Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
133 lượt xem

Cảm nhận về bài thơ nhớ rừng

Bạn đang quan tâm đến Cảm nhận về bài thơ nhớ rừng phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Cảm nhận về bài thơ nhớ rừng

những bài thơ nhớ rừng đã mượn lời con hổ thể hiện sự tức giận, chán chường và khát vọng tự do cháy bỏng. với 10 bài thơ Nhớ rừng với dàn ý chi tiết sẽ giúp các em học sinh lớp 8 hiểu sâu hơn.

bài thơ nhớ rừng còn chứa đựng niềm khát khao tự do tha thiết của cả một dân tộc. đồng thời cũng thể hiện tình yêu quê hương, đất nước của nhà thơ. Tham khảo thêm bài viết dưới đây của download.vn để học ngày càng tốt hơn môn ngữ văn 8.

Bạn đang xem: Cảm nhận về bài thơ nhớ rừng

nêu cảm nghĩ về bài thơ nhớ rừng

a. giới thiệu:

– Giới thiệu về tác giả: lu là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào thơ mới giai đoạn đầu 1932 – 1945. Bài thơ “Nhớ rừng” là một trong những tác phẩm nổi tiếng. hồn thơ dồi dào và lãng mạn – thế giới

– miêu tả chung về tác phẩm: đoạn thơ thông qua tâm trạng phẫn uất trước hoàn cảnh hiện tại và hoài niệm về quá khứ vàng son của con hổ để nói lên tâm trạng của những con người chịu cảnh nước mất nhà tan lúc bấy giờ.

b. nội dung:

luận điểm 1: tâm trạng tức giận của một con hổ bị giam cầm

– dùng hàng loạt từ gợi cảm để diễn tả tâm trạng chán nản, thất vọng: “ghét”, “dối trá”, “cùng”, “bịa đặt”, “bị làm nhục”. nỗi đau đớn, tủi nhục và bất bình của con hổ dường như bắt đầu bộc lộ mạnh mẽ khi nó nhìn vào thực tế tầm thường trước mắt mình.

luận điểm 2: quá khứ vàng son trong nỗi nhớ của con hổ

– Nằm trong cũi sắt, con hổ nhớ về nơi trong rừng, nơi nó từng ở, nơi có hàng ngàn cây đại thụ, tiếng gió rít qua từng kẽ lá, âm thanh của một khu rừng cổ thụ. tất cả gợi nên một khu rừng hoang sơ, hùng vĩ cũng như vô cùng huyền bí.

– hình ảnh con hổ giữa bạt ngàn rừng xanh được miêu tả qua hàng loạt từ gợi tả, gợi hình: “đậm”, “oai”, “lăn mình”, “vờn bóng”, “mắt. “. … Bí ngô ”…, thể hiện sự uy nghiêm, dũng mãnh và dữ tợn của chúa sơn lâm.

– hình ảnh con hổ khi làm vua trong rừng già được miêu tả qua hoài niệm về quá khứ: một chuỗi hình ảnh về hai con sóng giữa rừng già và vua chúa: “đêm vàng bên suối”. – “ta say… uống trăng”, “ngày mưa” – “ta lặng nhìn núi”, “bình minh… mặt trời” – “ngủ sướng”, “khuya… sau rừng” – “ta mong chết ”…”.

– Việc sử dụng hàng loạt câu hỏi tu từ, nhất là câu cuối đoạn đã thể hiện tâm trạng tiếc nuối, hoài niệm về một quá khứ vàng son, một thời oanh liệt, tự do, tự hào được làm chủ thiên nhiên, núi rừng. .

luận điểm 3: phẫn nộ trước ý tưởng về một thực tế tầm thường và sai lầm

– Trở về với thực tại, con hổ với “ngàn điều ân hận” đã phơi bày tất cả những điều dối trá, tầm thường và lố bịch của cuộc đời trước mặt: đó là những “cảnh sửa lại tầm thường”, “giả tạo”, một sự bắt chước lố bịch của bản chất giả dối, cố gắng cho một “vẻ hoang sơ” trong rừng sâu thiêng liêng.

luận điểm 4: khao khát tự do sôi sục trong trái tim con hổ

– Giọng điệu bi tráng, kêu gào núi rừng (“ơi…”), lời nói trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ nhung, tiếc nuối quá khứ và khao khát tự do, ngay cả trong giấc ngủ con hổ cũng muốn trở về chốn thiêng liêng xưa. rừng.

⇒ Mượn lời của con hổ, tác giả đã thay tiếng nói của lòng người Việt Nam trong thời kỳ mất nước, đó là tiếng kêu đau thương cho một thời vàng son của dân tộc, là tiếng nói cháy bỏng. khát vọng tự do. . bùng cháy, sục sôi ở mọi thị trấn yêu nước.

luận điểm 5: nghệ thuật

– thể thơ tự do hiện đại, phóng khoáng, dễ bộc lộ cảm xúc

– ngôn ngữ độc đáo, giàu sức gợi và rất gợi cảm

– Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng thành công: nhân hoá, so sánh, ám chỉ cấu trúc, câu hỏi tu từ, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác.

– giọng điệu và nhịp điệu linh hoạt, có lúc trầm buồn, lúc hào hùng, dữ dội, theo trình tự logic giữa hiện thực – quá khứ – hiện thực – quá khứ.

c. kết luận:

– khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật: “Nhớ rừng” không chỉ thành công về nghệ thuật tinh tế mà còn có giá trị lớn về nội dung, tiêu biểu cho tấm lòng của mọi người Việt Nam đang sôi sục trước hoàn cảnh của đất nước.

– liên hệ và đánh giá tác phẩm: bài thơ góp phần to lớn vào thành công của phong trào thơ mới.

Cảm nhận đoạn thơ ngắn về rừng

một trong những nhà văn xuất sắc có mặt từ những thời kỳ đầu tiên là một khách du lịch. nhiều tác phẩm của ông đã góp phần to lớn vào việc phát triển thơ mới, trong đó nổi bật là Nhớ rừng.

Thương nhớ đến rừng, người lữ hành thể hiện sự tức tối, chán chường và khát vọng tự do cháy bỏng của mình qua tâm trạng của con hổ trong vườn bách thú. đó cũng là lời tâm sự chung của những người yêu nước Việt Nam trước cảnh nước mất nhà tan.

cùng thái độ nổi loạn, lu đã viết những dòng trong bài thơ “nhớ rừng”. mượn lời con hổ ở vườn bách thú để nói lên tâm trạng của chính mình. thế giới đã sắp đặt một khung cảnh rất thực tế và ẩn bên trong. tất cả những hình ảnh được đề cập trong bài đều là không gian xung quanh cuộc sống của loài hổ.

việc con hổ bị nhốt trong cũi sắt và cảm thấy cuộc đời đầy oan ức trong cảnh giam cầm, những cảnh “tầm thường giả dối” trong vườn bách thú. để bạn cảm thấy hoài niệm về quá khứ huy hoàng nơi núi rừng hùng vĩ. Đây là hai cảnh hoàn toàn trái ngược nhau giữa hiện thực và quá khứ.

Vốn dĩ được coi là chúa tể của muôn loài sinh vật, nhưng nay do mùa thu nên chúng phải sống “tủi nhục” trong lồng sắt. không gian sống của chúa sơn lâm bị thu hẹp lại, từ đó trở thành một “trò chơi tưởng tượng”, một “trò chơi” trong mắt mọi người. đối với anh, cuộc sống giờ đây trở nên vô vị vì sống ở một nơi không thể làm vua trên núi.

“Tôi ôm một mớ hận thù trên cũi sắt, tôi nằm dài và nhìn ngày tháng trôi qua”

Con hổ cảm thấy bất lực vì không có lối thoát cho cuộc sống chật hẹp nên không thể không nhìn thời gian trôi qua một cách vô ích. nhưng dù trong hoàn cảnh nào, người thuộc hàng “con vật thiêng” luôn biết rõ thân phận thật của mình là thần thánh.

chán nản biết bao cảnh phải sống chung với “gấu điên”, với “báo nhà bên vô tư”! cách chịu đựng cuộc sống cam chịu chấp nhận số phận của những “người bạn” cùng cảnh ngộ. đó là nỗi buồn, sự tức giận dồn nén để khiến sự căm ghét tự chất chứa trong lòng. mệt mỏi, mệt mỏi, bất lực! trong hoàn cảnh bất hạnh này, con hổ nghĩ về cuộc sống huy hoàng trong quá khứ của mình:

“Chúng ta sống mãi trong tình yêu, hoài niệm về cái thời ngang tàng, độc đoán ngày xưa, nhớ cảnh rừng có bóng cây cổ thụ với tiếng gió hú, với tiếng ve. đài phun nước hét lên ngọn núi khi anh ấy hét lên một bài hát dữ dội ”

con hổ bồi hồi nhớ về thời “tù trưởng” nơi “bóng cây cổ thụ”. đó là một niềm khao khát đau đớn đến tận sâu thẳm của khu rừng. nhớ rừng là than thở với tự do, nhớ “thời oanh liệt”, nhớ đến cao cả, hiện thực, thiên nhiên. ở đất nước non trẻ hùng vĩ ấy, con hổ thống trị một thế lực giữa cuộc đời.

Bản lĩnh của một vị vua của miền núi luôn xứng đáng với quyền lực tối cao với sức mạnh to lớn. những gì bạn phải làm là chế ngự mọi nỗi sợ hãi. ở đó, con hổ hiện lên với tư thế kiêu hãnh, ngạo nghễ nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp hùng vĩ giữa núi rừng hùng vĩ:

“chúng ta mạnh dạn đứng dậy, lắc lư cơ thể như một làn sóng đung đưa nhịp nhàng, lặng lẽ di chuyển bóng cỏ sắc nhọn và những chiếc lá gai trong bóng tối của mắt thần, khi chúng ta đã nói rằng Ngài sẽ làm cho tất cả trở nên tĩnh lặng, chúng ta biết rằng bạn. là chúa tể của vạn vật ở giữa muôn hoa, vô danh, không tuổi ”

Vẻ đẹp thực sự của con hổ là đây! từng bước, từng bộ phận trên cơ thể, từng ánh mắt đều gợi lên vẻ uy nghiêm uy nghiêm mà mềm mại. trong mọi hành động, những con quái thú kia đều thể hiện hết sức mạnh tối cao khiến con người phải “câm nín”. sống tự do trong rừng mãi mãi là một điều rất cao quý. có những con hổ thực sự tận hưởng cuộc sống tươi đẹp mà thiên nhiên đã ban tặng. đó là lúc con hổ đang “say”, thấy sự thay đổi của “giang sơn”, đang ngủ và muốn chiếm lấy “phần mật”.

Anh cảm thấy thoải mái trên chính quê hương mình và khẳng định giá trị đích thực của cuộc sống bằng vẻ đẹp lộng lẫy, thơ mộng và cũng đầy quyến rũ của mình. nhưng hiện tại, chúng chỉ còn là kỷ niệm của quá khứ. hổ chưa từng thấy “đêm vàng bên suối”, thấy “ngày mưa trở thành bốn ngàn”, nghe tiếng chim hót, đắm mình trong “bình minh, cây xanh rửa nắng”, chờ đợi, chờ đợi “mảnh tàn của buổi chiều”. mặt trời “rực máu sau rừng”.

những cảnh đó chỉ để lại trong con hổ một cảm giác tiếc nuối, nghẹt thở bởi những cảm xúc mạnh mẽ, đầy những câu hỏi đau đớn. nỗi nhớ dài với những cảm xúc về quá khứ tươi đẹp khép lại giấc mơ huy hoàng trong tiếng khóc cay đắng:

“ouch! thời tiết đẹp bây giờ ở đâu? ”

Sống lại những kỷ niệm khó phai mờ giữa núi rừng hùng vĩ, con hổ chợt nhận ra sự tầm thường sai lầm của khung cảnh mà nó sinh sống. trong bầy hổ có những cảnh “không bao giờ thay đổi”, những cảnh đơn điệu nhàm chán được mọi người chỉnh sửa và cố gắng “bắt chước”.

chúa sơn lâm tỏ ra khinh bỉ và khinh bỉ trước những cảnh dối trá vụn vặt và hèn mọn của con người. nó không phải là một nơi xứng đáng để sống như một người cai trị. dù chúng ta có cố gắng sửa chữa thì cũng chỉ là những “dải nước đen không chảy” dưới những “gò đất thấp”, những “hoa lá, cỏ cây, những con đường thật êm ái”, những thứ “không có gì là” huyền bí “”. cuộc sống khiến những con hổ càng hối hận hơn khi nhớ lại “thiên niên kỷ cao và tăm tối”.

chán ghét cuộc sống thực tại, ôm nỗi uất hận triền miên, con hổ mãnh liệt khao khát một cuộc sống tự do. mọi cung bậc cảm xúc của con hổ đều thuộc về rừng tối ngàn năm. cũng thông qua ông, vị vua của núi rừng đã gửi gắm một thông điệp nghiêm túc về núi rừng.

dù đã suy tàn nhưng con hổ không giấu được niềm tự hào khi nhắc đến “nước non hùng mạnh”. giang sơn là nơi những con hổ trải qua một ngày vui chơi, chiến đấu trong một không gian rộng lớn riêng biệt. dù bây giờ sẽ không bao giờ sống lại nơi chốn xưa nhưng con hổ vẫn không ngừng nghĩ về “giấc mơ lớn”. thần nhục nhã cầu xin được sống mãi trong ký ức, ký ức về vẻ đẹp của 400m:

“Hãy để tâm hồn tôi cảm thấy gần gũi với bạn, cảnh rừng khủng khiếp của tôi”

tiếng lòng của con hổ là tâm sự của anh thanh niên con lu, mơ về kiếp trước tươi đẹp trong quá khứ. đó cũng là tinh thần chung của hầu hết các bài thơ trên thế giới cũng như trong phong trào thơ mới, mang trong mình ý chí sống của nhân dân.

nhớ rừng không sao thoát khỏi nỗi buồn, cái “bệnh tuổi cao” thuở ấy. nhưng bài thơ đặc sắc bởi nó tạo ra điểm gặp gỡ giữa nỗi căm phẫn của người mất nước và sự bất đồng chính kiến ​​về thực tại của tầng lớp trí thức tiểu tư sản. do đó đánh thức khát vọng tự do chính đáng.

Giàu cảm hứng lãng mạn và cảm xúc mãnh liệt, gợi nhớ rừng đã thổi hồn thơ và nhiều hình ảnh thơ ấn tượng miêu tả vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng. Thành công của Lu nằm ở việc thể hiện trí tưởng tượng phong phú khi cô mượn hình ảnh con hổ ở vườn bách thú để nói về bí mật sâu kín của mình. từ đó thể hiện lòng căm thù cuộc sống chật hẹp đồng thời khơi dậy tình cảm yêu nước của nhân dân thời bấy giờ.

Cảm nghĩ về bài thơ Nhớ rừng – văn mẫu 1

lu được biết đến là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới. trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông đã để lại nhiều bài thơ đặc sắc cho nền thơ ca Việt Nam. “Nhớ rừng” là một trong những tác phẩm đó.

bài thơ được viết vào năm 1934 và vào năm 1935, nó đã được in trong một tuyển tập “một số bài thơ” và được xuất bản. Trong bài thơ, Lu đã sử dụng lời của nhân vật chính, một con hổ bị nhốt trong vườn bách thú, để thể hiện sự nô dịch và căm ghét bị hạn chế tự do.

mở đầu bài thơ là sự tức giận và uất hận tột cùng của con hổ:

“ôm một mớ hận thù trong cũi sắt nằm xem ngày tháng trôi qua”

Con hổ luôn được mệnh danh là vua của rừng già nay bị nhốt trong “lồng sắt”. anh ta đang mất tự do, bị con người điều khiển, anh ta không còn lang thang nữa. “ghét khóa” là u uất, hận đến tận cùng hổ, việc dùng “khóa ghét” không chỉ gợi ra tâm trạng nặng nề mà còn là cảm giác tù túng tích tụ lâu ngày trong hổ khiến lão muốn. để “gặm”, muốn cắn, muốn gặm nhấm nỗi uất hận trong lòng. hoàn cảnh sống của con hổ được bộc lộ ngay từ câu thơ đầu tiên, tiếp đến là tư thế “nằm vùng” chưa từng thấy của một chúa sơn lâm nơi rừng xanh. tuy nhiên, giờ đây con hổ phải sống trong lồng sắt, ngày qua ngày sống cuộc sống buồn tẻ, buồn tẻ. Bạn cũng nên cảm thấy tiếc cho tình trạng của mình:

“còn lâu mới bị làm nhục và bị bỏ tù,

để làm những thứ nhỏ, đồ chơi,

chịu đựng những con gấu điên rồ,

với một cặp báo chuồng may mắn hạnh phúc “

Tôi thấy buồn khi mình vốn là chúa sơn lâm, nay lại bị nhốt trong lồng sắt, trở thành “trò chơi tưởng tượng”, “đồ chơi” và hơn hết là phải chịu cảnh cao cả với những loài vật thông thường khác. con hổ không còn là mình, không còn được sống, mất đi cái tôi kiêu hãnh, oai phong để sống một cuộc đời buồn tẻ. đây là trạng thái tâm trí điển hình của bất kỳ ai rơi vào trạng thái tự do ngột ngạt. đặt thời điểm ra đời của bài thơ trong bối cảnh đất nước lúc bấy giờ, năm 1934 là năm đất nước chịu bao xiềng xích nô lệ, chúng ta càng thấy đồng điệu với nỗi đau khổ, thân phận của chúng ta. người dân trong hoàn cảnh bị thực dân đô hộ, được các thế lực thực dân ủng hộ và kìm hãm.

Từ hoàn cảnh sống đó, con hổ nhớ lại những năm tháng lang thang của mình:

“chúng ta sống mãi trong tình yêu và nỗi nhớ ngày xưa”

Cuộc sống hiện tại phải bó hẹp và gượng ép để những con hổ “sống đời đời kiếp kiếp nhớ nhung”, luôn nhớ về những ngày tháng đã qua. ngay sau đó, thế giới đã miêu tả rất sinh động hình ảnh núi rừng bao la và bóng dáng của chúa sơn lâm:

“nhớ cảnh rừng, cây cổ thụ

với âm thanh của gió hú, với giọng nói của đài phun nước gào thét núi non,

với một bản quốc ca dữ dội,

các động từ mạnh “hét”, “hét”, “hét” đã thể hiện sự mong đợi của thiên nhiên, núi rừng. nhưng hình ảnh đó, dù có hùng vĩ đến đâu cũng chỉ làm nền cho sự xuất hiện của con hổ:

“chúng tôi bước tới, mạnh dạn, đàng hoàng,

lắc lư cơ thể của bạn như một làn sóng cuộn nhịp nhàng,

bóng lặng, lá gai, cỏ sắc.

trong đêm tối, đôi mắt của thần khi anh cau mày,

là để mọi thứ im lặng “

Với giọng thơ mạnh mẽ, thế sự đã khắc họa một chúa sơn lâm bất khả xâm phạm với những bước đi vững chãi, thân hình gợn sóng và đôi mắt sáng trong đêm tối. dáng hổ oai vệ đó không chỉ đáng sợ đối với tất cả mọi người mà còn có thể tự hào về bản thân:

“Tôi biết rằng tôi là chúa tể của vạn vật trong vùng đất đầy hoa không tên và không tuổi”

Tuyên bố kiên định rằng mình là chúa tể của muôn loài đã thể hiện sự tự tin và dũng cảm vô song của loài hổ. chính cuộc sống tự do, khí phách hào hùng ấy đã khiến anh cảm thấy phẫn uất và bị giam cầm với cuộc sống bị giam cầm đó. và tất cả đã tạo nên khát vọng tự do cháy bỏng trong con hổ. nhớ những “đêm vàng bên suối”, nhớ những “ngày mưa bốn phương”, nhớ những bình minh rực rỡ, nhớ tiếng chim hót khắp rừng… tất cả những điều đó không chỉ là nỗi nhớ, nó còn là nỗi đau của một chúa sơn lâm khi đôi chân bị nhốt trong lồng sắt chật hẹp và ngột ngạt. nhưng thiên nhiên dù có đẹp đến đâu, vẻ ngoài hùng vĩ đến đâu cũng chỉ còn là dĩ vãng, nay con hổ phải thốt lên: “hỡi ôi, thời oanh liệt còn đâu”. từ quá khứ vàng son, thế giới khiến con hổ phải giật mình nhìn lại hoàn cảnh hiện tại của mình. đoạn thơ khiến người đọc xót xa cho cảnh ngộ của con hổ. nỗi nhớ ấy khiến những con hổ chỉ biết “ôm ngàn ân hận” trước những cảnh tượng tẻ nhạt, vô vị và “bất di bất dịch”. cọp nhớ “rừng thiêng nơi ta từng ở”, nhớ “nơi rộng rãi nơi ta chiến đấu năm xưa”. bao nhiêu nỗi nhớ là bao nhiêu uất ức dồn nén của con hổ. càng đọc càng thấy xót xa cho thân phận của một chúa sơn lâm. chúng tôi càng nghĩ về nó, nó càng giống với hoàn cảnh của thị trấn chúng tôi vào thời điểm đó.

Người ta thường nói, văn học phải có cội nguồn từ cuộc sống, phải phản ánh cuộc sống để từ văn chương, người đọc có thể nhìn thấy mọi thứ của cuộc sống. thế giới “nhớ rừng” đã làm được điều đó. nhà thơ đã mượn lời con hổ để nói lên sự ngột ngạt, ngột ngạt của chính mình cũng như của cả dân tộc Việt Nam trước xiềng xích nô lệ, trước cảnh cơ cực. Có thể nói, với thể thơ tự do và hình ảnh thơ hào hùng, tráng lệ, Thế giới đã xây dựng thành công hình tượng chúa sơn lâm đầy ám ảnh trong lòng người đọc.

người ta nói “nhớ rừng” là khát vọng sống, khát vọng tự do quả không tồi bởi bài thơ còn chứa đựng trong đó khát vọng tự do của cả một dân tộc và cũng thầm bày tỏ tình yêu quê. đất nước của nhà thơ.

Cảm nghĩ về bài thơ Nhớ rừng – văn mẫu 2

bài thơ trích từ một con hổ trong vườn bách thú, chủ đề kịch tính. hoàn cảnh là một người tù hèn mọn và không được tự vệ, linh hồn là chúa sơn lâm. quý ông này đã qua thời tàn khốc khốc liệt đòi tự do. Vị lãnh chúa vô cùng bất lực và ý thức được hoàn cảnh của mình, cam chịu bị hận thù gặm nhấm, rình rập trong những ngày tháng về sau, dù thân phận của ông đã giảm xuống mức thấp kém của một giống loài. Nhìn bề ngoài, người ta có thể nói rằng con hổ này đã được thuần hóa, đứng cùng bầy với những con gấu điên, với một cặp báo chuồng vui vẻ. nhưng đó chỉ là bên ngoài, còn thế giới bên trong của con thú, một thứ tội nghiệp, vẫn còn cháy. thư pháp lãng mạn của thế giới đã có cơ hội tham quan và thể hiện sức biểu cảm phong phú của thơ mới bằng cách tái hiện lại khung cảnh tráng lệ trong tưởng tượng về vị vua của rừng rậm.

bi kịch của thân phận trong tù, tâm hồn trong giang sơn xưa đã tạo nên một men cảm phục cho nỗi nhớ. Qua tinh thần của con hổ, núi rừng hiện lên trong vẻ đẹp tráng lệ say đắm lòng người. tráng lệ cho bóng cây cổ thụ sâu thẳm, tráng lệ cho vẻ uy nghiêm của những tiếng hú, gào, thét, dữ dội; sa mạc bí ẩn: hang tối, thảo mộc không tên, chỉ một phần bí mật.

Tham khảo: Soạn bài thái sư trần thủ độ ngữ văn 10

Trong khung cảnh núi non hùng vĩ ấy, hình ảnh chúa sơn lâm uy nghiêm hiện ra. tiêu điểm của hình ảnh khu rừng này là con hổ. nhưng trước khi hổ xuất hiện, thế giới đã khoác lên mình một khung cảnh gợi lên không khí uy nghiêm và sợ hãi. Vào lúc tiếng kêu của thiên nhiên lên đến đỉnh điểm, vị vua của khu rừng nhiệt đới xuất hiện. lúc đầu chỉ có đôi chân, bước đi táo bạo và đàng hoàng. những câu thơ như một chi tiết cận cảnh, thu hút sự chú ý của người nghe. sau chân là cơ thể, xuất hiện rất chậm, khiến nó trở nên uy nghi và to lớn hơn. chiều dài của lưng được kéo dài trong câu thơ, một sự mềm mại duy trì sức mạnh.

thân hình như sóng cuộn nhịp nhàng, bóng lăn lặng lẽ, lá gai, cỏ sắc.

Cách miêu tả mỗi chuyển động là những chuyển động có chọn lọc của chân, thân và mắt thể hiện sự thống trị của con thú trước khung cảnh. những câu thơ sau đã hoàn thành bức chân dung của vua rừng. sự uy nghiêm của chúa sơn lâm cũng ngự trị cảnh chúa đi ngang qua khiến mọi thứ trở nên im lặng. Câu nói đầy kiêu hãnh của con hổ không hề phóng đại:

Tôi biết rằng tôi là chúa tể của mọi sinh vật trong vùng đồng cỏ vĩnh cửu, vô danh.

Chỉ riêng câu thơ này cũng đủ để kể lại quá khứ hào hùng của chúa sơn lâm. thế giới còn sức viết, thêm một đoạn, cùng một chủ ý, nhưng tình tiết lấy từ hoạt động của ác thú. trí tưởng tượng của nhà thơ tiên phong trong trào lưu thơ mới phong phú đến nỗi, bắt đầu từ những chi tiết có thật của đời sống loài vật, ông đã dựng nên bức chân dung tâm hồn của chúa sơn lâm. có bốn cảnh: đêm trăng – ngày mưa – sáng xanh – chiều đỏ. Bức tranh tứ bình này (họa sĩ cũng là họa sĩ từng học cao đẳng mỹ thuật) tuy ít chi tiết nhưng độ sắc nét rõ ràng, màu sắc từng mảng lớn, trong cảnh có âm thanh khi tưng bừng sáng, khi im lặng và bí ẩn. ẩn giấu. những cảnh ở đây hiếm thấy trong thơ ca Việt Nam. vẫn là tả hành vi của con vật, nhưng sức gợi của bài thơ rất rộng, giúp người đọc thấy được cái hồn của cảnh và “tâm trạng” của con vật.

Còn đâu những đêm vàng bên con lạch, say sưa uống rượu dưới ánh trăng?

Sự im lặng thiêng liêng có chút rùng rợn nhưng quyến rũ kỳ diệu: bên dòng suối mặt trăng, một con quái thú uống nước và rình rập con mồi. tác giả đã nâng cao uy quyền của chúa sơn lâm khi để ông đối đầu với thiên nhiên, tạo vật trong bốn bức tranh: đối mặt với trăng, đối mặt với mưa, đối mặt với bình minh, đối mặt với hoàng hôn. và trong cả bốn cảnh, con hổ là kẻ thống trị; chú ý những động từ miêu tả hoạt động của con hổ trong bốn cảnh:

say, đứng, uống rượu, nhìn núi, chờ mặt trời tắt, để cất đi

đẹp nhất, dữ dội nhất, bi tráng nhất là cảnh hoàng hôn. bức tranh đỏ tươi: đỏ tươi như máu, đỏ rực mặt trời. tác giả dùng từ mỏng để gọi mặt trời, tưởng rằng mặt trời cũng nhỏ trong mắt hổ. Một bầu không khí chết chóc bao trùm lấy anh ta, được gợi lên bởi ánh máu, bởi khoảnh khắc hấp hối dữ dội của mặt trời. trong vài phút nữa vũ trụ sẽ im lặng, ngự trị trong bóng tối, chỉ còn lại vẻ uy nghiêm của loài hổ. đó là đỉnh cao của quyền lực, gần như bất tử. từ đỉnh cao huy hoàng của dòng hồi tưởng, con hổ đánh thức xác khỏi ngục tù:

oái! thời huy hoàng ở đâu ?.

tiếng than thở có sức mạnh di chuyển và tạo ra tiếng vang do sự tương phản đó. châu chấu thiêng khi xác người đã tàn. chính nỗi nhớ này đã cụ thể hóa cảnh ngộ của câu thơ: gặm nhấm khối người căm thù trong lồng sắt. mỗi đoạn hồi tưởng là một cảm giác bất lực, một sự thất bại nặng nề.

Nhiều người đã nhận xét đúng về ý nghĩa xã hội của bài thơ: con hổ trong lồng sắt nhớ lại tự do là biểu tượng cho tình cảm của người dân Việt Nam khi mất nước. bài thơ nhằm đánh thức lòng yêu nước, khát vọng tự tôn một cách kín đáo. tuy nhiên, nếu chỉ thấy nghĩa đó, chưa thấy hết bài thơ, cũng phải cẩn thận đề phòng khi đi vào ý nghĩa xã hội, chúng ta dễ rơi vào tình trạng bất đồng chính kiến ​​và dần tách mình ra khỏi hình tượng thẩm mỹ vốn có trong bài thơ. . . đoạn cuối của bài thơ không quá xuất sắc như những đoạn trước nhưng thể hiện rõ khuynh hướng tư tưởng của bài thơ qua câu chuyện về ông vua rừng rú:

bây giờ tôi giữ một mối hận thù ghét những cảnh không bao giờ thay đổi, những cảnh được sửa sang lại, tầm thường, những bông hoa giả, cỏ xén; lối đi bằng phẳng, cây cối trồng nước đen, suối giả, không chảy dưới nách, gò lá lộc vừng thấp, thuần phục, không bí hiểm, và cũng là học cách bắt chước thiên nhiên hoang dã của một nơi cao cổ, âm u.

Sự phẫn uất tất nhiên là do nô lệ, nhưng điều bực bội nhất do nô lệ gây ra là chấp nhận sự tầm thường. hổ nhớ rừng không chỉ là nhớ tự do mà theo tôi, cái chính nếu từ văn bản của bài thơ là nhớ cái cao siêu, cái thực, cái tự nhiên. ở đây chúng ta tìm thấy các thuộc tính của chủ nghĩa lãng mạn: nhàm chán, đơn điệu, nhỏ bé trong tầm với của con người: hoa được cắt tỉa cẩn thận, cỏ xén, lối đi bằng phẳng, cây cỏ. mùa xuân tuyệt vời mà tôi từng mơ ước:

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt còn hơn buồn trăm năm.

Đây không phải là nơi để thảo luận về mặt tốt và xấu của quan điểm sống này, chỉ để đề cập đến nó như một đặc điểm của chủ nghĩa lãng mạn. du khách thế giới cũng thường say mê những cảnh đẹp tuyệt vời, những tương phản mạnh mẽ của thiên nhiên:

cảnh tuyệt vời, sóng nghiêng bầu trời, thác nước mỏng manh, cánh hoa rung rinh.

thơ trần tục, vì vậy, thường đắm chìm trong cảnh tiên nữ. khát vọng của con hổ khao rừng là khát vọng được trở về với cái cao cả, siêu phàm, không thể sống với sự tầm thường, thấp kém giả tạo. đó là vẻ đẹp của nhân cách, mặc dù mang theo khao khát đó trong bản thân là mang lại sự thất vọng, vì những gì phi thường về lãng mạn cũng là những gì không thực. hơn nữa, siêu phàm dễ đồng nghĩa với cô đơn.

Trái tim của con hà mã trong thơ xuân điểu cũng là trái tim của con hổ trong lồng sắt của thế giới, nó thuộc về bản chất của chủ nghĩa lãng mạn. quá nhấn mạnh, chỉ thấy ý nghĩa xã hội, không thu hẹp bản chất con người của bài thơ và cũng làm lu mờ quy luật thẩm mỹ của chủ nghĩa lãng mạn. còn một lý do nho nhỏ nữa: tự do của hổ là tự do của một chúa tể, tôi biết mình là chúa tể của vạn vật, khát vọng tự do của hổ, qua hình ảnh thẻ bài là khát vọng ngự trị, mong muốn tước đoạt tự do của người khác. do đó, coi như hổ trong chuồng là địa vị của dân tộc ta, e rằng thống nhất hình tượng thì khó mà giải thích được.

XEM THÊM:  Bài thơ thỏ bông bị ốm của tác giả nào

nhớ rừng “là bài thơ tuyệt tác của lữ khách thế giới, nhà thơ tiên phong của trào lưu ‘thơ mới’. với tiếng nhạc du dương, với cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, đặc biệt với hình ảnh con hổ, bài thơ” nhớ rừng “. ”Đã chinh phục mỗi chúng ta, nó đã chiếm lĩnh sâu thẳm tâm hồn của nhiều người trong hơn nửa năm của thế kỷ trước.

Nhà thơ nói về con hổ với sự cảm thông và ngưỡng mộ. anh ta đang nằm trong lồng sắt của vườn bách thú. vua rừng trong ngục vô cùng cay đắng, uất hận “ngậm lấy cục tức”, muốn cắn xé, muốn nhai lại tất cả những ân oán, hận thù đã tích tụ bấy lâu nay thành “một khối” trong lòng. . chiều dài. . Làm sao không ghét khi phải “nằm dài nhìn ngày tháng trôi” trong lồng sắt? làm sao không phẫn uất và chua xót khi chúa sơn lâm “hào kiệt” bị chính những người đang “cười với mình” chế giễu, trở thành “đồ chơi”, với đôi báo “vô tư” trong vườn bách thảo? du khách thế giới đã thể hiện tâm trạng cay đắng và căm thù của con hổ mất tích một cách kỳ lạ:

ôm hận trong cũi sắt nằm nhìn ngày tháng dần trôi, bị giam cầm nhục nhã

như vậy, chúng ta càng thấy rõ: “anh hùng mất nết cũng hèn” (truyện kiều) ‘, chúng ta càng thấm thìa: “đời có muôn ngàn đời cay đắng, tủi hờn”. còn hơn mất tự do “(nhật ký trong tù).

Năm tháng trôi qua, liệu chúa sơn lâm có thể nguôi ngoai nỗi nhớ rừng? nhớ “thời xưa em phiêu bạt giang hồ”, nhớ về cõi “đất thiêng” nơi “em” ngự trị:

“Nhớ cảnh rừng, bóng người, cây cổ thụ, có tiếng gió hú, có tiếng suối reo vang núi”

hãy nhớ đến tư thế cao quý và uy nghi của cái “tôi”. một bước một cơ thể lượn sóng. một trò chơi bóng… tất cả đều “táo bạo, xứng đáng”. một từ “ta” vang lên đầy tự hào về chúa sơn lâm:

“chúng ta đứng dậy, bay lượn với sự táo bạo và uy nghiêm xung quanh cơ thể như một làn sóng, nhẹ nhàng chơi đùa với những bóng tối, những chiếc lá gai góc, ngọn cỏ sắc nhọn.”

thẩm quyền của “tôi” là tuyệt đối. cái gì cũng phải sợ, phải “im lặng” khi “mắt thần” của mình đang “khóc”. biết “giữa vườn hoa,” Ta là chúa tể muôn vật “:

“Trong hang tối, khi đôi mắt của thần đã cau lại, tất cả đều im lặng, tôi biết rằng tôi là chúa tể muôn loài ở giữa thảo nguyên vô danh và không tuổi.”

nỗi nhớ về rừng thiêng, nhớ về quyền lực của vua rừng là nhớ về những năm tháng không thể nào quên. nỗi nhớ ấy là khát vọng sống, khát vọng tự do cháy bỏng.

Lỡ vào rừng là nhớ về những kỷ niệm tươi sáng của một thời vàng son, một thời oanh liệt. cảnh tráng lệ. nhạc của thơ cũng là nhạc của rừng:

“Còn đâu những đêm vàng bên suối, ta say sưa uống trăng? thời huy hoàng ở đâu? ”

những từ lóng, những ám chỉ: “những đêm vàng …”, “những ngày mưa ở đâu …”, “những bình minh ở đâu …”, “những buổi tối ở đâu …”, “những ngày này ở đâu” liên tiếp xuất hiện. ở năm câu hỏi tu từ tạo nên giai điệu da diết, triền miên, da diết, thể hiện sâu sắc tình yêu, nỗi nhớ rừng thiêng châu chấu, niềm tiếc nuối một thời oanh liệt nay đã biến thành niềm khao khát. , cũng đã qua. chúa sơn lâm nhớ đêm nhớ ngày nhớ bình minh, nhớ hoàng hôn, nhớ suối, nhớ trăng. nhớ cảnh mưa rừng. nhớ “cây xanh bóng mát”. nhớ tiếng chim hót tưng bừng lúc rạng đông. nhớ cái nắng gay gắt lúc hoàng hôn. nỗi nhớ ấy là nỗi xót xa khi bị tước đoạt tự do, đồng thời cũng là niềm khao khát tự do. la lu đã tạo nên những vần điệu giàu hình ảnh và nhạc điệu, đầy cảm xúc để diễn tả nỗi nhớ của loài tôm hùm hoang dã của sa co … một tiếng than chinh phục lòng người, gợi rung động lòng người:

“ouch! thời huy hoàng ở đâu? ”

Anh ấy bị suy nhược cơ bắp, anh ấy bị giam trong lồng sắt. xa rừng phải nhớ rừng. Khi nào họ mới biết được nỗi đau và sự uất hận có thể biến mất? như một tiếng thở dài:

“Bây giờ tôi có một nghìn điều hối tiếc.”

“nhớ cánh rừng, bóng xế, cây cổ thụ” rồi “uất ức” ghét những cảnh “không bao giờ thay đổi”, là “câu đố giả dối” nhàm chán, nhạt nhẽo, vô nghĩa, nhỏ nhen:

“hoa, cỏ xén, lối đi thẳng, cây cỏ; nước dài đen ngòm vờ suối không cho len lỏi chảy dưới nách những gò thấp “.không ngừng” cảnh non nước hùng vĩ “lỡ rừng là nhớ vương quốc tự do:

“Đó là một nơi giống như một đường hầm thiêng liêng, nơi chúng tôi từng sống, nơi chúng tôi đã chiến đấu trong quá khứ.”

Đối mặt với hiện thực đau thương, con hổ chỉ biết thả hồn theo “giấc mộng ngàn thu”. vị vua của rừng già được mệnh danh là khu rừng thiêng với nhiều tình yêu và lòng trắc ẩn:

“Ôi cảnh rừng khủng khiếp của tôi!”

“Nhớ rừng” là một trong mười bài thơ hay nhất của “thơ mới” (1932-1941). thể thơ tự do, ca từ đẹp, hình ảnh nguy nga, tráng lệ. tiếng nhạc du dương, cảm giác “nhớ rừng” dạt dào. hình ảnh một con hổ đau đớn, tức giận, phẫn uất và khao khát về rừng được khắc họa một cách sâu sắc và đầy xúc động.

Trong hoàn cảnh ra đời của bài thơ (1934), nỗi nhục nhã, đau đớn, uất hận … của con hổ mất rừng đồng điệu với bi kịch của nhân dân ta rên xiết trong xiềng xích của chế độ nô lệ. nhớ rừng là khát khao sống, khát khao tự do. bài thơ hướng tới một thông điệp kín đáo và nghiêm túc về tình yêu quê hương đất nước. tư tưởng lớn nhất của bài thơ là cái giá của tự do. hình ảnh con hổ bỏ rừng là một biểu hiện tuyệt vời của tư tưởng lớn lao đó.

Cảm nghĩ về bài thơ Nhớ rừng – văn mẫu 3

một trong những nhà văn xuất sắc có mặt ngay từ đầu là nhà du hành thế giới. nhiều tác phẩm của ông đã góp phần to lớn vào việc phát triển thơ mới, trong đó nổi bật là tác phẩm Nhớ rừng.

Trong khu rừng, người lữ hành thế giới đã thể hiện tâm trạng u uất, chán nản và khát vọng tự do cháy bỏng qua lời nói mượn lời của con hổ trong vườn bách thú. đó cũng là nỗi niềm chung của những người Việt Nam yêu nước trước cảnh nước mất nhà tan.

Thời kỳ đầu, phong trào thơ mới đã có những bước phát triển cả về phong cách và nội dung. Trong suốt các chặng đường phát triển, thơ mới đã từng bước tự giải thoát khỏi tính quy phạm khắt khe và hệ thống quy ước “không hợp” với thơ cổ điển. nhà thơ đã khám phá thế giới bằng những giác quan và cảm xúc rất thực của mình. đó cũng là lúc cái tôi trong sáng xuất hiện trong thơ. có sự trào dâng của những cảm xúc mãnh liệt của con người ngoài hiện thực khách quan. vì vậy, thơ mới có xu hướng thoát ly hiện thực, bộc lộ sự bất hòa, bất lực trước hiện thực xã hội. Qua đó, thơ mới cũng đã bộc lộ sức phản kháng quyết liệt trước thực tế tầm thường, giả dối đang vùi dập ước mơ của con người.

Với cùng thái độ phản kháng, người lu đã viết những câu thơ đầy tâm trạng trong nỗi nhớ rừng. mượn lời con hổ ở vườn bách thú để nói lên tâm trạng của chính mình. thế giới đã tạo ra một khung cảnh rất thực và ẩn chứa những bí mật sâu xa. Tất cả những hình ảnh được đề cập trong bài đều là không gian xoay quanh cuộc đời của loài hổ. việc con hổ bị nhốt trong cũi sắt và cảm thấy cuộc đời chứa đựng những u uất, buồn chán trong cảnh giam cầm, những cảnh “tầm thường giả dối” trong vườn bách thú. vì vậy, anh hoài niệm về quá khứ huy hoàng nơi núi non hùng vĩ. Đó là hai kịch bản hoàn toàn trái ngược giữa thực tại và quá khứ.

prussia vốn là loài vật được coi là chúa tể muôn loài, nhưng nay do sa ngã nên nó phải sống trong cảnh “tủi nhục” trong lồng sắt. không gian sống của chúa sơn lâm bị thu hẹp lại, từ đó trở thành “trò chơi tưởng tượng”, “đồ chơi” trong mắt mọi người. đối với anh, cuộc sống giờ đây trở nên vô vị và nhạt nhẽo vì anh sống ở một nơi không xứng với một vị vua của rừng già.

<3

phu nhân cảm thấy bất lực vì không có cách nào thoát khỏi cuộc sống gò bó, đành phải nhìn thời gian trôi qua một cách vô ích. nhưng dù trong hoàn cảnh nào, người thuộc “châu chấu thiêng” luôn biết rõ thân phận thật của mình là hung thần. người đàn ông trạc ba mươi tỏ ra coi thường, khinh bỉ trước sự không biết sức mạnh thực sự của bản chất của những kẻ “dại dột ngạo mạn” chỉ biết “mở to đôi mắt để chế giễu oai hùng của rừng”. thật bức bối biết bao khi phải sống chung với lũ “gấu điên”, với “cặp báo vô tư”! làm sao chịu cảnh đành cam chịu chấp nhận số phận của những “người bạn” cùng cảnh ngộ. đó là nỗi buồn, nỗi uất hận dồn nén tạo nên nỗi hận chất chứa trong lòng. mệt mỏi, chán chường, bất lực! trong hoàn cảnh bất hạnh đó, con hổ nghĩ về cuộc sống huy hoàng trước đây của mình:

ta sống mãi trong tình yêu và hoài niệm về một thời giang hồ, quyền uy ngày xưa, nhớ cảnh rừng có bóng cây cổ thụ với tiếng gió hú, tiếng suối reo. những ngọn núi với khi bài hát dài dữ dội cất lên

con hổ đã bồi hồi nhớ lại thời “hách dịch” nơi “bóng cây cổ thụ”. đó là nỗi nhớ da diết về rừng sâu. nhớ rừng là nhớ tự do, nhớ những “thời oanh liệt”, nhớ những gì cao siêu, chân thật và tự nhiên. trong non nước hùng vĩ ấy, con hổ đang ngự trị như một sức mạnh giữa cuộc đời. Bản lĩnh của một vị vua rừng luôn thể hiện quyền lực tối cao của mình bằng sức mạnh phi thường. những gì anh ta phải làm là khiến tất cả mọi thứ phải sợ hãi và khuất phục. ở đó, con hổ hiện ra với tư thế kiêu hãnh nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp hùng vĩ giữa núi rừng hùng vĩ:

Tôi bước về phía trước với sự trang nghiêm, lắc lư cơ thể như một con sóng lắc lư nhịp nhàng, lặng lẽ lắc lư những lưỡi dao sắc nhọn của bụi gai và ngọn cỏ trong bóng tối của mắt thần khi tôi nói rằng đó là để im lặng tất cả những gì tôi biết là chúa tể của vạn vật giữa cái tên muôn thuở của xứ sở ngàn hoa

Vẻ đẹp thực sự của con hổ là đây! mỗi bước đi, mỗi thân hình, mỗi ánh nhìn đều gợi lên một vẻ uy nghiêm uy nghiêm mà thanh tú. trong mọi hành động, con quái thú kia đều thể hiện hết sức mạnh tối cao khiến ai cũng phải “câm nín”. một cuộc sống tự do giữa rừng già mãi mãi là một điều gì đó rất cao quý. ở đó con hổ thực sự được tận hưởng một cuộc sống tươi đẹp mà tạo hóa đã ban tặng cho mình. đó là những lúc hổ “say”, nhìn thấy sự thay đổi của “giang sơn”, nằm ngủ và muốn chiếm lấy “bí mật chia sẻ” của riêng mình.

Anh ấy đã thoải mái trên đất nước của mình và khẳng định giá trị đích thực của cuộc sống với phong cảnh đẹp, thơ mộng và mê hoặc lòng người. Nhưng bây giờ, tất cả chỉ còn là ký ức của quá khứ. hổ sẽ không bao giờ thấy cảnh “đêm vàng bên suối”, sẽ thấy cảnh “ngày mưa quay bốn phương”, sẽ nghe tiếng chim hót, sẽ đắm mình trong cảnh “bình minh, cây xanh và nắng”. . bởi “mảnh nắng tàn” trong buổi chiều “nhuộm máu sau rừng”. những cảnh đó chỉ để lại cho con hổ những cảm xúc tiếc nuối, cuốn theo những xúc cảm mạnh mẽ, dồn dập của những câu hỏi đau đáu. nỗi nhớ bất tận trào dâng cảm xúc về quá khứ tươi đẹp khép lại giấc mơ huy hoàng trong tiếng than thở u ám:

oái! thời huy hoàng ở đâu

Sống lại với những kỉ niệm đẹp đẽ nơi núi rừng hùng vĩ, con hổ chợt nhận ra sự tầm thường giả tạo của cảnh vật nơi mình đang sống. trong ánh mắt kiêu kỳ của con hổ là những khung cảnh “bất di bất dịch”, những khung cảnh đơn điệu, nhàm chán được con người biên tập và cố gắng “bắt chước”. chúa sơn lâm tỏ ra khinh bỉ, ngán ngẩm trước những cảnh giả dối nhỏ nhen, hèn mọn. nó không phải là một nơi xứng đáng để sống cho một người cai trị. họ có cố gắng sửa chữa bao nhiêu thì cũng chỉ là “những dải nước đen ngòm giả vờ như một con suối không dòng chảy” dưới những “gò đất thấp”, “hoa, cỏ xén, lối đi bằng phẳng, cây cỏ” chẳng có gì là “huyền bí” ”. “. những cảnh sống giả dối này khiến những con hổ nhớ nhung chốn “trời cao ngàn năm”.

chán ghét cuộc sống thực tại, ôm trong mình nỗi uất hận không nguôi, con hổ khao khát một cuộc sống tự do. mọi tâm tư, tình cảm của con hổ đều thuộc về rừng tối ngàn năm. qua đó, chúa sơn lâm đã gửi gắm những thông điệp tha thiết của mình về núi rừng. Dù đang trong tình trạng suy nhược nhưng chú hổ không giấu được niềm tự hào khi được đến với “non sông hùng vĩ”. giang sơn ấy là nơi những con hổ đã có những tháng ngày tươi đẹp, tự do chiến đấu trong một không gian riêng biệt. Cho dù bây giờ chúng sẽ không bao giờ được sống ở những nơi xưa cũ ấy nữa, nhưng con hổ sẽ không ngừng nghĩ về “giấc mơ lớn”. vị thần bị truất ngôi cầu được sống mãi trong ký ức, hoài niệm của người đẹp ra đi không bao giờ trở lại:

hãy để tâm hồn tôi dường như gần gũi với bạn, cảnh rừng khủng khiếp của tôi

tiếng lòng của con hổ là lời tâm sự của một chàng trai về cuộc đời tươi đẹp trong quá khứ. đó cũng là tinh thần chung của hầu hết các bài thơ trên thế giới cũng như trong phong trào thơ mới, mang theo khát vọng được sống là chính mình của con người.

lỡ rừng không thể vơi đi nỗi buồn, cái “tâm bệnh của thời đại” lúc bấy giờ. nhưng bài thơ đặc sắc bởi nó tạo được điểm gặp gỡ giữa nỗi niềm của người mất quê hương với tâm trạng bất hòa, bất lực trước thực tế của thế hệ trí thức tiểu tư sản dân tộc. do đó đánh thức khát vọng tự do chính đáng.

Giàu cảm hứng lãng mạn và cảm xúc mãnh liệt, Nhớ rừng đã lan tỏa một hồn thơ khẩn thiết và những hình ảnh thơ ấn tượng miêu tả vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng. thành công của nhà du hành thế giới là đã thể hiện trí tưởng tượng phong phú bằng cách mượn hình ảnh con hổ ở sở thú để nói lên những bí mật sâu sắc đáng tin cậy của mình. từ đó thể hiện sự căm phẫn của nhân dân trước tình trạng quá tải, đồng thời khơi dậy tình cảm yêu nước của nhân dân lúc bấy giờ.

Cảm nghĩ về bài thơ Nhớ rừng – văn mẫu 4

“Nhớ rừng” của lữ khách thế giới là một bài thơ hay. những người có chí khí, có khát vọng thoát ra khỏi cuộc sống chật hẹp, chật hẹp, rình mò, gò bó, tầm thường, phấn chấn khi đọc hoặc nghe ngâm thơ “Nhớ rừng”. bài thơ được tác giả dành tặng những người lớn nhất trong các nhà văn và có một điển tích rất rõ ràng, cụ thể: “lời của con hổ trong vườn bách thú”. bên phải. bài thơ là “lời con hổ” nhưng có chất hài hước nhân văn. và, đó không chỉ là tâm trạng của một người, của cả thế giới, mà còn là tâm trạng của cả một lớp người, một thế hệ. tiếc thay, đó là trạng thái gần như bất lực và bất lực!

“bỏ lỡ khu rừng” mở đầu bằng sự căm thù, phẫn nộ cao độ:

Nuốt một khối hận trong lồng sắt, tôi nằm xuống, nhìn ngày tháng trôi qua, nhìn xuống những kẻ ngạo nghễ, ngơ ngác, giương đôi mắt trẻ con lên giễu cợt uy nghiêm của rừng rậm, bị giam cầm nhục nhã. , để làm những trò lố, đồ chơi, đứng cạnh những con gấu điên cuồng, với một vài con báo chuồng vô tư.

con hổ cảm thấy buồn khi không còn là mình mà chỉ là “đồ chơi” và phải “đau khổ cùng bầy với gấu điên, với vài con báo chuồng vô tư”.

có. Không có bất hạnh nào lớn hơn khi bạn không còn là chính mình, khi bạn không còn là chính mình, khi bạn đánh mất bản thân mình, cái tôi độc nhất của mình chỉ còn là một cái tôi giả tạo, nhạt nhòa, đau khổ.

y, con hổ chỉ biết sống với quá khứ, sống với những “bảo bối” cũ. Thật may mắn cho chú hổ, nó cũng có một quá khứ hào hùng đáng nhớ. nhờ đó, con hổ đã có thể quên đi, dù chỉ trong giây lát, nỗi “tủi nhục, tù đày” hiện tại:

Chúng ta sống mãi trong tình yêu và nỗi nhớ … giữa chốn phồn hoa không tên và không tuổi.

con hổ nhớ da diết hơn, nó nhớ nhiều hơn, nó nhớ cụ thể hơn những “đêm vàng bên suối”, “những ngày mưa quay ngàn hướng”, “nắng vàng cây xanh” và “đẫm máu. những buổi chiều ”. sau khu rừng ”:

còn đâu những đêm vàng bên con lạch, nơi ta say sưa uống ánh trăng tưng bừng?

nhưng đó chỉ là quá khứ. quá khứ hào hùng và đẹp đẽ như có thể không thay thế được hiện tại. cũng giống như con người, hổ vẫn phải sống với hiện tại của mình và hổ không lười biếng, không ảo tưởng khi than thở:

oái! giờ là thời huy hoàng ở đâu?

và, con hổ chỉ có thể “ôm mối hận ngàn thu (mùa thu)”, một nỗi uất hận lớn lao, một nỗi uất hận muôn thuở và chỉ có thể hận, hận, hận, trì trệ, dốt nát. nhiều khi giả dối, học hỏi, bắt chước, …

Giờ đây, tôi phải gánh chịu sự oán hận của hàng ngàn …… nơi cao quý và tăm tối của một ngàn năm.

Cuối cùng, con hổ chỉ có thể sống trong giấc mơ, một “giấc mơ vĩ đại”, quên đi thực tại, tự do, dù chỉ là trong giấc mơ.

ôi cảnh non nước hùng vĩ, hùng vĩ! ……….- ôi cảnh rừng kinh khủng!

như đã nói ở trên, tuy là “lời của con hổ trong vườn bách thú” nhưng rõ ràng bài thơ là tâm trạng của cả một lớp người, một thế hệ trẻ Việt Nam cảm thấy bơ vơ, bế tắc. chúng ta muốn thấy một con hổ biết phá chuồng, một con hổ biết nhảy, nhảy qua hàng rào để tự giải thoát cho mình hoặc tệ hơn nữa là đập đầu vào tường, tự sát, nhất quyết không sống. “ngục tù” nhưng con hổ của chúng ta, con hổ của thế giới, không phải như vậy. Con hổ của chúng ta, con hổ của thế giới, chỉ có thể dừng lại ở điều này: bất mãn với hiện tại, tiếc nuối hôm nay, tiếc nuối quá khứ, mơ ước những ngày trôi qua!

thế nhưng, dù bất lực và bất lực, bất lực và bất lực của con hổ vẫn cao cả, anh hùng hơn nhiều so với sự bất lực và bất lực của con sâu hay sự bất lực và tâm chết của con sâu. vì một lý do đơn giản là con hổ được kính trọng: người ta gọi con hổ là ông. con hổ, ông. tôm hùm, ông. con hổ, ông. ba mươi. ở phan rang (ninh thuận) có cầu hổ, ở giáp an (quảng nam) có miếu hổ.

có lẽ vì lẽ đó mà bài thơ “Nhớ rừng” đã, đang và sẽ làm lay động bao thế hệ độc giả. chúng ta cảm ơn nhà thơ đã để lại một bài thơ độc đáo và bi tráng trong cuộc đời chúng ta.

Chúng tôi tin rằng nhà thơ của chúng tôi, con hổ của thế giới, đã trở về khu rừng vĩnh hằng của mình, không còn phải sống trong “ngục tù tủi nhục” nữa.

Cảm nghĩ về bài thơ Nhớ rừng – văn mẫu 5

thế giới đã phó mặc cho hình ảnh con hổ bị giam trong cũi sắt giữa vườn bách thú vẫn giữ trong lòng nỗi niềm “uất hận ngàn thu” vẫn “theo đại mộng”: cảm cả gia đình. . thế hệ của chúng ta, thời đại của chúng ta: bất hòa với thực tế. họ sống ở quê hương nhưng họ luôn cảm thấy vô gia cư, họ sống trong hiện tại nhưng họ chỉ muốn thoát khỏi hiện tại. “hận trong lồng sắt” nhưng anh đau đáu nỗi nhớ rừng, tâm trạng của con hổ cũng là tâm trạng của anh, hiện thực là cũi sắt, quá khứ là rừng rậm, mộng là rừng già. mà con hổ đã trịnh trọng gọi là “nước non hùng vĩ!” Đối với chúa sơn lâm, rừng là tất cả, nhớ về rừng là than thở với tự do. nhớ rừng là bỏ lỡ thời huy hoàng … mọi thứ đều xuất phát từ phản ứng dữ dội trước thực tế giam cầm và trói buộc: thực tại giả dối tầm thường, thực tại vô vị, vô tích sự … cả đời tôi ở trong rừng.

Ai mà không có một thời huy hoàng của riêng mình! Đó là thời kỳ huy hoàng nhất của cuộc đời tôi, thời kỳ quan trọng nhất trong cuộc đời tôi! bởi vậy, bất cứ người nào trong cuộc đời này, nếu là người luôn ước ao được sống, thì cũng sẽ có lúc thấm đẫm nỗi đau mất mát để rồi cất lên tiếng hát sầu muộn của vị vua sơn lâm.

… nhà thơ tạo ra một sự đối lập hoàn toàn phù hợp giữa cái phi thường và cái bình thường. vua của rừng rậm được đặt ở trung tâm của hình ảnh và mọi thứ đều được nhìn qua con mắt của con quái thú này, vì vậy mọi thứ trở nên tầm thường. trước mặt hổ, con người chỉ là những kẻ kiêu ngạo, ngơ ngác với đôi mắt tréo ngoe, dám chế nhạo sự hùng vĩ của rừng rậm, những con gấu điên cuồng, đôi báo gấm chỉ là một tên nô lệ hèn nhát, hời hợt và vô tư.

những đêm vàng bên con lạch …. hãy để tôi lấy phần bí mật?

Tham khảo: Viết bài tập làm văn số 7 lớp 8 đề 3

đây là phần hay nhất của “nhớ rừng”. bốn bức tranh là nỗi nhớ, sự tiếc nuối, bốn câu hỏi, giọng điệu của nó tăng lên một cách mãnh liệt. đáng chú ý nhất là hình ảnh thứ nhất và thứ tư. từ “đâu…” là một lời than thở ảm đạm, vừa vặn với không khí thơ mộng của những đêm vàng bên suối và với phong cách say sưa mà vẫn rất hào hoa của người nghệ sĩ: “ta say nhìn ánh trăng tàn”. trong từ “đâu” thì giọng điệu khác hẳn. Đó không còn là một lời than thở mà là một cuộc thẩm vấn của quá khứ, một cuộc thẩm vấn khốc liệt và hoành tráng.

những buổi chiều chết tiệt sau rừng ở đâu? Tôi đang chờ chết vì nắng nóng. hãy để tôi lấy bí mật của riêng tôi?

Đây là một hình ảnh hùng vĩ và hung dữ tạo nên tư thế anh hùng của một bạo chúa. dòng chữ “nhuốm máu” thật đáng sợ. gợi lên khung cảnh chiến trường sau cuộc chiến đấu tàn khốc là máu của mặt trời, mặt trời đang hấp hối, qua nhận thức của con thú. Trong vũ trụ này, chỉ có một người duy nhất là kẻ thù của chúa sơn lâm: mặt trời.

Sự kết hợp tuyệt vời giữa đối tượng miêu tả và nghệ thuật miêu tả đã chắp cánh cho thơ ca thế giới bay bổng với sự táo bạo và trang nghiêm như một khúc ca dữ dội.

(dạy văn học Việt Nam – chu văn sơn): “Về hình thức, nét mới lạ trong bài thơ trước hết thể hiện qua thể thơ tự do, mỗi câu tám chữ, gieo vần, gieo vần, sử dụng linh hoạt nhịp điệu khi ngắn, lúc dài, có lúc nhanh, lúc chậm, lúc lại kéo dài, có hiện tượng ngắt dòng giữa các dòng thơ, ngôn ngữ thơ sáng tạo, phong phú, sinh động, giàu sức biểu cảm, giàu sức biểu cảm, bài thơ sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật đặc sắc như so sánh, ẩn dụ, nhân hoá, hoán dụ, ám chỉ, câu hỏi tu từ, tất cả góp phần làm cho bài thơ giàu nhạc tính, lời thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn, mạch thơ tuôn trào, cảm xúc ùa về dưới ngòi bút của nhà thơ.

Cảm nghĩ về bài thơ Nhớ rừng – văn mẫu 6

trước hết, chúng ta cần hiểu vì sao tác giả bài thơ lại mượn “lời con hổ ở vườn bách thú”? chú thích một hình ảnh thơ có lẽ không có mục đích gì khác: để tránh những suy diễn và hiểu lầm. tuy hình tượng con hổ là hiện thân của nhà thơ nhưng vẫn là một chủ đề trữ tình nhất quán và trọn vẹn. đó là cao trào của bài thơ. và đằng sau, phần chìm có thể gắn với hai tầng ý nghĩa, bao gồm ý thức giải phóng cá nhân (bản ngã), và tâm trạng bâng khuâng, hoài niệm của một dân tộc bị xiềng xích, khao khát tự do, với thái độ chối bỏ thực tại và nhìn hướng về quá khứ vàng son huy hoàng. vì vậy, khi phân tích bài thơ, không thể bỏ qua cái nhìn chính diện.

Vẻ ngoài của con hổ bị giam cầm, cơ bản của một sự u sầu không thể hoàn thành, thật bi thảm. Bản chất bi thảm này phải được hiểu theo hai cấp độ: một là hoàn cảnh thay đổi, nhưng con hổ không thay đổi. cái “hằng” của con hổ vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan: một mặt không chịu trịch thượng, mặt khác: không chấp trước hoàn cảnh. nó không chịu hạ mình vì con hổ luôn ý thức mình là vua, ngồi trên ngai vàng muôn thuở của các vị vua. và thái độ không chấp nhận hoàn cảnh cũng xuất phát từ đó: chấp nhận rằng môi trường sống đã thay đổi, không còn như xưa nữa. không chấp nhận, không tự mình thay đổi, tạo ra khoảng cách và thế giằng co gay gắt. tâm trạng đơn độc ấy thể hiện một con hổ không ngừng sầu muộn khi đọc bài thơ, vào từng câu thơ như những hồng cầu để nuôi dưỡng cơ thể.

hai đoạn văn nói về những hoàn cảnh thay đổi (đoạn 1 và 4) tạo ra xung đột, một cuộc xung đột không thể hòa giải và ngột ngạt. nhưng trong dòng suy nghĩ quay cuồng ấy, mỗi câu thơ là một nỗi niềm riêng. có nỗi đau của sự bất đắc dĩ, bị “thất bại”, vô tình rơi vào tình huống trớ trêu (đoạn 1), phải đón nhận một tình huống không thể chấp nhận được: vừa giả dối vừa tầm thường (đoạn 4). sự đối lập thứ nhất (đoạn 1) là sự đối lập giữa hai loài không thể “bình đẳng”, là cùng một loài, giữa hổ và người, giữa hổ và báo, và “gấu điên”. Cảm giác không thể “bình đẳng”. “bây giờ đang” như một bầy “, tạo ra một cú sốc đầu tiên vô cùng cay đắng:

nuốt hận vào lồng sắt,

Không giống như hình thức câu ca dao cổ điển, câu thơ tám chữ đó là một sự đổi mới, nhưng sự đột biến của cách mạng thơ liên quan đến giọng điệu, trong tỷ lệ thanh điệu bằng phẳng. trong câu thơ, tỷ lệ bằng nhau hoặc xấp xỉ nhau, có sự phối hợp đan xen và ở đây tần số của các thanh dẹt là áp đảo, không những vậy, tất cả các thanh đều đặt tải ở đầu và ở. chấm dứt. chúng giống như những gọng kìm mạnh, các kim loại va chạm vào nhau. phẫn uất và bất lực là thái độ của những sinh vật bị giam cầm, đặc biệt là những sinh vật không thể chịu được xiềng xích và giam cầm như hổ. bất lực, uất ức và bất lực là bức chân dung ấn tượng của hai câu đầu. nó được phân bổ tinh vi trong mỗi âm tiết. nếu ở câu đầu các âm dày lên thì ở câu sau nó biến mất, thay vào đó là các thanh: thanh thoát, lan tỏa, lan xa, không còn sống động nữa. sự khinh bỉ và giận dữ của con hổ chỉ được kìm nén trong lòng như một nỗi buồn ẩn giấu. tiếp tục làm dày thêm lớp trầm tích của nỗi đau. Không phải ngẫu nhiên mà trong câu thơ sáu dòng tiếp theo, có bốn câu nói đến con người. đúng là ở đây, giữa hổ và người, giữa hổ và đồng loại (gấu, báo) đã có sự đổi ngôi, nhưng có lẽ lòng căm thù đối với con người, với loài người cũng đủ tạo nên một giọng thơ đầy hận thù. Điều này là do hổ, báo gêpa và gấu vốn là những loài động vật thân thiện và vô hại, nhưng với con người lại có mối tương quan trái ngược giữa thắng và thua.

XEM THÊM:  Chết cười với những bài văn miêu tả của học sinh tiểu học

nhưng thất bại này, rất tiếc, không phải do tài năng thực sự (có lẽ con người chỉ hơn hổ về trí thông minh). những gì đáng lẽ đã mất đã giành được, đôi mắt hạt đậu có thể chế nhạo cả khu rừng thiêng. tủi nhục cho hổ, đau đớn cái địa vị được tôn thờ, phụng thờ (ông ba mươi tuổi) chỉ là “trò chơi tưởng tượng, một thứ đồ chơi”. còn câu ca dao về đôi báo, con gấu chỉ là một âm thanh ầm ĩ của vùng đất thấp mà con hổ phải sa vào. Nếu đoạn đầu của bài thơ nói về sự thay đổi vị trí, thì đoạn thứ tư của bài thơ nói về tâm trạng của con hổ khi đối mặt với một điều mà nó không muốn đối mặt. trạng thái tâm trí đó giống như một quả bóng xì hơi, nó là trạng thái tâm trí của một con chim bị buộc chặt cánh. cũng là cảnh rừng thiêng nước độc, nhưng chỉ là “học đòi sa trường”, tầm thường và vô bổ. anh ấy có đủ nhưng thực tế anh ấy không có gì cả, vì thiên nhiên dường như có nhưng tâm hồn anh ấy thì không:

<3

nếu sự đổi mới của thơ bắt đầu bằng nhịp điệu, thì đây là một trường hợp mở đầu, một ví dụ xuất sắc. nếu ngắt nhịp ta có câu một: 2/2/2/2, câu hai: 5/3, câu ba: 3/5, thật là phóng túng. nó thể hiện nhu cầu hạn hẹp, bị hạn chế, bị hạn chế được giải phóng bản thân để nói ra sự thật của cảm xúc, khao khát được giải thoát khỏi lồng.

kìm nén và giải phóng đó là xung lực đồng xuất hiện trong mỗi câu thơ. nó cũng là nguồn cảm hứng cho toàn bộ bài thơ nếu bạn nhìn nó một cách vĩ mô. ngay cả sự đan xen giữa hôm nay và hôm qua, mất mát, vĩnh hằng, đơn điệu và huy hoàng trước đây của nó, tất cả đều dựa vào nhau, chiếu vào nhau và lấp lánh. tuy nhiên, về cơ bản, bài thơ như một hoài niệm. ngày xưa là đích đến cuối cùng, là điểm kết thúc. gốc rễ mà niềm đam mê hướng đến không phải là hôm nay, mà là từ hôm nay đến hôm qua, nó đi và không bao giờ trở lại: “nơi mà chúng ta không bao giờ có thể gặp lại”, “nơi rộng rãi mà chúng ta đã chiến đấu trong quá khứ”. tiếng nấc nghẹn ngào ấy hướng về rừng thiêng – cội nguồn của niềm tự hào khi “hầm thiêng” làm bá chủ.

Từ chối cái trước mắt, hiện tại, lối ra chỉ có hai hướng: quay về quá khứ hoặc hướng về tương lai. con hổ không có tương lai, nó chỉ có quá khứ. đối lập với hai không gian ấy, cảm hứng lãng mạn tràn ngập trong những giai điệu say đắm lòng người. quá khứ đã trở thành một vầng hào quang sáng chói bất thường của những tưởng tượng mang đến sự hưng phấn tối đa. thơ mới nói riêng và chủ nghĩa lãng mạn nói chung đã tạo cho mình một mảnh đất, một không gian riêng để tự do đấu tranh. cái vĩ đại, mãnh liệt, phi thường trong làn khói mù lấp lánh và bí ẩn của quá khứ dường như có ý nghĩa giải phóng “khối lượng căm ghét” không thể hòa tan của hiện tại. đó là một quá khứ rất đặc trưng của loài hổ: mọi thời gian, mọi không gian, cả những hoài niệm về một thời oanh liệt đã qua đi và không bao giờ trở lại. những yếu tố bên ngoài và bên trong trên được định hình lại để khắc họa và làm nổi bật chủ thể trữ tình tự xưng là “tôi” nhưng thực chất là “tôi” thức tỉnh, “cái tôi”, trung tâm của một “thời kinh hoàng”. tại sao cảnh lùm cây thiêng có lúc được gợi lên bằng “bóng người, cây cổ thụ”, có lúc bóng tối im ắng với “cành lá, ngọn cỏ sắc”, cả những loài hoa cỏ không tên? ba cung bậc của thiên nhiên gắn với sự trường tồn, vĩnh hằng, hoang vu, chập chùng và không rõ lai lịch của cỏ cây hoa lá để tôn vinh một nhân vật thần thánh mà tất cả đều phải cúi đầu “Ta biết ta là chúa tể”. chúa tể muôn loài “. nhân vật thần thánh oai vệ, uy nghiêm ấy hiện lên trong một hình ảnh gợi tả, cả về ngoại hình lẫn sức mạnh nội tâm ghê gớm. Bước đi của con hổ, vũ điệu tròn trịa tự nhiên chẳng giống ai, chẳng giống ai. Sự giàu có và kiên định. của hệ thống chuyển động thiết kế này là chuẩn bị một phút cao điểm để mọi thứ trở thành của riêng bạn, làm chủ nó:

Trong một hang động tối tăm, khi đôi mắt của một vị thần cau mày, tất cả đều yên tĩnh.

cảm giác của độc giả chúng ta là con hổ đang quay ngược thời gian, bơi trong dòng hoài niệm bất tận không phải là không có lý do. chính con hổ cũng thừa nhận: “Ta sống muôn đời trong tình yêu và nỗi nhớ”. những câu thơ tám chữ có dung lượng lớn hơn câu thơ thất ngôn tứ tuyệt được liên kết bằng các phép liên kết ở đầu câu, đầu câu không ngẫu nhiên như điệp khúc liên kết “nỗi nhớ thương” để dài ra:

nhớ cảnh rừng, bóng người, cây cổ thụ, với tiếng gió hú, với tiếng suối reo vang núi, với khúc dài dữ dội khi reo

Đó cũng là những hoài niệm về quá khứ, nhưng đoạn thứ ba không giống với đoạn thứ hai vì nó gắn liền với nỗi ngậm ngùi, nỗi nhớ (và đoạn thứ hai là đặc tả chân dung). nỗi nhớ về sự thiếu thốn tình yêu do chính ngữ điệu tạo ra. nhưng chữ “đâu” như xát muối như tìm hoang, quá xa ở đầu câu kết thúc bằng dấu hỏi tu từ như ai oán, như hoang mang:

đâu là những đêm vàng bên suối, đâu là những ngày mưa, đâu là những bình minh

cũng là thực (trong quá khứ) với con hổ, nhưng bắt đầu bằng con thứ hai, sau đó là con thứ ba và kết thúc với con thứ năm, con thực di chuyển ngày càng xa. cảm xúc thơ theo thời gian. vị trí thời gian không còn xác định, câu thơ gấp gáp, như đọng lại một điều gì đó của ngày xưa.

Cảm nghĩ về bài thơ Nhớ rừng – văn mẫu 7

the luu (1907, 1989) là một nghệ sĩ đa năng và hoạt động trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật, từ thơ, văn xuôi đến báo chí. Chính bằng cảm quan nghệ thuật của mình, thế giới đã cảm thấy cuộc sống hiện thực bế tắc, bí bách và luôn muốn thoát ra khỏi hiện thực bằng nghệ thuật. từ bút danh “người khách đi qua thế gian” đến những bài thơ như libertine, thánh thót. và hơn hết là cảm nhận được bài thơ về rừng khi ông khéo léo chuyển điểm nhìn trần thuật từ nghệ sĩ sang con hổ, nhờ con hổ mà suy nghĩ của ông được thể hiện khéo léo nhưng cũng có chiều sâu. >

– dù chỉ là ngoại hình, tôi trông rất kiêu hãnh và uy nghi với chữ vua trên trán như một lời cảnh báo cho tất cả các loài động vật trong rừng “Ta là chúa tể của bạn, vua của bạn” hãy đến. anh ta hoang dã, mạnh mẽ Tính cách hung dữ và không chịu khuất phục của anh ta đã coi anh ta như một chúa tể rừng xanh quyền lực và dũng mãnh. vì vậy, nỗi nhục bị giam cầm, bị bí bách, không được sống là chính mình, được chiến đấu trên chính đất nước của mình khi đặt dưới con mắt, khi lại hiện thân trong tình cảm của một loài vua thật đau đớn, thật chua xót.

khi người nghệ sĩ sử dụng những thứ không phải – phải – là – của – mình và đặc biệt là sử dụng động vật hoang dã để nói về cuộc sống con người, điều đó thực sự không dễ dàng. đúng là trong bối cảnh xã hội đang thay đổi, chỉ có người nghệ sĩ những cảm xúc tinh tế nhất mới được thể hiện trọn vẹn trong thơ và ca từ. thế giới đã tạo ra cảm giác ngạc nhiên cho người đọc khi đọc câu chuyện về con hổ mà họ có thể tự nghĩ ra. một con hổ kiêu hãnh bị giam cầm, một con hổ già, một con hổ … một kiếp người …

thử nghĩ một chút xem, nhà mình còn ai hiểu chuyện, yêu nước hơn chính bản thân mình? và tất nhiên, khi đặt điểm nhìn của tác giả, điểm nhìn của độc giả và của chính chúng tôi vào vị trí của con hổ, chúa sơn lâm, chúng ta mới thấy được khát khao, tình yêu và khát khao cháy bỏng của hổ khi nhớ lại. rừng xanh.

“trong mắt hổ, cảnh rừng bây giờ chỉ sống trong tình yêu và nỗi nhớ. ông hổ” nhớ cảnh rừng thiêng nước độc. tuy rằng gai góc, thực tàn nhẫn nhưng lại rất mềm mại thân thuộc.

“nhớ cảnh rừng, bóng cây, cổ thụ có tiếng gió hú, có tiếng suối reo vang núi”

Dường như khu rừng cọp, khu nhà cọp không phải là một ngôi nhà bình thường như bao ngôi nhà khác mà nó là một không gian nguy nga, uy nghiêm với bóng mát, cây cổ thụ, tiếng gió vi vu, tiếng suối reo, núi non trùng điệp. la hét. và ngôi nhà đó thật đẹp với những sợi vàng ánh trăng

“Còn đâu những đêm vàng bên con lạch, đứng say sưa uống ánh trăng?”

màu vàng tươi của ánh trăng in bóng xuống dòng suối vắng. đến con hổ giờ bị giam trong lồng sắt, chúng không chỉ là những ký ức sáng ngời trăng vàng, mà còn là những “đêm vàng” đích thực, những kỷ niệm được đúc bằng vàng ròng, không bao giờ được gặp lại. . chúa sơn lâm hiện ra như một thi sĩ của rừng, với điệu bộ say sưa ngắm trăng đầy thơ mộng. từ “say” có thể đánh lạc hướng người đọc nghĩ rằng “con mồi” này phải là một con vật đáng thương nào đó. Không. đập chính là vầng trăng vàng in bóng trên lòng lạch. con mồi – cái đẹp, cái đẹp – con mồi có đôi sắc, đó là cảm nhận riêng của con hổ – thi sĩ này. thế giới đã chứng minh được một người có thể nhập hổ, bằng cách gửi một mảnh linh hồn của nhà thơ vào con thú.

Hiện tượng tự nhiên trong rừng không êm, gió không êm, không rung, mưa rừng không phải là “mưa như khói chiều”, không phải “mưa rơi”. dù “mưa tung bụi bến vắng” nhưng trời tối rung chuyển núi rừng dữ dội.

“đâu những ngày mưa quay ngàn nơi”

tác giả thật tài tình khi sử dụng tiếng kêu của núi rừng, tiếng nghiêng ngả của cây cối, khung cảnh vội vã của một ngày mưa để làm nền cho một con hổ hoang đang yên tĩnh nhìn cuộc đổi mới của mình.

/ p>

“Tôi đứng lên, đàng hoàng và cuộn cơ thể như những con sóng cuộn nhịp nhàng”

hay

“Chúng tôi im lặng theo dõi đất nước của chúng tôi đổi mới như thế nào.”

nếu hình ảnh đầu tiên là thiên nhiên làm nền tuyệt vời, thì hình ảnh tiếp theo là khung cảnh nhẹ nhàng, quen thuộc và ấm cúng.

“nơi bình minh của cây xanh và những tia nắng tắm mát tiếng chim hót ngủ yên”

một vị vua được bao quanh bởi ngàn tia sáng mặt trời tắm mát cho cây cối, được bao quanh bởi âm thanh của những “cư dân” trong rừng: tiếng hót của loài chim làm cho niềm vui và sự hân hoan thấm sâu vào giấc mơ của con hổ.

giọng điệu không còn là tiếng than thở, mà là sự chất vấn đầy tức giận và uy nghiêm của quá khứ mà còn của hiện tại. tương ứng với giọng điệu, chúa sơn lâm hiện ra trong một tư thế hoàn toàn khác: tư thế ngạo nghễ của một bạo chúa. nền của cảnh là màu máu. hai chữ “chết tiệt” thật đáng sợ. gợi lên khung cảnh bãi chiến trường sau một trận đánh nhau tàn khốc. Đó có phải là máu của một con thú hoang dã bất hạnh nào đó không? không! Nó là máu của mặt trời. mặt trời lặn khi mặt trời tàn, dưới ánh mắt ngạo nghễ của dã thú là màu máu đỏ tươi. “những buổi chiều đẫm máu” là máu của mặt trời đã nhuộm màu suốt thời gian. máu đã trở thành màu của kỷ niệm. từ “sau rừng” vừa gợi ra không gian đỏ như máu của kẻ thù mặt trời, vừa gợi sự huyền bí của nơi diễn ra cuộc tranh chấp đẫm máu. từ “chết” đã biến mặt trời từ một vật thể thành một thực thể. không còn là một quả cầu lửa vô tri vô giác trên không, mặt trời đã trở thành một con thú. thậm chí là một con thú đáng thương: từ “hương thơm” là hình ảnh của mặt trời trong con mắt ngạo mạn và khinh thường của con hổ này. vẻ mặt “cứng cỏi” lúc con thú hấp hối càng khiến nó bị khinh bỉ. nên đối thủ của chú hổ này không phải là gấu, là báo gêpa vô tư, bạn nhé. rằng ngay cả con người cũng không xứng là đối thủ của họ. Trong vũ trụ này, chỉ có một người duy nhất mà chúa sơn lâm này coi là đối thủ, và đó chính là mặt trời. nhưng, điều đáng nói là: trong màn kịch kia, phần thắng vẫn thuộc về anh, “chúa tể vạn vật” đó. ba chữ “miếng mặt trời” đã hoàn toàn phá bỏ, đánh bại đối thủ, khiến mặt trời cũng trở nên tầm thường. Với cuộc chiến khốc liệt với mặt trời để “lấy bí mật của riêng mình”, thế giới đã nâng loài quái thú này lên tầm vóc vũ trụ. nó lớn hơn cả thứ tráng lệ nhất trong vũ trụ. Còn với câu “Mong mặt trời se se lạnh”, hình ảnh cuối cùng dường như đã thể hiện được đôi chân ngạo nghễ và siêu phàm của con quái thú như đang giẫm lên trời cao, bóng của nó đã gần như bao phủ toàn bộ vũ trụ. và tham vọng “để ta nắm lấy bí mật”, nó thể hiện rõ sự uy nghiêm của kẻ muốn thống trị cả vũ trụ!

“buổi tối đẫm máu sau rừng đâu, chúng ta chờ chết ánh mặt trời gay gắt, đi phần bí mật.”

Thật là khủng khiếp, con hổ của chúng ta như ôm cả núi rừng, lấy ánh trăng làm nước uống, lấy miếng mặt trời làm mồi …

phải là hổ, phải thực sự là hổ mới hiểu được bi kịch ngang trái của mình

Bi kịch của con hổ được nhìn ở góc độ: hoàn cảnh thay đổi nhưng con hổ không thay đổi. bởi vì hắn không chịu hạ nhục, không chấp nhận hoàn cảnh. con hổ tự ý thức mình là “hung thần” nên không chấp nhận thay đổi hoàn cảnh mà thay đổi theo hoàn cảnh. cả hai góc độ tạo nên một nỗi u uất xuyên suốt cả bài thơ. , đi vào từng câu thơ tạo nên sự xung đột, căng thẳng gay gắt.

Trong xung đột ngột ngạt ấy là nỗi đau bất bình cho những ngày tháng: “ngày xưa hào hoa phong nhã”. nhưng bây giờ con hổ đang trải qua những ngày buồn chán:

“giờ đây anh ta có cơ hội chịu đựng sự sỉ nhục trong tù để làm một món đồ chơi kỳ lạ.”

con hổ phải chấp nhận một nghịch lý không thể chấp nhận được là phải sống chung với cái giả dối, tầm thường. Có vẻ như mọi thứ hoàn toàn thực tế để làm hài lòng “nô lệ”, khiến họ quên đi thân phận nô lệ của mình, nhưng thực tế lại là sự sắp đặt nhẫn tâm đầy “ma mị” nhằm bóc lột nô lệ để tiêu hao binh lực và ý chí của con hổ. biến hổ thành vật trang trí cho cuộc sống muôn màu của con người

“hoa, cỏ xén, lối đi bằng cấp, cây trồng nước đen như suối, chảy không dưới nách gò thấp …”

nhưng sống giả tạo như thế nào khi một vị vua rừng bị tầm thường hóa ngu ngốc, an phận thủ thường, cơ hội làm nô lệ cho kẻ mạnh nhưng độc ác? giữa hổ và các loài vật khác, nay có sự đổi ngôi. từ thân phận của một người ý thức được giá trị của mình là “chúa tể muôn loài”, lúc này hổ mới thực sự xót xa và phẫn uất khi phải chấp nhận nghịch cảnh:

<3

nhưng điều đáng trân trọng là dù môi trường, địa vị và các mối quan hệ đã thay đổi, quyền lực và sức mạnh bị tước đoạt, con hổ vẫn không chịu khuất phục. do đó, người đọc có thể cảm nhận được không khí dồn nén nhưng sẵn sàng bùng nổ tạo nên động lực xuyên suốt bài thơ. mặc dù trong mỗi khổ thơ có nhiều tâm trạng khác nhau: đôi khi con hổ mang tâm trạng chán nản trước hiện tại:

“gặm nhấm nỗi hận nằm trên cũi sắt và nhìn ngày tháng trôi qua”

đôi khi tâm trí của con hổ mở ra với những hồi tưởng về quá khứ huy hoàng:

“chúng ta bước tới, mạnh dạn, đàng hoàng, …… ở giữa chốn phồn hoa không tên và không tuổi.”

Chính vì vậy, khi đọc toàn bộ bài thơ, người đọc không thấy bi kịch của kẻ sa cơ mà cảm nhận được bi kịch của người anh hùng không chịu thua vì thất bại:

“trời ơi, cảnh non nước hùng vĩ … cho tâm hồn tôi như được gần anh”

quá khứ và hiện tại, tự do và trói buộc, mất và được, tầm thường và xuất sắc, buồn chán … chúng luôn đan xen, hỗ trợ nhau tạo nên những vẻ đẹp lung linh đầy màu sắc, nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều âm điệu xuyên suốt bài thơ.

Tuy nhiên, tinh thần cơ bản của bài thơ là nỗi nhớ da diết. quá khứ là yếu tố tạo nên chủ đề tư tưởng của tác phẩm. mạch cảm xúc thường thấy trong các tác phẩm thơ là từ hiện tại đến tương lai, nhưng ở đây tác giả lại để dòng cảm xúc đi ngược chiều: từ hiện tại về quá khứ.

quá khứ dù sao cũng khép lại đồng thời chủ thể trữ tình cũng không còn tương lai. nói cách khác, tương lai của họ đã khép lại kể từ khi con người đeo ách nô lệ vào cổ con hổ.

nhưng điều đáng quý là dù con người bị tước đoạt tự do, phải chịu cảnh bơ vơ, sống trong ngõ cụt và không còn hy vọng thì con hổ vẫn giữ vững niềm tin, vẫn giữ được mình. không chết vì hoàn cảnh, cúi đầu.

Câu chuyện về một con hổ sống trong vườn bách thú với tâm trạng “hoài cổ” có nhiều thông điệp đáng suy ngẫm!

Cảm nghĩ về bài thơ Nhớ rừng – văn mẫu 8

bài thơ “nhớ rừng” là bài thơ con hổ trong vườn bách thú, một chủ đề vô cùng hấp dẫn và kịch tính. Hổ là loài vật được mệnh danh là vua của rừng già. chàng trai rừng xanh cảm nhận sâu sắc cảm giác bị giam cầm trong lồng, mất tự do là như thế nào.

đoạn thơ “nhớ rừng” diễn tả bi kịch vô cùng đau đớn của một con thú tự do phải chịu đựng hận thù, khi một năm dài trong cũi sắt mất tự do. trong lòng con hổ luôn cảm thấy căm hận khi bị mất tự do và phải chịu cảnh cay đắng. phong cách lãng mạn của bài thơ “nhớ rừng” của thế giới được tác giả viết với nỗi buồn nhìn ra thế giới bên ngoài.

<3

Từ “gm” đã nói lên nỗi buồn và sự căm thù của một con hổ mang mặc cảm khi bị mất tự do. Chú hổ hàng ngày luôn cảm thấy vô cùng chán nản khi phải nhìn thế giới xung quanh bằng ánh mắt buồn bã, không được tự do chạy nhảy, không được sống những ngày tháng vui vẻ trong rừng xanh.

khinh bỉ những kẻ kiêu ngạo, ngu ngốc, giương mắt chế nhạo sự hùng vĩ của rừng rậm

Trong những câu thơ này, con hổ có một trái tim đa cảm như con người, luôn khao khát một cuộc sống tự do. khi đối mặt với con hổ, anh cảm thấy mình đang bị khinh thường, bị tước đoạt tự do. trong lòng con hổ ẩn chứa một mầm sống đầy hận thù với những người xung quanh. con hổ cảm thấy tội lỗi vì bị giam cầm và mất tự do. giống như một người muốn chiến đấu nhưng bị trói buộc, không thể một mình chiến đấu với ước mơ lớn của cuộc đời.

giờ bị mất, bị làm nhục, bị giam cầm, để làm một món đồ chơi tưởng tượng.

Trong hai câu thơ tiếp theo của “nỗi nhớ rừng”, thế giới đã thể hiện khát vọng bay cao, nhưng tất cả chỉ là một giấc mơ và khi lạc đường, anh đã bị giam cầm. Tôi cảm thấy buồn khi thấy mình đã lãng phí thời gian huy hoàng của mình. con hổ biết giờ chỉ là đồ chơi của con người, không còn những ngày rảnh rỗi bay nhảy, tự do chiến đấu với trời xanh.

với một bầy gấu điên cuồng, với một vài con báo chuồng may mắn.

con hổ nhớ lại những tháng ngày hạnh phúc với những giấc mơ rất đẹp. một thời vàng son được tự do bay nhảy. trong giấc mơ của con hổ luôn có một khao khát mãnh liệt được trở lại những ngày trong rừng già. hổ là vua của rừng rậm, được mọi người yêu quý và kính trọng.

oái! thời huy hoàng ở đâu?

Ở dòng thơ “nhớ rừng” này thể hiện một niềm tiếc nuối khôn nguôi. một hình ảnh linh thiêng của con hổ khi buồn và cảm thấy bất lực khi mọi thứ xung quanh không còn như xưa. con hổ muốn làm gì đó để chiến đấu và thoát khỏi cuộc sống tù đày này, nhưng nó không thể. Trong bài thơ Nhớ rừng của du khách thế giới, hình ảnh con hổ bị giam cầm giống với hình ảnh đất nước Việt Nam chúng ta trong thời kỳ nô lệ mất tự do, mất quyền tự quyết. tất cả mọi người đã mất đi những ngày vui vẻ và nhàn hạ khi bị giam giữ cẩn thận trong một nhà tù lớn.

Bài thơ “nhớ rừng” nhằm kêu gọi lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc. toàn bộ bài thơ là những lời tâm sự lay động lòng người, luôn tạo cho mỗi chúng ta một thôi thúc mạnh mẽ vươn lên tìm tự do cho chính mình.

cảm nhận bài thơ nhớ rừng dưới góc độ thơ

nhớ rừng là bài thơ kiệt tác của thế giới, nhà thơ tiên phong của phong trào thơ mới (1932 – 1941). bằng tiếng nhạc du dương, với khung cảnh thiên nhiên tráng lệ, đặc biệt với hình ảnh con hổ, bài thơ về rừng đã chinh phục mỗi chúng ta, đã chiếm lĩnh sâu thẳm tâm hồn của bao người hơn nửa thế kỷ qua. p>

Bài thơ Nhớ rừng có kết cấu độc đáo, tạo nên hiệu quả thẩm mĩ đặc biệt. đó là sự đan xen của hai không gian thẩm mỹ riêng biệt, tương phản, tương phản về cảm xúc của nhân vật trữ tình ta – hổ trong tâm trạng nhớ rừng. vì nhớ rừng nên cảnh rừng được ngợi ca là vẻ đẹp của tự do, tự tại, mạnh mẽ, tự do. do đó, cảnh vườn bách thú bị chuyển sang thái cực đối lập với cảnh rừng, đó là một khung cảnh giả tạo, chật hẹp, tròn trịa, nghẹt thở.

Kết cấu đó được tạo nên bởi hai cách sắp xếp không gian tương phản: thứ nhất là không gian rừng qua nỗi nhớ và sự tái hiện của nhân vật con hổ. đó là một không gian thiên nhiên với những vẻ đẹp bản thể học trong sự kết hợp của những sắc thái hoang sơ và hùng vĩ; phong phú, đa dạng, sống động về âm thanh, đường nét, hình khối, màu sắc. nỗi nhớ rừng già lại gọi, tái hiện không gian tự do đầy lôi cuốn, hấp dẫn: cảnh rừng, bóng cây cổ thụ, tiếng gió hú, tiếng suối reo núi, lá gai, tiếng cỏ sắc, đêm vàng bên suối, mưa chuyển bốn phương, bình minh xanh cây nắng, chiều đẫm máu sau rừng … chân dung, khí chất và thần thái nổi bật trong không gian này. sắp xếp nhân vật hổ:

chúng ta vươn lên với sự gan dạ và đàng hoàng, cuộn mình như những con sóng nhịp nhàng cuốn bóng lăn, những chiếc lá gai, ngọn cỏ sắc nhọn. Trong hang tối, khi đôi mắt thần đã cau lại, tất cả đều im lặng, ta biết ta là chúa tể muôn loài, giữa một loài hoa không tên và không tuổi.

một số khoảnh khắc đặc biệt cũng được ghi nhớ với hoài niệm đầy kiêu hãnh và ngạo mạn:

đâu là những đêm vàng bên con lạch, nơi ta say sưa uống ánh trăng? p>

ma trận thứ hai là không gian vườn bách thú, không gian nhà tù, chật hẹp, chật hẹp, nhân tạo, tẻ nhạt và buồn tẻ. Sự sắp xếp không gian này được thể hiện bằng những chi tiết tiêu biểu: chiếc nôi sắt, những khóm hoa gọn gàng, những vạt cỏ, những lối đi bằng phẳng, cây cỏ, một dải nước đen chảy nhẹ nhàng, không bí bách; đối chiếu và tương phản với ma trận không gian thứ nhất bởi không gian rừng già bao la, hoang sơ, hùng vĩ và đẹp đẽ, không gian này hạn hẹp, chật hẹp; nếu không gian rừng là tự do và phóng khoáng, thì không gian này là tầm thường và giả tạo:

Bây giờ tôi mang trong mình một nỗi uất hận sâu sắc, tôi ghét những cảnh không bao giờ thay đổi, những cảnh sửa đổi, tầm thường, giả dối: hoa được chăm sóc cẩn thận, xén cỏ, lối đi bằng phẳng, cây cỏ; dung dịch nước thải và các dòng chảy giả. cây tùng dưới nách gò thấp hạt vừng mềm mại, không bí, cũng học chước sa mạc nơi cao sang tối tăm.

Trong không gian sắp đặt này của hiện tại, ta cũng xuất hiện, nhưng là trong lòng oán hận, nhốt một khối hận trong lồng sắt, ngược lại ngày xưa ta phiêu bạt giang hồ, kiêu ngạo, ngang tàng, đoan trang. .. xuyên suốt trong hai cách sắp xếp không gian địa lý này là mạch không gian của tâm trạng và thẩm mỹ của nhân vật của chúng ta. Trong những loại không gian này, các nhân vật của chúng ta được kể, được miêu tả và thể hiện cảm xúc của họ. do đó, ngoài hình ảnh thiên nhiên ở hai khoảng không gian đối lập, còn có bức chân dung tự sự của thiên nhiên trữ tình. phẩm chất tư tưởng và thẩm mĩ của bài thơ phần lớn bộc lộ ở đường nét tâm trạng và không gian thẩm mĩ của nhân vật trữ tình.

Gắn liền với không gian là thời gian của quá khứ và hiện tại. thời quá khứ huy hoàng, tự hào, hạnh phúc, đủ đầy; thì hiện tại uất ức, buồn tẻ, tẻ nhạt và vô vị. nhiều kiểu câu được lặp đi lặp lại trong cấu trúc, một số là những từ chỉ thì cụ thể, nhưng không … chúng được dạy đi dạy lại nhiều lần; những câu hỏi tu từ như những vòng xoáy của nỗi đau vừa để ngợi ca, vừa nhớ ngày xưa, vừa để chối bỏ thực tại.

giọng điệu thơ và ngôn từ của rừng cũng là khía cạnh sáng tạo của tác giả, tạo được ấn tượng tốt với người đọc và góp phần quan trọng vào việc bày tỏ thái độ, tình cảm, suy nghĩ. giọng điệu lúc hùng hồn, hùng hồn, lúc buồn man mác. trong ký ức ngày xưa, nhịp thơ nhanh, mạnh; với bây giờ thì thật là chậm, thật đáng buồn.

những lời thơ đồng thời nối tiếp nhau, sóng vỗ mang theo cảm xúc của nhân vật trữ tình tuôn trào ở hai đầu quá khứ huy hoàng, tự hào, tự do và hạnh phúc, với hiện tại bị giam cầm, gò bó, chật hẹp, giả dối và buồn chán. . toàn bộ hệ thống ngôn ngữ của bài thơ là lời của nhân vật, nhân vật của chúng ta.

Tóm lại, với cái nhìn về rừng già trong nỗi nhớ về những vẻ đẹp và sự hấp dẫn của nó, đối lập với cảnh ở vườn bách thú, cấu trúc thơ rừng được xây dựng trên hai tâm trạng thẩm mĩ đối lập nhau. theo đó, giọng điệu và ngôn từ cũng mang hai dòng chính vừa hào sảng, hùng tráng, vừa tức tưởi, đượm buồn tương ứng với hai mảng nghệ thuật không gian và thời gian xưa và nay, nơi rừng sâu với vườn bách thú. hãy nhớ rằng rừng là bài ca về tự do, về giá trị đích thực của cuộc sống; đó là sự chỉ trích, phủ nhận nô lệ, tầm thường và giả dối.

Tham khảo: Karuta – Trò chơi của 100 bài thơ

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Cảm nhận về bài thơ nhớ rừng. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *