Giáo trình văn học thiếu nhi việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (396.84 KB, 30 trang )

Bạn đang xem:

3. TàI LIệU THAM KHảO3.1. Lã Bắc Lý, Văn học trẻ em, nxb Giáo dục, 2002.3.2. Trần Đức Ngôn – Dương Thu Hương, Văn học thiếu nhi Việt Nam, nxbGiáo dục, 1998. (Tài liệu bắt buộc).3.3. Vân Thanh, Phác thảo văn học thiếu nhi Việt Nam, nxb Khoa học xãhội, 1999. (Tài liệu bắt buộc).3.4.Vân Thanh, Văn học thiếu nhi như tôi được biết, nxb Kim Đồng, 2000.3.5. Vân Thanh – Nguyên An, Bách khoa thư văn học thiếu nhi Việt Nam,nxb Từ điển bách khoa, 2003.4. NộI DUNGTiểu chủ đề 1: Giới thiệu khái quát về văn học thiếu nhi (3 tiết)Hoạt động 1: Tìm hiểu khái niệm Văn học thiếu nhiThông tin cho hoạt động 1: Văn học thiếu nhi( VHTN) vốn là mộtkhái niệm (KN) gây nhiều tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu phê bình, giảngdạy văn học (VH) và các nhà văn, nhà thơ. Các nhà nghiên cứu, phê bình,giảng dạy VH cho rằng trong quá trình tiếp nhận VH, không cần phân biệtrạch ròi đối tượng tiếp nhận bằng cách chia đối tượng tiếp nhận thành hailoại người lớn và trẻ em, bởi vì người lớn và trẻ em đều thích những tácphẩm văn học hấp dẫn, có giá trị nghệ thuật cao. Trong khi đó các nhà văn,nhà thơ lại cho rằng rất cần có sự phân biệt đó, vì trong sự nghiệp sáng tácvăn học của mình, có nhiều nhà văn, nhà thơ đã dành trọn vẹn tâm huyết đểsáng tạo ra những tác phẩm dành riêng cho trẻ em. Hơn nữa , thực tế sángtác cho thấy có một đội ngũ đông đảo các nhà văn, nhà thơ , vừa sáng tác203cho người lớn, vừa sáng tác cho trẻ em. Trong ý thức của mỗi nhà văn , nhàthơ , việc sáng tác cho trẻ em có những yêu cầu đòi hỏi khác với việc sángtạo cho người lớn, cho nên tác phẩm văn học dành cho mỗi đói tượng chắcchắn cũng có những đặc điểm khác nhau.Để dung hoà các ý kiến tranh luận, năm 1992, các tác giả cuốn Từ điểnthuật ngữ văn học lần đầu tiên đã giới thiệu khái niệm VHTN như sau: Vănhọc thiếu nhi, theo nghĩa hẹp, là các tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoahọc dành riêng cho trẻ em, theo một phạm vi rộng, chỉ cả các tác phẩm vănhọc thông thường (cho người lớn) đã đi vào phạm vi đọc của trẻ em.Nhiệm vụ:+ Nhiệm vụ 1: đọc phần thông tin cơ bản.+ Nhiệm vụ 2: tìm hiểu xem khái niệm mà Từ điển cung cấp đã có đầyđủ ý nghĩa chưa.+ Nhiệm vụ 3: bổ sung thêm những thông tin cần thiết cho khái niệmđã nêu, nếu cảm thấy chưa đầy đủ.Đánh giá hoạt động 1: SV trả lời các câu hỏi và thực hiện các bài tậpsau:+ Nêu cách hiểu đầy đủ về khái niệm Văn học thiếu nhi.+ Một tác phẩm có các nhân vật là trẻ em đã có thể coi là tác phẩmVHTN chưa ?Hoạt động 2: Tìm hiểu quá trình phát triển và những thành tựu chínhcủa VHTN Việt Nam204Thông tin cho hoạt động 2: VH viết cho thiếu nhi thực sự hình thànhvới tư cách một bộ phận VH từ khi Nhà xuất bản Kim Đồng được thành lập(17 – 6 – 1957 ), nhưng trước đó đã có một số nhà văn quan tâm tới việc viếtvà dịch sách cho các em.Trước cách mạng tháng Tám: Các nhà văn của chúng ta thường dịchtruyện của các nhà văn Pháp như Thơ ngụ ngôn La Phông ten và Truyện cổPerô, hoặc cho xuất bản sách viết bằng tiếng Pháp như loại sách Livre dupetit ( Sách cho trẻ em ) để các em rèn tiếng Pháp qua truyện đọc. Ngoài racác nhà văn còn dành một số mục trên báo, hoặc một số tủ sách ở Nhà xuấtbản ( ví dụ như tủ sách Truyền bá của nhóm Tự lực văn đoàn) để đăngnhững tác phẩm văn học phục vụ trẻ em. Những tác phẩm này, ngoài giá trịgiải trí, còn đề cập đến cuộc sống của trẻ em nghèo hoặc góp phần giáo dụcnếp sống lành mạnh, giàu lí tưởng cho thiếu nhi. Ví dụ như Con mèo mắtngọc ( 1942) của Nam Cao; những truyện viết cho thiếu nhi của Tô Hoài,trong đó có Dế Mèn phiêu lưu kí ( 1941) đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trênthế giới ngay sau khi xuất bản lần đầu , một vài truyện thơ Nàng Bạch Tuyếtvà bảy Chú Lùn, Tấm Cám của Tú Mỡ…Trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ: Tờ Thiếu sinh – tiền thân củabáo Thiếu niên tiền phong đã được ra mắt từ 1946. Hàng năm, vào nhữngdịp Trung thu, Tết hay những dịp biểu dương, khen ngợi thiếu nhi, Bác Hồđều có thơ chúc tết, thơ khen cho các cháu. Sau đó xuất hiện một số sáchmang tên Kim Đồng của các nhà văn đang tham gia kháng chiến viết cho cácem như: Chiến sĩ canô của Nguyễn Huy Tưởng, Hoa Sơn của Tô Hoài, Dướichân cầu mây của Nguyên Hồng, Chú Giao làng Sen của Nguyễn Tuân. Nộidung chủ yếu của các cuốn sách này là nêu các tấm gương thiếu nhi dũng205cảm trong kháng chiến. Sách Kim Đồng là một sự gợi ý cho việc thành lậpNhà xuất bản Kim Đồng sau này.Sau khi hoà bình được lập lại: Vì mới ra đời, đội ngũ sáng tác vănhọc thiếu nhi của Nhà xuất bản Kim Đồng còn chưa được ổn định nên chủyếu truyện dịch và truyện cổ được in với số lượng lớn. Chỉ đến khi phátđộng phong trào viết về cuộc kháng chiến chống Pháp trong các nhà văn thìmới có một loạt tác phẩm có giá trị. Đứng đầu là các tác phẩm Đất rừngphương Nam ( 1957) của Đoàn Giỏi, Hai Làng Tà Pình và Động Hía (1958)của Bắc Thôn, Em bé bên bờ sông Lai Vu (1958 ) của Vũ Cao, Cái Thăng(1961) của Võ Quảng, Vừ A Dính (1963) của Tô Hoài… Những tác phẩmnày đã lấy nhân vật thiếu nhi làm trung tâm, miêu tả cuộc sống sinh hoạt,những đóng góp của các em vào công cuộc kháng chiến của dân tộc. Năm1960, Nguyễn Huy Tưởng đã cho ra đời hai truyện lịch sử xuất sắc: Lá cờthêu sáu chữ vàng và Kể chuyện Quang Trung. Như vậy, một đội ngũ cácnhà văn viết cho thiếu nhi đã hình thành.

Xem thêm:

Xem thêm:

Ngoài các tác giả, tác phẩm đã nêutrên, còn có rất nhiều tên tuổi khác. Về văn xuôi có Trần Thanh Địch với Tổtâm giao, Bùi Hiển với Đôi bạn nhỏ, Nguyễn Kiên với Chú đất nung, ĐứcLân với Kim Đồng, Kim Lân với Ông Cản Ngũ; Viết Linh và Phan Văn Đỗvới Bản thông cáo viết trên lá cây; Phong Nhã với các mẩu chuyện nhỏ (Câybách tán, Lo cho các cháu, Đôi giày làm bác ấm chân,Quả táo của Bác Hồ )viết về tình cảm giữa Bác Hồ và các cháu thiếu nhi, Nguyễn Đình Thi vớiCái tết của mèo con, Phạm Ngọc Toàn với truyện khoa học Lai Ka; BùiMinh Quốc với Những mẩu chuyện về bé Ly…..Về thơ có Vũ Ngọc Bình, Huy Cận , Nguyễn Bá Dậu, Bảo ĐịnhGiang, Thanh Hải, Tế Hanh, Phạm Hổ, Thái Hoàng Linh, Võ Quảng ,Nguyễn Xuân Sanh, Xuân Tửu…..206Vào năm 1961, Tuyển tập thơ văn cho thiếu nhi ( 1945 -1960) đượcra đời bởi Nhà xuất bản Văn học . Trong lời giới thiệu “Con đường pháttriển của phong trào sáng tác cho thiếu nhi”, nhà văn Tô Hoài có viết:”Tuyển tập này cũng là một cái nền, một cuốn lịch thì đúng hơn – từkháng chiến tới ngày nay xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, trong khimiền Nam còn chìm đắm, loạn lạc, đau thương. Trên nền thời gian và lịch sửấy đã nổi lên hình ảnh các em nhỏ của chúng ta hồn nhiên và cần cù, tươivui mà nhẫn nại chiến đấu, học tập và lao động. Khung cảnh và con ngườithiếu nhi Việt Nam thật trong sáng, tràn đầy đức tính lạc quan đáng yêu củacon em chúng ta “.Trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ: Hàng loạt tập truyện và thơđược xuất bản, đã khẳng định được bước tiến của văn học viết cho thiếu nhi.Tiêu biểu là Truyện viết cho thiếu nhi (1961) của Nguyễn Huy Tưởng, Haibàn tay chiến sĩ (Tuyển tập chọn lọc về đề tài kháng chiến chống Pháp),Dòng nước xiết ( Tập truyện ngắn và ký về đề tài miền Bắc chống Mĩ),Măng tre ( 1971), tập thơ của Võ Quảng. ở thời kỳ này, đề tài kháng chiếnchống Pháp tiếp tục được khai thác với những thành tựu mới. Tiêu biểu làĐội du kích thiếu niên Đình Bảng ( 1963) của Xuân Sách – viết về tập thểanh hùng nhỏ tuổi hoạt động trong lòng địch vùng Đình Bảng ( Bắc Ninh),Quê nội của Võ Quảng ( 1973) quay lại một thời kỳ xa hơn làm sống lạinhững ngày sau cách mạng tháng Tám, tràn đầy một tinh thần ngợi ca chế độmới đã đem lại sự đổi thay cho cả một vùng quê duyên hải miền Trung.Bên cạnh đó, đề tài chống Mĩ cũng đã được quan tâm kịp thời phùhợp với những bước đi của lịch sử. Các tác phẩm viết về đề tài này đã miêutả cuộc sống chiến đấu của thiếu niên trong vùng tạm chiếm và nêu bậcnhững gương anh hùng cho thiếu nhi học tập. Chủ yếu đó là những nhân vật207thật như những đứa con đảm đang, hiếu thảo của chị út Tịch trong Mẹ vắngnhà của Nguyễn Thị, dũng sĩ diệt Mĩ Hồ Văn Mên được vinh dự đi dự đạihội anh hùng và dũng sĩ diệt Mĩ toàn miền Nam, được chụp ảnh cùng bàNguyễn Thị Định trong cuốn truyện Hồ Văn Mên của Lâm Phương năm1969, em bé Cả Xên trong Chú bé Cả Xên (1963) của Minh Thoa.Đề tài lịch sử được tiếp nối sau Nguyễn Huy Tưởng là Sát Thát(1971) của Lê Vân và Nguyễn Bích, Bên bờ Thiên Mạc (1967), Trên sôngtruyền hịch (1973), Trăng nước Chương Dương của Hà Ân. Các tác phẩmđã dựng lại các sự kiện phức tạp của lịch sử trong những thời kỳ chốngngoại xâm và đã khắc hoạ thành công một số nhân vật lịch sử. Tuy nhiên ,các tác phẩm này còn nặng nề, chưa gây được nhiều hứng thú cho bạn đọcnhỏ tuổi.Nhìn chung, sách viết về truyền thống yêu nước chống ngoại xâm củadân tộc qua nhiều thời kỳ lịch sử đã miêu tả khá chân thật hình ảnh của cácem thiếu niên trưởng thành trong hoàn cảnh gay go ác liệt. Cuộc sống củacác nhân vật trong chiến đấu thường phong phú, sôi nổi, phù hợp với tính ưahoạt động, ưa phiêu lưu của các em, nên được các em yêu thích.Nhưng cuộc sống của các em không chỉ có chiến đấu mà còn có họctập, vui chơi , nhất là ở miền Bắc, khi những ngôi trường mọc nên khắp nơi,các em đều được đi học, được phấn đấu trở thành những chủ nhân tương laicủa đất nước. Việc phản ánh cuộc sống đó chiếm một phần không nhỏ trongsáng tác cho các em ở giai đoạn này. Nếu như đề tài về cuộc sống trẻ emtrước 1945 còn rất mờ nhạt, thì giờ đây cuộc sống ấy đã được khảng địnhqua những tác phẩm viết về nhà trường – đặc biệt là nhà trường trong nhữngnăm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ trên miền Bắc.ở đây các em208vừa học tập vừa lao động, đào hầm đắp luỹ, vừa đi sơ tán, vừa tải đạn, cứuthương…Đó là những tác phẩm Chú bé sợ toán (1965) của Hải Hồ, Năm thứnhất (1965) của Minh Giang, Trận trung kết (1975) của Khánh Hoà, Nhữngtia nắng đầu tiên ( 1971) của Lê Phương Liên, Hoa cỏ đắng của Nguyễn ThịNhư Trang, Mái trường thân yêu của Lê Khắc Hoan, Tập đoàn san hô (1966)của Phan Thị Thanh Tú.Những vui buồn dưới mái trường, tình bạn, kỷ niệm…. là hành trangkhông thể thiếu cùng các em vào đời.Học tập gắn liền với lao động, vì vậy cuộc sống lao động của các emcũng được miêu tả khá rõ nét trong những tác phẩm viết về đề tài nông thôn.Các em tham gia vào phong trào hợp tác hoá giúp cho việc cải tiến công cụ,tăng năng xuất lao động và mở rộng phạm vi của các ” Hợp tác xã măngnon” của mình. Nhiều tác phẩm khá hay đã xuất hiện như Cơn bão số 4 củaNguyễn Quỳnh, Làng cháy (1965)của Bùi Hiển, Xã viên mới (1965) củaMinh Giang, Những cô tiên áo nâu của Hoàng Anh Đường, Kể chuyện nôngthôn của Nguyễn Kiên.Sự phát triển mạnh mẽ của loại truyện về con người mới dưới nhiềudạng khác nhau là một sự kiện đáng chú ý trong văn học viết cho thiếu nhigiai đoạn này. Đó là sự hưởng ứng của các nhà văn đối với phong trào thiđua Nghìn việc tốt của các em. Có các loại sách khổ nhỏ, hoàn toàn ghi lạicác sự kiện, những con người một cách vắn tắt mà đầy đủ như các tập Việcnhỏ nghĩa lớn. Người ta đã thống kê được 16 tập như vậy, nhưng sau này, nóít được bạn đọc lưu tâm đến, bởi tính nghệ thuật không cao. Có loại sáchviết về người thực việc thực dưới dạng hư cấu ít hoặc nhiều, như Cô bê 20(1966) của Văn Biển theo thể đồng thoại. Người kể chuyện ở đây là một chú209Bê được anh Hồ Giáo – anh hùng lao động trên nông trường Ba Vì – hết lòngchăm sóc. Có loại là hồi ký như Lớn lên nhờ cách mạng của Phùng Thế Tài. Có loại tự truyện như Những tháng năm không quên ( 1970) củaNguyễn Ngọc Kí và truyện kể như Hoa Xuân Tứ (1967) của Quang Huy.Hai cuốn sách này đã nêu lên những tấm gương sáng về nghị lực, khắc phụchoàn cảnh tàn tật để vươn lên trở thành những con người có ích cho xã hội.Mảng sách khoa học được hình thành và phát triển nhờ vào sự đónggóp của những người làm công tác khoa học và các nhà văn chuyên một đềtài như Viết Linh với Ông than đá và Quả trứng vuông , Vũ Kim Dũng vớiCô Kiến trinh sát, Thế Dũng với Thảm xanh trên ruộng, Hoàng Bình Trọngvới Bí mật một khu rừng, Phan Ngọc Toàn với Đỉnh núi làng Ba….. tạo nênmột thời kỳ sung sức của thể loại này. Nhưng rất tiếc, cho đến nay chỉ cònduy nhất nhà văn Viết Linh đơn độc theo đuổi một đề tài mà vai trò và tácdụng của nó ngày càng lớn trước đòi hỏi của thời đại.Thơ cho thiếu nhi tiếp tục phát triển với những tên tuổi quen thuộc(trong số đó có những tác giả suốt đời chỉ chuyên viết cho trẻ em) vớinhững tập thơ mới như Chú bò tìm bạn (1970) của Phạm Hổ, Chồng nụchồng hoa ( 1971) của Định Hải, Mầm bé ( 1974) của Ngô Viết Dinh…..Từ khi đất nước thống nhất: Số lượng tác giả, tác phẩm viết chothiếu nhi ngày càng phát triển, đa dạng và phong phú. Cùng với sự ra đờicủa những tập sách nghiên cứu về văn học thiếu nhi như Truyện viết chothiếu nhi dưới chế độ mới (1982) của Vân Thanh, Đôi điều tâm đắc (1985)của Vũ Ngọc Bình … là sự xuất hiện các tờ tạp chí : Mực tím, Aó trắng, Hoahọc trò, Tuổi xanh, Vì trẻ thơ….bên cạnh những tờ báo truyền thống.Đề tài chống thực dân Pháp được hoàn thiện thêm với Tảng sáng(1977) của Võ Quảng và Dòng sông thơ ấu (1985) của Nguyễn Quang Sáng210

Chuyên mục:

    Hỗ trợ giải đáp




    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *