ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị
  • hiện thực, hình ảnh chọn lọc
  • ngụ ngôn, liệt kê, ẩn dụ

    iii. kết luận:

    • khái quát vấn đề trong bài thơ và nêu cảm nghĩ của anh / chị về vấn đề đó.

    phân tích khổ thơ cuối bài thơ về tiểu đội xe không kính

    khổ thơ cuối của bài thơ viết về tiểu đội xe không kính là ý chí, quyết tâm cao trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. hai câu thơ đầu sử dụng phép liệt kê, phúng dụ “không” nhấn mạnh sự khỏa thân và biến dạng của những chiếc xe. càng vào sâu trong trận địa, phương tiện càng méo mó, cong vênh. một lần nữa, qua hình ảnh những chiếc xe, nhà thơ lục bát đã gián tiếp miêu tả sự khốc liệt của chiến trường. Điều kỳ lạ là những chiếc xe không kính, không đèn, không mui vẫn ra chiến trường. ở đây có sự đối lập giữa ngoại hình và khả năng của chiếc xe, giữa tình trạng vật chất và trí lực của người lính lái nó. để cân bằng ba cái không trên, chỉ cần một cái bằng cái tâm của người quân tử. đặt chân đến đây, ta càng thấy được sự hùng dũng, hóm hỉnh nhưng cũng đầy chất thơ, những chiếc xe dường như không chỉ chạy bằng nhiên liệu, mà nó độc đáo khi có một trái tim là động lực, trái tim là động lực. Đồng thời là hình ảnh ẩn dụ, vẻ đẹp tâm hồn của người lính lái xe với lòng nhiệt huyết, tình yêu quê hương đất nước, lòng căm thù giặc sục sôi và quyết tâm chiến đấu, chiến đấu giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. >

    phân tích khổ thơ cuối của bài thơ viết về tiểu đội xe không cửa bằng mấy từ

    my pham tien duat là một nhà thơ lớn lên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nên tất cả những bài thơ của ông đều được “gieo” vào mảnh đất màu mỡ của hiện thực và được bồi đắp bằng chính những trải nghiệm, cảm xúc, thực tế của một người lính. pham tien duat viết rất nhiều, anh viết rất hay về những chiến sĩ dũng cảm, coi thường gian khổ, trong đó tiêu biểu nhất có thể kể đến bài thơ về tiểu đội xe không kính. những bài thơ viết về những chiếc xe bị bom đạn chiến tranh phá hủy, từ đó nêu bật phẩm chất lái xe tốt đẹp của người lính. Đặc biệt, ở khổ thơ cuối, chân dung người lính được hoàn thiện với vẻ đẹp của ý chí bất biến, ý chí quyết tâm chiến đấu giải phóng miền nam, thống nhất đất nước.

    Trong không khí bom đạn, những chiếc xe tải chở vật tư vào nam bị phá hủy đến mức biến dạng:

    không có kính, không có đèn, không có mui xe, thân cây bị xước,

    từ “không” kết hợp với phép liệt kê: không kính, không đèn, không mái nhà gợi lên hiện thực khốc liệt của chiến tranh. bom đạn và sự tàn phá của kẻ thù đã để lại dấu vết trên những chiếc xe, khiến những chiếc xe đã thiếu “kính” càng thêm méo mó, không còn nguyên vẹn: không đèn, không mui, không thùng. nhịp thơ 3/2/3/4/4 được thay đổi linh hoạt nên dù nói lên những cảnh ngộ, mất mát do chiến tranh nhưng câu thơ vẫn toát lên chất thơ, chất quân tử, thậm chí hóm hỉnh. những người lính lái xe.

    Chiến đấu trong những hoàn cảnh khắc nghiệt, nguy hiểm, ngay cả những phương tiện chiến đấu là xe ô tô bị phá hủy, mất nguyên hình, những người lính lái xe vẫn không bỏ cuộc, không sợ hãi mà luôn lạc quan, chủ động làm chủ tình hình. đoàn xe tiếp tục chạy về phía nam phía trước:

    Xe tiếp tục chạy vì phía trước là phía nam, miễn là trong xe có một trái tim.

    “Xe cứ chạy” không chỉ gợi lên hình ảnh những đoàn xe nối đuôi nhau chạy trên con đường trường sơn giúp nam tiến mà còn thể hiện ý chí quyết chiến, không chịu thua trước tình thế của những người lính. Chỉ cần một hơi thở còn lại, những người lính vẫn luôn bám trụ một niềm tin, một bản lĩnh không gì lay chuyển được vào tương lai tươi sáng của chiến đấu. tiếng gọi phương nam, tiếng gọi quê hương đã mang đến cho những người lính sức mạnh và ý chí kiên cường chiến đấu.

    Hai dòng cuối của bài thơ đã khắc họa một cách sinh động vẻ đẹp của những người lính lái xe. họ là những chiến sĩ dũng cảm, kiên cường, không quản gian khổ, khó khăn, sẵn sàng đối mặt với nguy hiểm, cái chết sắp xảy ra để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng, cao cả mà quê hương giao phó: chiến đấu giải phóng, giải phóng quê hương. Có thể nói nhà thơ Phạm Tiến Duật đã rất thành công trong việc tái hiện tinh thần yêu nước một thời của những người lính lái xe “vượt núi đi cứu nước / với trái tim thức tỉnh tương lai”.

    ngược lại cái không có, cái thiếu trong hoàn cảnh, phương tiện chiến đấu là cái có. đó là trái tim ấm áp của người chiến sĩ. hình ảnh “một lòng một dạ” được coi là sự kết tinh đẹp đẽ nhất của toàn bộ nội dung tư tưởng của bài thơ. tấm lòng vừa là ẩn dụ, vừa là ẩn dụ chỉ lòng yêu nước, ý chí và quyết tâm chiến đấu vì phương nam của những người lính mà họ lãnh đạo. Chính lòng yêu nước, căm thù giặc đã giúp các chiến sĩ vững tay lái, sục sôi quyết tâm chiến đấu giải phóng miền nam thống nhất đất nước.

    Như vậy, ở khổ thơ cuối cùng, nhà thơ lục bát lại gợi lên trước mắt người đọc những chân dung méo mó, lột xác của những chiếc xe: không kính, không mui, không đèn. đúng vậy, nhà thơ đã làm nổi bật vẻ đẹp của ý chí, quyết tâm của những người lính đi đầu trên tuyến đường xưa là: bản lĩnh, kiên cường, bất chấp khó khăn, gian khổ.

    phân tích khổ thơ cuối của bài thơ về tiểu đội không kính – văn mẫu 1

    Khổ thơ nêu bật quyết tâm giải phóng miền nam của người lính. hai câu đầu tác giả sử dụng biện pháp liệt kê, điệp ngữ nhấn mạnh sự thiếu thốn trơ trọi của chiếc xe ” không kính ”, ” không đèn ”, ” không mui ”, ” thùng xe ”. ” cho chúng ta thấy chiến trường khốc liệt như thế nào.

    những chiếc xe trần trụi ấy vẫn ra chiến trường dù mọi thứ trên xe không còn nguyên vẹn, chỉ là tấm lòng của người lính: trái tim miền Nam, chiếc xe vẫn sẽ hoạt động.

    Đó không chỉ là sự ngoan cường, dũng cảm, vượt qua mọi khó khăn ác liệt mà còn là sức mạnh của lòng yêu nước. bom đạn của kẻ thù có thể làm biến dạng chiếc xe nhưng không thể đè bẹp được tinh thần, ý chí chiến đấu của những người lính lái xe, chiếc xe vẫn hoạt động không chỉ vì nó có động cơ cơ khí mà còn là động cơ tinh thần. ‘về phía nam phía trước’.

    Xem thêm: Những bài thơ về mẹ cha đầy ý nghĩa, khiến bạn rơi nước mắt

    nghệ thuật đối chiếu cái “không” ở bên ngoài với cái “có” ở bên trong: đó là tấm lòng của người chiến sĩ. trái tim thay thế mọi thiếu thốn hòa nhập với người lính để trở thành một sinh vật sống không thể ngăn cản, phá hủy trái tim chạy bằng máu và xương của người lính.

    Trái tim ấy tạo nên niềm tin, sự lạc quan và sức mạnh vượt khó. tấm lòng nhân ái, tấm lòng quả cảm của người lính lái xe vừa là phép ẩn dụ, vừa là ẩn dụ gợi nhiều ý nghĩa. trái tim là hình ảnh hội tụ của những vẻ đẹp thiêng liêng, tất cả vì miền nam thân yêu. Trái tim người lính sáng ngời cho các thế hệ mai sau, nhắc nhở chúng ta về một thế hệ thanh niên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vẻ vang của dân tộc.

    phân tích khổ thơ cuối bài thơ Không kính cận cảnh – văn mẫu 2

    pham tien duat (1941-2007) sinh ra tai thanh ba, phu tho. Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, Phạm Đức nhập ngũ, công tác trên tuyến đường Trường Sơn, trở thành một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ thời chống Mỹ cứu nước. Thơ văn tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Anh có giọng thơ sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch và sâu lắng. Bài thơ Tiểu đội xe không cửa là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của ông viết về đề tài chiến tranh và hình ảnh những người lính.

    Bài thơ về tiểu đội xe không kính đã giới thiệu một hình ảnh rất mới nhưng không kém phần độc đáo và thú vị, đó là hình ảnh những chiếc xe không kính: những chuyến xe của những người lính lái xe làm nhiệm vụ chi viện cho miền Nam máu của anh. ô tô được nhà văn tái hiện lại những mất mát, tàn khốc của chiến tranh:

    “không, xe không có kính, bom gắp bom, lắc kính, vỡ kính rồi ngồi trong cabin nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

    ô tô bị bom đạn chiến tranh hư hỏng, không còn nguyên vẹn. cửa kính ô tô cũng bị đập vỡ hoàn toàn. nhưng những mất mát đó không thể quật ngã tinh thần quyết chiến hay làm gián đoạn cuộc hành quân của các chiến sĩ cách mạng trên chặng đường dài. những người lính dường như không bị ảnh hưởng, vẫn bình tĩnh và lạc quan, ngồi trong ca-bin lái xe với tinh thần vô cùng mạnh mẽ “nhìn đất, nhìn trời, nhìn về phía trước”.

    Tầm nhìn của những người lính điều khiển xe qua ba điểm dừng chính được mô tả chi tiết, đó là nhìn xuống mặt đất – cũng nhìn thấy con đường để thực hiện chuyến đi và nhiệm vụ của mình. nhìn lên bầu trời – như nhìn về tương lai tốt đẹp của dân tộc, đất nước. nhìn thẳng vào đây thể hiện sự kiên trung của những người lính, bom đạn chiến tranh cũng không lay chuyển được ý chí quyết tâm của họ.

    ý chí quyết tâm cũng như vẻ đẹp trong lí tưởng, tâm hồn của người chiến sĩ được thể hiện rõ nét nhất qua bốn dòng cuối của bài thơ:

    “không kính, xe không đèn, không mùi, thùng xe có vết xước. xe vẫn chạy vì mặt tiền hướng nam chỉ cần có lòng trong xe”

    Nhà thơ đề cập đến sự mất mát, những thứ bị phá hủy, không chỉ cửa sổ bị mất mà đèn xe cũng bị mất, xe không có mui và thùng xe cũng bị trầy xước. những công dụng cơ bản của chiếc xe đã bị bom đạn phá hủy khiến chúng tôi nghĩ rằng chiếc xe không hoạt động được vì đã quá mòn. nhưng không, chiếc xe mang nhiều vết thương ấy vẫn cứ lao đi, tiếp tục cuộc hành trình “xe cứ chạy về phía Nam”. sức sống, cuộc hành trình không mệt mỏi, bất chấp hiểm nguy được tạo nên bởi tinh thần quật cường, kiên cường trong trái tim của những người lính.

    phân tích khổ thơ cuối bài thơ Không kính cận cảnh – văn mẫu 3

    pham tien du là một trong những gương mặt nổi bật của thơ ca Việt Nam thời chống Mỹ. Nó được gọi là “hòn ngọc vĩnh cửu của thơ” bởi vì nhà thơ đã mang cả tinh thần của thời đại và núi dài vào thơ của mình. Đặc biệt, thơ ông về người lính lái xe đã để lại ấn tượng thú vị, đó là “vết sẹo xe lăn” nóng hổi trong thơ thời chống Mỹ.

    Trong số những bài thơ hay và dí dỏm viết về anh bộ đội tài ba lái xe, có bài thơ về tiểu đội xe không kính.

    bài thơ viết năm 1969, in trong tập “vầng trăng – vầng lửa”. hình ảnh thơ rất độc đáo: những chiếc xe không kính ra trận bất chấp hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh. ở cuối bài thơ, tác giả đưa ra một ý tưởng bất ngờ: đó là “trái tim sau tay lái”

    <3

    ở phần đầu bài thơ, tác giả bài văn tế đã giải thích rất đơn giản nhưng dứt khoát “không có kính không phải vì xe không có kính” bởi vì: “bom rơi bom rung kính vỡ”. nó thực sự đơn giản! chiến tranh bom hủy diệt xe không kính chắn gió vẫn ra trận bình yên vô sự. ở cuối hai câu đầu, tác giả lại miêu tả hình dáng chiếc xe quân sự thời chống Mỹ:

    không kính, không đèn, không mui xe, cốp xe trầy xước

    không kính: gió, mưa bụi tạt vào ca-bin, khó khăn chồng chất khó khăn khi xe không có đèn chiếu sáng và sau đó không có vết xước trên mui xe. một hình ảnh khỏa thân do chiến tranh gây ra. Người lái xe phải huy động tất cả các giác quan và kỹ năng để lái xe trên đường phiêu lưu, mạo hiểm. mọi người đều vượt qua:

    cỗ xe tiếp tục đi bởi vì phía trước là phía nam, miễn là có một trái tim trong cỗ xe đó

    Đây là chủ đề sâu sắc của bài thơ. đây là điều quan trọng và thiêng liêng mà bài thơ vui chưa bộc lộ được. nhà thơ đã nói đúng tinh thần của thời đại, đốn núi trượng phu là để cứu nước, nhưng tấm lòng phơi phới trước tương lai. cả nước sẵn sàng chiến đấu chống lại ta. vì lợi ích của miền nam. đó là tấm lòng đã giúp những người lính vượt qua gian khổ trong những chiếc xe không cửa, không đèn, không mui xe … đó là tấm lòng cháy bỏng lòng căm thù giặc Mỹ và tình yêu đồng bào miền Nam cháy bỏng là vẻ đẹp. vẻ đẹp sâu lắng của tâm hồn người Việt Nam thời cuộc chiến tranh chống Mỹ, tấm lòng nhân hậu và thủy chung của toàn dân tộc.

    thơ là thể hiện con người và thời đại một cách đẹp đẽ. pham tien duat đã thể hiện thành công tâm hồn của thế hệ thanh niên Việt Nam yêu nước trong những năm tháng chống ta. uu., hy sinh những khó khăn và sự vĩ đại của dân tộc chúng ta.

    phân tích khổ thơ cuối của bài thơ về tiểu đội không kính – văn mẫu 4

    “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của tác giả Phạm Tiến Duật đã ghi dấu vẻ đẹp của người chiến sĩ như vẻ đẹp trong tư thế của một chiến binh dũng mãnh, xen lẫn với con đường giao thông độc nhất vô nhị trên thế giới, với khí phách hiên ngang. hết bom đạn, mưa gió, mưa bụi, đói rét, đói ngủ, bài thơ khắc họa nổi bật hình ảnh những người lính lái xe trường sơn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, với tư thế hiên ngang, tinh thần, thái độ dũng cảm. bất chấp khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, tuổi trẻ lạc quan, sẵn sàng chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, trái tim yêu nước nồng nàn của tuổi trẻ thời chống Mỹ, vẻ đẹp độc đáo được thể hiện rất rõ trong khổ cuối của bài thơ:

    không có kính nên xe không có đèn, không có mui, thùng xe có vết xước. xe vẫn chạy vì mặt tiền hướng nam chỉ cần có tim trong xe.

    đoạn thơ kết cấu hai hình ảnh tương phản đầy kịch tính, bất ngờ và thú vị, làm nổi bật sự khốc liệt của chiến tranh, nhưng cũng nêu bật ý chí chiến đấu, lòng quyết tâm sắt đá và tình cảm sâu nặng với kẻ thù dã man của phương Nam. nó là sự thống nhất giữa hai điều rõ ràng là tương phản, gợi lên ấn tượng về chất thơ lãng mạn và hình ảnh khoả thân khốc liệt. những chiếc xe bị bom đạn Mỹ làm biến dạng, trần trụi “không kính không đèn – không đầu, cốp xe trầy xước” nhưng điều kỳ lạ là những chiếc xe trần trụi ấy vẫn hoạt động, kể cả trên tuyến đầu. tác giả giải thích một lần nữa một cách bất ngờ và rất chí lý: “chừng nào còn có trái tim trên xe”, trái tim của người chiến sĩ cách mạng, trái tim của lòng dũng cảm.

    hai câu thơ:

    không kính, không đèn, không mui xe, cốp xe bị trầy xước.

    Những mất mát, gian khổ do quân địch gây ra, do những chuyến đi đường dài: ô tô hư hỏng nặng hơn là “không kính, không nóc, không đèn, trầy xước thùng xe…” và biết bao chiến sĩ anh dũng hy sinh. cụm từ “không” được lặp lại ba lần như nhân lên sự thử thách khốc liệt. hai câu thơ chia làm bốn đoạn như những chặng đường gập ghềnh, khúc quanh đầy chông gai, bom đạn… vậy mà những chiếc xe như những chiến sĩ gan dạ vượt qua bom đạn, hăng hái chạy đua về phía trước với một tình cảm thiêng liêng:

    “ô tô tiếp tục đi bởi vì phía trước là phía nam, miễn là trong xe có một trái tim”

    hai câu thơ đã khắc sâu hình ảnh đẹp đẽ của người lính lái xe trên đường dài. giọng điệu đối lập nhưng êm dịu và mang tính chất ru. hình ảnh đậm nét những chiếc xe đó đã bị bom đạn chiến tranh tàn phá nặng nề, mất cả hệ số an toàn và dường như không thể lăn bánh. nhưng những người lính lái xe vẫn không dừng lại. những chiếc xe vận tải chở lương thực, thuốc men, đạn dược của họ vẫn đầy bom và lửa vì miền nam vẫy gọi họ ra mặt trận. Đó là cách mà đoàn xe đã chiến thắng, vượt qua bom đạn, hăng hái tiến lên, hướng về tiền tuyến lớn với tình cảm thiêng liêng “vì miền Nam ruột thịt”, vì cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước đang xôn xao. >

    Cuộc chiến đấu vì độc lập và tự do của một nửa đất nước vẫn phải tiếp tục. Qua những hình ảnh tương phản, đoạn thơ không chỉ nêu bật sự ngoan cường, dũng cảm, vượt qua nghịch cảnh, ác liệt mà còn nêu bật ý chí chiến đấu giải phóng miền nam thống nhất đất nước. hơn thế, phép hoán dụ “một tấm lòng” là hình ảnh đẹp nhất trong bài thơ, hình ảnh trái tim là một phép ẩn dụ đẹp gợi nhiều ý nghĩa. trái tim là hình ảnh hội tụ vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất của người chiến sĩ lái xe. trái tim rực cháy lẽ sống cao cả, thánh thiện – tất cả vì miền Nam thân yêu, trái tim chất chứa bản lĩnh, lòng dũng cảm cao cả. trái tim mang một tinh thần lạc quan và một niềm tin mãnh liệt vào ngày nam bắc thống nhất.

    Hình ảnh này kết hợp với cấu trúc câu “vẫn – một mình” đã giải thích sức mạnh vượt khó, khẳng định tinh thần bất khuất, lạc quan, tin tưởng vào trận chiến của người lính đầu tàu. . thì cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, cội nguồn và phẩm chất anh hùng của người lính lái xe được tích tụ và cô đọng lại trong “trái tim” dũng cảm, kiên cường, dũng cảm và nghĩa tình này. Có phải trái tim con người là động lực? tình yêu đất nước, yêu đồng bào, đồng chí ở miền nam đau thương đã động viên, cổ vũ người lính vận tải vượt qua khó khăn gian khổ, luôn lạc quan, bình tĩnh cầm tay lái, nhìn đúng hướng để nhanh chóng đưa đoàn xe về đích?

    Ẩn chứa nỗi lòng day dứt khôn nguôi, câu thơ còn muốn hướng người đọc đến một chân lý của thời đại chúng ta: sức mạnh quyết định, chiến thắng không phải là vũ khí, công cụ… mà là dân tộc, nhân dân. với trái tim nhiệt huyết, ý chí kiên cường, lòng dũng cảm, lạc quan và một niềm tin vững chắc. có lẽ hay nhất là câu thơ cuối cùng này. nó là cái nhãn, cái nhãn của bài thơ, nó soi sáng chủ đề, nó tỏa sáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong bài thơ. Vẫn là cách nói dung dị của những người lính nhưng câu thơ mang một tinh thần trách nhiệm sâu sắc và ý nghĩa như một lời thề thiêng liêng. ý chí chiến đấu và tinh thần anh dũng của người chiến sĩ không thể bị phá vỡ trước làn đạn của kẻ thù. điều đó đã tạo cho họ sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng để chúng ta luôn yêu mến và ngưỡng mộ họ.

    Những người lính trong bài thơ ra trận với tất cả sự chủ động, tự tin của những con người có lý tưởng cao đẹp, có sức mạnh và tiềm năng, đó là lý do tại sao họ rất dũng cảm và có nét thanh lịch, thoải mái, vui vẻ. Bài thơ không chỉ phản ánh sự khốc liệt, khó khăn của chiến tranh qua hình ảnh những chiếc xe không kính mà từ những khó khăn, ác liệt đó, bài thơ còn là lời khẳng định ngợi ca vẻ đẹp, phẩm chất của người lính Việt Nam. người lính lái xe dọc đường trường sơn trong những năm chống Mỹ cứu nước. hình ảnh những người lính ấy đã trở nên bất tử và đẹp rực rỡ. Dù lớp bụi thời gian đã phủ lên những trang sách và những biến động của cuộc sống đã làm thay đổi tất cả, nhưng hình ảnh những người lính năm xưa và những người lính Trường vẫn sống mãi trong lòng mỗi người với niềm vui và niềm xúc động mãnh liệt. /. >

    phân tích khổ thơ cuối của bài thơ về tiểu đội không kính – văn mẫu 5

    Phạm Tiến Duật là một trong những nhà thơ thuộc thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ. thơ ông làm say lòng người đọc bằng sức sống, sự tự nhiên, đậm đà. bài thơ về tiểu đội xe không kính là một trong những bài thơ để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc bởi hình ảnh người chiến sĩ lái xe dũng cảm, bất chấp khó khăn, chung lòng quyết chiến vì miền nam ruột thịt.

    Hình ảnh chiếc ô tô bị bom Mỹ phá hủy, biến dạng càng khắc họa rõ nét hình ảnh người chiến sĩ dũng cảm, kiên cường lái xe giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Trong hai câu đầu của khổ thơ cuối, hình ảnh một chiếc xe không cửa sổ trên đường trường sơn hiện lên trông rất lạ:

    không có kính, không có đèn, không có mui xe, không có thùng xe bị trầy xước.

    Ở phần đầu của bài thơ, pham tien duat giải thích cho người đọc tại sao xe dịch vụ không có cửa sổ. bom đạn chiến tranh đã biến chúng thành những gì chúng vốn có. tuy nhiên, hình ảnh chiến tranh ngày càng khốc liệt, những chiếc xe “bom rơi” cũng ngày một trơ trọi, chạy bạt mạng hơn. Từ chỗ không có kính, rồi không có mui, giờ xe không còn đèn, một bộ phận rất quan trọng, nhất là khi lái xe xuống con đường gập ghềnh, bom đạn vào ban đêm. thì xe không có mui nên trời mưa thì thùng xe sẽ đầy nước.

    Câu thơ thể hiện sự khốc liệt của chiến tranh. nhưng đây không phải là một lời than thở hay than thở. Với giọng thơ đậm đà pha chút hóm hỉnh, giọng văn tự nhiên, rất quân tử, Phạm Tiến Duật đã mang đến cho bài thơ sự trẻ trung, hồn nhiên và yêu đời của một chiến sĩ cách mạng:

    cỗ xe tiếp tục đi bởi vì phía trước là phía nam, miễn là có một trái tim trong cỗ xe đó

    Tham khảo: Dàn ý chung văn thuyết minh

    không kính, không đèn, không mái che. từ “không” nhấn mạnh sự khó khăn của những người lính khi lái xe trên con đường dài sơn màu. tuy nhiên, chiếc xe vẫn tiếp tục lăn xuống con đường đó, bất chấp mọi nguy hiểm. “Cỗ xe cứ chạy về phương nam phía trước”, câu thơ đã nói lên phần nào ý chí chiến đấu vì phương nam, vì quê hương của những người lính dũng cảm lái xe. từ “tiếp tục chạy” thể hiện sự kiên cường, dù phải chịu bao nhiêu nguy hiểm, gian khổ vẫn không lùi bước. và cụm từ “nam tiến” thể hiện niềm tin vào hòa bình, thống nhất, là sự thể hiện mạnh mẽ tình yêu quê hương đất nước của những người lính mà họ lãnh đạo, nó đã ăn sâu vào lòng người dân anh em. điều đó sẽ kết tinh sâu sắc trong câu thơ cuối cùng:

    chỉ cần có một trái tim trong xe hơi

    đây là câu thơ nói lên sự cống hiến hết mình của những người lính lái xe trên con đường dài đầy “mưa bom, bão đạn”: “chừng nào” tôi còn một trái tim “, chừng nào trái tim còn đập , chỉ cần bạn còn sống, còn hơi thở cuối cùng mà bạn vẫn chiến đấu không ngần ngại. hình ảnh “tấm lòng” là hình ảnh ẩn dụ về người chiến sĩ lái xe tải có tấm lòng sâu nặng lý tưởng cách mạng, lý tưởng quê hương thống nhất, tươi đẹp.

    Trong bài thơ trăng và bếp lửa, tình cảm của những người lính lái xe phương Nam cũng nhẹ nhàng hiện lên, thôi thúc:

    những chiếc xe đua xuyên màn đêm ầm ầm, réo rắt âm thanh của hai miền hòa làm một

    (pham tien duat)

    khẳng định khó khăn, gian khổ ngày càng tăng, nhưng nhiệm vụ đánh địch tiếp tục được đặt lên hàng đầu. không khó, không kẻ thù nào cản được xe của ta. đơn giản vì trong xe có trái tim người lính lái xe anh hùng. có thể nói nhà thơ đã khai thác rất hiệu quả nghệ thuật đối lập giữa “không” và “có” giữa hai phương diện vật chất và tinh thần, ngoại thất xe không cửa, không đèn, không đèn. . mui xe để chợt sáng lên hình ảnh trái tim người lính, trái tim yêu nước nồng nàn. Phải chăng đây là cội nguồn của sức mạnh, là cội nguồn của nhiều phẩm chất sáng ngời của người chiến sĩ giải phóng? và có lẽ, hình ảnh trái tim đẹp đẽ ấy còn là lời khẳng định sâu sắc về một chân lý của thời đại chúng ta: sức mạnh quyết định để giành thắng lợi không phải là vũ khí, công cụ, mà chính là con người, một con người với trái tim đầy yêu thương, mạnh mẽ. ý chí can đảm , sự lạc quan và niềm tin vững chắc. câu thơ tỏa sáng chủ đề, tỏa sáng vẻ đẹp hình tượng người lính. những bài thơ thoải mái, vui tươi nhưng gợi mở và triết lý sâu sắc.

    Con đường ra trận khó khăn, nhưng tâm hồn người lính không vì nó mà tỏa sáng. Hình ảnh những chiếc xe không kính với trái tim tha thiết yêu quê hương đất nước ngày nào sẽ mãi là hình ảnh đẹp trong lòng độc giả nhiều thế hệ.

    phân tích khổ thơ cuối của bài thơ về tiểu đội xe không kính – văn mẫu 6

    Trong chặng đường văn học từ năm 1945 đến năm 1975, cùng với nhiều nhà thơ trẻ khác, Phạm Tiến Duật cũng đã mạnh dạn góp bút vào Vườn thơ kháng chiến. với bài thơ “tiểu đội xe không kính”, Người đã khẳng định phần nào tài năng và trách nhiệm của mình đối với vận mệnh dân tộc. xuyên suốt bài thơ có hình ảnh những chiếc xe không có cửa sổ và phong thái ung dung của những người lính lái xe. và bài thơ khép lại bằng ý chí kiên cường chiến đấu giải phóng miền nam thống nhất đất nước:

    “không có kính thì xe không có đèn ………… .. miễn là trong xe có trái tim”

    những bài thơ giống như những lời tự sự, chúng kể nhiều hơn về những khó khăn của một trận chiến không thể nào quên. bằng ngôn ngữ thơ giản dị, các cột mốc xe không chỉ không có kính mà còn hơn thế nữa:

    “không có kính, xe không có đèn, không có mui xe bị xước”

    với khẩu hiệu “không” và hàng loạt hình ảnh liệt kê “thùng xe, mui xe, đèn xe” giúp chúng tôi cảm nhận sâu sắc hơn sự khốc liệt của chiến trường. Giờ đây chiếc xe không những không có kính mà còn không đèn, không mui, thùng xe trầy xước, trở nên xấu xí, biến dạng. chiếc xe bỗng trở nên trơ trọi và biến dạng hơn bao giờ hết. tuy nhiên, trái ngược với hình dáng khó coi của những chiếc xe, đó là linh hồn tương lai của những người lính họ lái:

    “ô tô tiếp tục đi vì phía trước là phía nam”

    Dù hoàn cảnh bên ngoài khắc nghiệt đến đâu, dù thiếu thốn vật chất đến đâu, bánh xe vẫn sẽ lăn thẳng về phương Nam thân yêu. Phải chăng tình yêu quê hương đất nước, tinh thần tự hào dân tộc là động lực, cổ vũ những người lính trẻ vững tay lái vượt qua những rào cản khó khăn và vì chính mình:

    “chỉ cần có một trái tim trong xe hơi”

    dù có bao nhiêu khó khăn, chỉ cần có “trái tim” là đủ. “Tấm lòng” yêu nước nồng nàn hay tinh thần lạc quan của người chiến sĩ cũng vậy. anh đã vượt qua những thói trăng hoa “không đèn, không cửa sổ, không mui xe, trầy xước thân cây” để trở thành người có tinh thần lạc quan, quyết tâm giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. hình ảnh khép lại bài thơ có sức lan tỏa, ánh lên tình yêu quê hương sâu nặng. cái gì cũng có thể thiếu nhưng thứ duy nhất không thể mất chính là niềm tin kiên định của người lái xe. chỉ có con người và chỉ có tình yêu thương mới giúp cho cuộc kháng chiến của dân tộc đến thắng lợi. ở điểm này câu thơ dường như đang ca ngợi và ngợi ca những người lính lái xe ngựa, những người lính năm xưa.

    Nếu trong thơ Chính Hữu, những người lính kháng chiến chống Pháp xuất thân từ những vùng quê nghèo, nghe tiếng gọi thiêng liêng của quê hương, rời quê hương ra mặt trận, họ bước vào cuộc kháng chiến. . khó khăn:

    “sốt, trán đẫm mồ hôi”

    có:

    “áo của bạn bị rách, quần của tôi có vài miếng vá”

    thì khi đến với “bài thơ về tiểu đội không kính”, chúng ta thấy một thế hệ trẻ bước vào cuộc kháng chiến với niềm vui và lạc quan, họ được giác ngộ về lý tưởng cách mạng, họ là những người lính được giáo dục nhiều hơn, ý thức hơn về trách nhiệm của họ với vận mệnh dân tộc.

    cảm nhận khổ thơ cuối của bài thơ nói về quảng trường không kính

    pham tien du duoc mệnh danh là “hòn ngọc của thơ ca trường sơn”. nhất là thơ anh về người lính lái xe đã để lại ấn tượng thú vị. bài thơ về tiểu đội xe không kính là một trong những bài “long ngọc” đó. ở cuối bài thơ, tác giả đưa ra một câu nói bất ngờ: đó là trái tim ngồi sau tay lái: “không có kính… trái tim”. xe không kính – một hình ảnh trần trụi của chiến tranh, trong đó người lái phải huy động tất cả các giác quan và kỹ năng để lái xe trên đường phiêu lưu và mạo hiểm. mọi người đều vượt qua bởi một điều rất bình dị nhưng thiêng liêng:

    không kính, nên xe không có đèn, không có mui, thùng xe có vết xước, xe vẫn chạy về hướng Nam: miễn là có lòng trong xe.

    Đây là hình ảnh sâu sắc nhất của cả bài thơ. nhà thơ đã nói với tinh thần của thời đại: “xẻ núi non sông đi cứu nước / mà phơi phới tấm lòng mai sau” (thành huý) cả nước lên đường chống Mỹ cứu nước. người đã giúp những người lính vượt qua khó khăn trong những chiếc xe không kính, đèn chiếu sáng và mui xe. pham tien duat đã thể hiện thành công tâm hồn của một thế hệ trẻ yêu nước Việt Nam trong những năm tháng hy sinh gian khổ vì dân tộc. ta.

    Chiến tranh đã lùi xa, nhưng thơ ca tiến bộ với hình ảnh người lính lái xe ô tô và “vết sẹo dài trên xe lăn” sẽ sống mãi trong lòng những người yêu nước Việt Nam. Những chiếc xe và con người anh hùng thuở ấy đã góp phần làm nên huyền thoại Trường Sơn Việt Nam anh dũng, kiên cường.

    Cảm nhận lòng yêu nước của người lính lái xe qua khổ thơ cuối của bài thơ về chú tiểu đội xe không kính

    tấm lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần “chết vì nước vì nước” của người lính lái xe được thể hiện rõ nét nhất trong khổ thơ cuối của bài thơ. Bằng ngôn ngữ, nhà thơ lục bát đã tạc nên bức tường đồng của dân tộc, khắc vào thế kỷ hình ảnh người chiến sĩ dũng cảm, kiên cường, không bao giờ khuất phục vì một lẽ duy nhất: tình yêu miền Nam ruột thịt và khát vọng thống nhất đất nước. . đất nước là cội nguồn sức mạnh bất diệt, thôi thúc anh em dũng cảm hiểm nguy, dẫn chiến xa.

    Những người lái xe trong bài thơ là những người lính trẻ. bạn rất vô tư, sôi nổi, gần gũi với thiên nhiên. những hình phạt mà bạn coi thường. sự nóng nảy đó được thể hiện qua cách nói chắc nịch: “vâng, có bụi”, “vâng, ướt”. thái độ “không cần gội, châm điếu thuốc”, “không cần thay đồ, lái xe cả trăm cây số” là một thách thức, bất chấp khó khăn. xe rơi vì bom, bom rung, bom rung, nhưng người lính vẫn hào hiệp. hai anh em nhìn thẳng về phía trước, bắt tay vui vẻ.

    chiếc xe bị hư hỏng không có kính, không có đèn, không có mui, thùng xe bị trầy xước, nhưng “xe vẫn chạy về phía trước”. mọi thứ cho dòng đầu tiên, phía trước. đó là phương châm của anh ấy. và những chiếc xe bị thương vẫn tiếp tục lao về phía trước bất chấp tiếng hú man rợ của bom. Có thể nói, người lái xe, người làm chủ phương tiện là nhân tố quyết định thắng lợi trên mặt trận giao thông vận tải và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

    cuộc chiến đấu ngày càng gian khổ, ác liệt (qua hình ảnh những chiếc ô tô ngày càng méo mó, biến dạng). dù khó khăn, hy sinh nhưng những chiếc xe vẫn nỗ lực tiến ra tiền tuyến. những chiến sĩ dũng cảm lái xe vững tay lái bởi trái tim tràn đầy nhiệt huyết cách mạng, tình yêu quê hương tha thiết, quyết tâm giải phóng miền nam son sắt.

    Hai câu cuối của “bài thơ về tiểu đội xe không kính” khắc sâu hình ảnh đẹp của người chiến sĩ lái xe trên con đường dài sơn cước.

    “ô tô tiếp tục đi bởi vì phía trước là phía nam, miễn là trong xe có một trái tim”

    Những chiếc xe này đã bị bom đạn thời chiến tàn phá nặng nề, mất cả con số an toàn tưởng chừng như không thể lăn bánh. nhưng những người lính lái xe vẫn không dừng lại. những chiếc xe vận tải chở lương thực, thuốc men và đạn dược của họ vẫn đang bốc cháy, vì miền nam đang vẫy gọi họ. cuộc chiến vì độc lập và tự do của một nửa đất nước vẫn phải tiếp tục.

    Sử dụng hình ảnh tương phản, đoạn thơ không chỉ nêu bật sự ngoan cường, dũng cảm vượt qua gian khổ, tàn khốc mà còn nêu bật ý chí chiến đấu giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. . hơn thế, hình ảnh hoán dụ “một lòng một dạ” là hình ảnh đặc sắc nhất của bài thơ chỉ người lính lái xe chỉ lòng nhiệt thành cứu nước, lòng yêu nước nồng nàn, quyết tâm giải phóng miền nam thống nhất Tổ quốc. .

    Hình ảnh này kết hợp với điệp ngữ “vẫn – một mình” đã nói lên nghị lực vượt khó, khẳng định tinh thần bất khuất, tinh thần lạc quan, tự tin chiến đấu của người lính đầu tàu. . điều đó đã tạo cho họ sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng để chúng ta luôn yêu mến và ngưỡng mộ họ.

    Tinh thần yêu nước, quyết tâm đánh giặc cứu nước là động lực thôi thúc bộ đội Nam tiến. để ước mơ này thành hiện thực, chỉ có một cách duy nhất – vững vàng tay lái, vững tay lái. do đó, thách thức tăng lên, nhưng tốc độ và hướng vẫn như cũ. ẩn sau những ý nghĩa ấy, câu thơ còn muốn hướng con người đến chân lý của thời đại chúng ta: sức mạnh quyết thắng không phải là vũ khí, mà là con người giàu ý chí, anh dũng, lạc quan, quyết thắng. .

    Xem thêm: Soạn văn 10 bài nhưng nó phải bằng hai mày

    XEM THÊM:  Soạn văn lớp 9 bài truyện kiều của nguyễn du

    Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Cảm nhận khổ cuối bài thơ về tiểu đội xe không kính. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

    Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

    Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

    Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *