Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
252 lượt xem

Các khái niệm về giá trị – Phần III – CSCI INDOCHINA

Bạn đang quan tâm đến Các khái niệm về giá trị – Phần III – CSCI INDOCHINA phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Các khái niệm về giá trị – Phần III – CSCI INDOCHINA

iii / giá trị xã hội

các loại giá trị, các khái niệm giá trị cũng như khái niệm “giá trị” đều là sản phẩm của con người, theo khoa học thì chúng đều thuộc phạm trù xã hội. Giá trị xã hội, theo các tài liệu xã hội học, khoa học chính trị, … được định nghĩa là lợi ích của dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ công, đối với xã hội, trong cuộc sống của con người và cộng đồng. cộng đồng, xã hội; quan tâm nhiều đến các lĩnh vực như phúc lợi, sức khỏe, hợp đồng, việc làm, môi trường… do đó, “giá trị xã hội” là giá trị của tập thể, bao gồm mặt “tinh thần” và mặt “vật chất”. . Trong cuộc sống của con người, cộng đồng và xã hội, hai khía cạnh này hầu hết đều liên kết với nhau, mặc dù trong mỗi trường hợp mối liên kết này có thể xảy ra ở các mức độ khác nhau. tuy nhiên, nhiều tác giả khi xem xét “giá trị xã hội” đã không coi trọng khía cạnh tài chính mà tập trung vào ý nghĩa xã hội – “vốn xã hội”.

kể từ đầu thế kỷ 20, j. Schumpeter (1883 – 1950) đã có bài báo “bàn về khái niệm giá trị xã hội” (1909) đặt ra vấn đề không chỉ xác định giá trị của mỗi người mà còn phải tính đến giá trị xã hội – cái có lợi cho xã hội. cho xã hội. ông chỉ ra rằng sản xuất phải liên quan đến phân phối, và trong quan hệ với giá trị xã hội, giá trị xã hội phụ thuộc vào phân phối phúc lợi. mặt khác, giá trị xã hội bắt nguồn từ việc mỗi người muốn gì và nhận được bao nhiêu lợi ích. ở đây phải tính đến quy luật cung cầu, nhất là đối với nhu cầu thị trường, cả cá nhân và xã hội. Do đó, Schumpeter đã đưa ra thuật ngữ ban đầu – khái niệm – khái niệm về “giá trị xã hội”; định nghĩa các “giá trị” là “những thứ hữu ích”, “những điều đáng mơ ước” và “sự thích thú”; giá trị xã hội ảnh hưởng đến giá trị cá nhân, và ngược lại. phương pháp tiếp cận giá trị được áp dụng cho xã hội học và có ảnh hưởng đến quản trị xã hội, có thể coi đây là đóng góp của các giá trị đầu thế kỷ XX cho nhân loại.

Mặc dù ý tưởng về quyền lực tổ chức xã hội đã có từ lâu, nhưng chỉ gần đây, trong thập kỷ cuối của thế kỷ 20, thuật ngữ “vốn xã hội” mới trở nên phổ biến trong khoa học chính trị, xã hội học, giá trị học. học. cả trong nền kinh tế và đời sống nói chung. chủ đề này có nhiều tác giả quan tâm tìm hiểu, bắt đầu bằng r. putnam, giáo sư tại đại học harvard và f. Fukuyama, Giáo sư tại Đại học John Hopkins. “Vốn xã hội” theo putnam là giá trị tập thể của tất cả các mạng (hệ thống, tổ chức xã hội, mạng máy tính và xu hướng xã hội, nơi các thành viên cùng có lợi). Từ định nghĩa này có thể hiểu “giá trị xã hội” là “giá trị tập thể” do các thành viên tạo ra, các giá trị này cùng có lợi, chủ thể của giá trị là tập thể, nội hàm của “giá trị” có nghĩa là “chung”. Theo Fukuyama, “vốn xã hội” là những giá trị hoặc chuẩn mực được chia sẻ giúp cải thiện sự hợp tác xã hội, trực tiếp trong các mối quan hệ xã hội đương thời. Ông cũng nói về tác dụng tích cực của “vốn xã hội” trong sự phát triển thành công của xã hội. Ý kiến ​​này gần với giá trị học thuật Định nghĩa của Putnam giúp chúng ta hiểu rằng nói đến “vốn xã hội” là nói đến “giá trị xã hội” vì xã hội (cộng đồng) là chủ thể, nhấn mạnh sự đồng thuận của các thành viên về các giá trị để Như vậy, có sự gặp gỡ của phía xã hội và phía cá nhân trong các “giá trị”: tập thể (cộng đồng, xã hội, quốc gia) lựa chọn các giá trị, mỗi cá nhân tuân theo và sử dụng các giá trị trong cuộc sống của mình. Phải tính đến điều này, đặc biệt khi áp dụng phương pháp tiếp cận cá thể hoá Trong sản xuất, cũng như mọi hoạt động khác trong thế giới hiện đại, người ta rất chú trọng đến vai trò của mình. tài sản trong công việc vì lợi ích của bản thân, cộng đồng và xã hội, đồng thời hết sức quan tâm đến kỹ năng. Một yếu tố quan trọng tạo nên giá trị xã hội, như đã nói ở trên, là sự “chia sẻ” giữa các thành viên, tức là quan hệ giữa người với người (trong lịch sử Việt Nam gọi là “đoàn kết”), ngày nay gọi là “cộng đồng”, người Anh thường dùng từ “kết dính” (sự kết dính). đó là đặc điểm rất nổi bật ở con người, được củng cố và phát triển chủ yếu thông qua giáo dục (bao gồm cả tự giáo dục), tạo nên sức mạnh tinh thần, sức mạnh tâm lý. giá trị đó phần lớn thuộc phạm trù “tinh thần”. Để hiểu thêm về “giá trị xã hội”, đặc biệt là “giá trị” trong học thuật, cần hiểu “giá trị tinh thần” trong đó bao gồm “giá trị tâm lý”.

XEM THÊM:  Số đề 26 là con gì? Giải mã chính xác ý nghĩa số 26

iv / giá trị tinh thần

Cần hiểu sâu sắc khái niệm “giá trị tinh thần” vì “giá trị” trong học giá trị thuộc phạm trù tinh thần; tâm lý học và giáo dục học thuộc thế giới tâm linh. Ngoài ra, dân tộc ta có truyền thống coi trọng giá trị tinh thần – giá trị văn hóa, lịch sử và hiện nay họ đang lấy văn hóa làm cơ sở tinh thần của sự phát triển. Giá trị có thể chia thành hai nhóm: giá trị vật chất và giá trị tinh thần, giá trị vật chất là giá trị vốn có ở vật thể; giá trị kinh tế thường được xếp vào nhóm giá trị vật chất. giá trị tinh thần do con người và cộng đồng tạo ra thông qua trải nghiệm. ở người, như r. descartes (1596 – 1650) phân biệt, một bên là thể xác, một bên là tinh thần, tồn tại song song, thường được gọi là “thuyết nhị nguyên” – khái quát thành vấn đề “thế giới tâm thức” (tâm lý và thể xác). những giá trị này thiết yếu đối với đời sống con người và cộng đồng xã hội, cái này nối tiếp cái kia, cái này nằm trong cái kia, đôi khi thống nhất, đôi khi mâu thuẫn, nhưng nhìn chung vẫn tiếp tục. huyết mạch của con người và cộng đồng. giá trị trong học tập thuộc phạm trù giá trị tinh thần.

Để đi đến khái niệm giá trị tinh thần, cần phải hiểu tinh thần là gì. đây là một khái niệm phức tạp. Trong từ điển tiếng Việt, thuật ngữ tinh thần có ba nghĩa: 1) hoạt động tinh thần của con người bao gồm suy nghĩ, cảm giác, mong muốn; 2) ý thức đối với vật chất; 3) ý nghĩa sâu sắc và thực chất của nội dung. cần phải tham khảo ba ý nghĩa này, đặc biệt là ý nghĩa thứ ba, nhưng tất cả đều thông qua cơ chế kinh nghiệm.

trong từ điển bách khoa Việt Nam, tập 4 đề cập rõ hơn về ý nghĩa thông thường và ý nghĩa triết học của khái niệm tinh thần. tinh thần là phạm trù đối lập với vật chất, nó là phương thức tồn tại của vật thể được phản ánh trong tâm lý con người dưới dạng hình ảnh tình cảm và lý trí, tinh thần phản ánh và biến đổi hiện thực hoạt động vật chất, xã hội, lịch sử, văn hóa của con người và cộng đồng. Cách hiểu về tinh thần trong cả hai từ điển là cách hiểu duy vật biện chứng (nhưng không “đối lập”), khác với cách hiểu về tinh thần chỉ ở khía cạnh ý thức, như nhà triết học Đức vĩ đại G.W.F. hegel (1770-1831) đã nêu. Tuy nhiên, từ góc độ sư phạm, trong phạm vi phần này cần phản ánh những tư tưởng lớn của Hegel về phạm trù tinh thần. ví dụ đầu tiên là ý tưởng cho rằng psyche là một phạm trù con người và do con người tạo ra: các giá trị về hóa trị thuộc loại này. hegel cho rằng “tinh thần là điểm xuất phát của mọi hành động của mọi người như: mục đích, mục tiêu của mọi người, vì đó là cái tự thân của nó…”. được áp dụng cho việc học các giá trị, các dạng tồn tại của giá trị cá nhân hoặc cộng đồng được phân loại ở cấp độ tinh thần (chẳng hạn như thái độ đối với giá trị này hoặc giá trị khác, v.v.), gắn liền với mục tiêu và mục đích của hành vi, hành động, được kinh nghiệm của người mang những giá trị đó. Ý tưởng của Hegel cho rằng “tinh thần là đời sống đạo đức của một quốc gia hay dân tộc” rất có ý nghĩa khi đề cập đến các hệ thống giá trị quốc gia và dân tộc. Hegel cũng chỉ ra rằng đời sống đạo đức là tinh thần hiện thực, thực tại hiện thực, là những hình thức của toàn bộ thế giới (chứ không phải là những hình thức ý thức, nghĩa là cả trong lĩnh vực tư tưởng và lĩnh vực ý thức). tình cảm, ý chí) tức là tồn tại một thế giới tinh thần mà các ngành khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là tâm lý học và giáo dục học đã và đang nghiên cứu, có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của đất nước và thế giới của mỗi con người. Những ý tưởng này có ý nghĩa trực tiếp sâu sắc đối với việc học giá trị, tâm lý học giá trị, phương pháp sư phạm giá trị. Hegel cũng chỉ ra rằng tinh thần là thế giới của văn hóa và văn minh, và tinh thần có thể được hiểu là đồng nghĩa với văn hóa. Ý tưởng này có thể được áp dụng để xem xét các vấn đề về giá trị chung của các quốc gia và cá nhân. từ góc độ của mỗi người, Người cũng nêu rõ: tinh thần là thế giới hình thành, tức là giáo dục, tự nó đã nhập lại, đây là nội dung của cơ chế kinh nghiệm, cơ chế sáng tạo ra giá trị. ; tinh thần là “thế giới của niềm tin”, niềm tin là giá trị quan trọng nhất trong hệ thống giá trị.

XEM THÊM:  MPLS là gì? Khi nào MPLS được sử dụng

trong từ điển bách khoa toàn thư về các khoa học triết học, tập iii với nhan đề triết học về tâm trí, hegel viết: “nhận thức về tâm trí là một công việc cụ thể, do đó cũng là công việc cao nhất và khó nhất. tự tri … là biết bản chất trong con người, bản chất trong chính mình, – tức là nhận ra chính bản chất của bản thể là tinh thần “. Vận dụng luận điểm này vào việc xây dựng triết lý” tự định giá “là một vấn đề phức tạp, từ đó đến nay đã 200 năm trôi qua (1816 – 2015), mặc dù đã có một số tiến bộ trong nhận thức về thế giới tâm linh và ứng dụng của nó trong lĩnh vực xã hội, công việc, quản lý xã hội, đặc biệt là giáo dục, nhưng có vẫn còn nhiều vấn đề, ở nhiều chỗ, đôi khi thiếu tầm nhìn xa, quá chú trọng đến đời sống vật chất đơn thuần. thế kỷ, đầu thế kỷ XX trong tâm lý học và phân tâm học nói đến “cuộc sống” đời sống tâm lý ”, s. freud (1856 – 1938) thường dùng thuật ngữ“ đời sống tinh thần ”là bản chất – bản chất này được xác định bởi tổng các quan hệ xã hội. ales, như k viết. Marx trong luận án thứ sáu của mình về anh ta. feuerbach (1845), trong đó quan hệ kinh tế là cơ sở, con người phải sống trước, sau đó mới tính đến các cấp độ khác của thang giá trị. con người nói chung và các giá trị. cả trong khoa học và đời sống, khái niệm này là một môn học vô cùng phức tạp, có bề dày lịch sử, trước và sau hegel, nhiều học giả đã đề cập đến nó ở các mức độ khác nhau.

(còn tiếp)

th: t.giang – scdrc

nguồn tham khảo: pham minh hac – tìm hiểu giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý và giáo dục – ctqg editor 2015.

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Các khái niệm về giá trị – Phần III – CSCI INDOCHINA. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *