Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
93 lượt xem

Kể tóm tắt truyện kiều theo 3 phần

Bạn đang quan tâm đến Kể tóm tắt truyện kiều theo 3 phần phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Kể tóm tắt truyện kiều theo 3 phần

câu trả lời chuẩn nhất cho câu hỏi: “ kể tóm tắt truyện Kiều theo 3 phần của tác phẩm ” và phần mở rộng kiến ​​thức thú vị về một số bài văn mẫu về truyện Kiều của

strong> main document được biên soạn là tài liệu hay cho các em học sinh và quý thầy cô tham khảo

trả lời câu hỏi: tóm tắt câu chuyện thành ba phần của tác phẩm

a. phần đầu tiên: gặp gỡ và cam kết

Bạn đang xem: Kể tóm tắt truyện kiều theo 3 phần

Thủy kiều là một người con gái tài sắc vẹn toàn, là con gái đầu của một gia đình trung lưu lương thiện, sống trong cảnh “an cư lạc nghiệp” cùng cha mẹ và hai cô em gái là Thủy Vân và Thủy Vân. Vào ngày lễ hội Đáp Thánh, gần mộ Đạm Tiên, một hình ảnh chỉ về số phận oan trái tương lai của mình, Thúy Kiều gặp Kim Trọng. Trong một lần đi chơi xuân, Thúy Kiều đã gặp Kim Trọng, một chàng thư sinh có “một nhân cách lớn”. giữa hai người nảy nở một tình yêu đẹp, rồi hai người đính hôn.

b. phần thứ hai: thích nghi và phục hồi

kim trong về quê dẫn tang chú, gia đình oan gia trái chủ, nàng bán mình làm mã sinh để cứu cha, nhờ thủy chung trả nghĩa cho kim trong. thủy kiều bị mã sinh, tu ba, sở khanh lừa gạt, đẩy xuống lầu xanh. Thúy Kiều sau đó được chú chuộc tội nhưng bị vợ là thái giám ghen tuông tàn nhẫn khiến Thúy Kiều bị dày vò cả về thể xác lẫn tinh thần. Việt kiều về nương náu trong sự giác ngộ của sư thầy nơi cửa Phật. Sợ bị liên lụy, nàng cho bạc của nàng, không ngờ bạc của nàng lại lừa bán cho chủ nhà lầu xanh. tại đây, thủy kiều gặp tu hải, vị anh hùng “đầu đội trời, chân đạp đất”, tu hải đã giúp thủy kiều trả ơn. vì bị hồ ly lừa, de hai bị giết chết, thủy chung bị ép lấy quýt. Thúy Kiều đau đớn chết đuối trên sông Tiền Đường và được nhà sư cứu giúp lần thứ hai. lần thứ hai kiều bào nương nhờ cửa phật.

c. phần ba: cuộc họp

Kim trong sau nửa năm để tang, người chú quay về tìm Việt kiều, biết tin bán mình cứu cha, nỗi thống khổ khôn nguôi. Theo lời khuyên của Kiều, cha mẹ Kiều đã cho Thúy Vân lấy Kim Trọng. Dù đã kết duyên với Thúy Vân nhưng Kim Trọng vẫn gắn bó tình yêu với Kiều, dày công tìm kiếm và gặp được Thúy Kiều, gia đình đoàn tụ. trong ngày vui sum họp, để bảo vệ “danh phận” và tri ân người yêu, chàng trai xa xứ đã biến tình yêu đôi lứa thành tình bạn, nhưng cả hai đều mong muốn “duyên đôi cũng là duyên của tình bạn”.

với các tài liệu chính, hãy tìm hiểu thêm các bài văn mẫu về truyện kiều!

mở rộng kiến ​​thức về một số bài văn mẫu về truyện người thương

1. lược đồ

a. giới thiệu:

– Truyện Kiều là một trong những tác phẩm thơ văn nổi tiếng nhất của văn học trung đại Việt Nam.

– một trong những đoạn trích hay, với nét thư pháp đặc sắc miêu tả cảnh ngụ ngôn, thường được Nguyễn Du sử dụng một cách tinh tế trong thơ của mình là đoạn trích Kiều bên lầu cầu.

– Đặc biệt ở 8 dòng cuối của bài thơ, nỗi buồn của người đàn bà xa xứ được thể hiện trực tiếp và mạnh mẽ qua những cảnh tưởng như vô tình nhưng lại có ý hàm ý về tâm tư, cuộc đời và số phận của cô gái nghèo xa xứ.

b. nội dung:

* hoàn cảnh:

– sau khi chuyển thế, kiều bị mã học lừa rồi lạc vào lầu xanh. kiều không muốn tiếp khách, nhiều lần muốn tự tử nên bị quản thúc.

– Nơi đây mỗi ngày, những người Việt Nam ở nước ngoài ôm nỗi buồn, mong ngóng gia đình và cảm thấy thương cho chính mình.

* phân tích:

“Chiều buồn nhìn cánh cửa tan nát,

có thể nhìn thấy con tàu của ai ở đằng xa ”

+ nỗi buồn cô đơn, thân phận trôi không biết trôi về đâu.

+ nhớ nhà, nhớ gia đình.

“buồn khi thấy nước mới chảy ra

Những bông hoa trôi nổi và không biết chúng sẽ đi đâu ”

+ ngậm ngùi về trạng thái trôi nổi, hoang mang, lo lắng không biết trôi về đâu

“buồn trông buồn

tầng mây trên mặt đất có màu xanh lục lam ”

+ chán nản, ràng buộc với những khung cảnh buồn tẻ, không thay đổi, dẫn đến tâm trạng trì trệ không lối thoát.

“buồn khi nhìn gió thổi vào mặt mình

âm thanh tròn của sóng xung quanh ghế ngồi ”

+ sóng gió trong lòng người ngoại quốc, đồng thời là những điềm báo xấu về sóng gió ập đến trong đời khiến kiều bào vô cùng lo lắng, sợ hãi.

c. kết bài: toàn bộ bài thơ 8 câu như một bức tranh thủy mặc về tâm trạng người kiều, lối viết độc đáo về ngụ ngôn, với nghệ thuật điệp ngữ, câu hỏi tu từ và ngôn từ tinh tế. , nguyen du đã miêu tả sâu sắc sự thay đổi tâm trạng của người phụ nữ xa xứ.

2. một số bài văn mẫu

bài luận mẫu 1:

Truyện Kiều là một trong những kiệt tác chính của văn học dân tộc mọi thời đại, là tác phẩm kết tinh nhiều giá trị vĩnh hằng. Truyện do Nguyễn Du, đại thi hào của dân tộc sáng tác.

nguyen du đã vẽ lại câu chuyện về thanh tam, triều đại nhà Thanh ở Trung Quốc của kim văn kiều để tạo ra câu chuyện về kiều. truyện gồm 3.254 câu thơ lục bát, là kiệt tác số một của nền thơ ca cổ điển Việt Nam.

cốt truyện xoay quanh câu chuyện của một gia đình sống trong triều đại ming ở Trung Quốc. Thuở ấy, có một hoàng tộc sinh được ba người con trai: Thuý Kiều, Thuý Vân và Vương Quan. hai chị em có nhan sắc tuyệt trần, đặc biệt là Việt kiều có tài vẽ tranh, hát và ngâm thơ. Vào dịp lễ hội Đáp Thành, ba chị em ngoại quốc đi chơi xuân đã gặp được văn nhân Kim Trọng. kim – kiều “tình trong như đã ngoài còn e”. kim trong tìm gặp nhau ở nước ngoài, nhờ cành kim mà hai người đã thề non hẹn biển, dưới trăng đã thề: “trăm năm tạc một chữ đồng thấu xương”. khi trở về dương liễu phụng dưỡng chú ruột thì kiều gia gặp tai họa, việt kiều phải bán đứng phò mã để lấy tiền chuộc cha. cô ấy đưa bùa hộ mệnh của mình cho thuy van và sau đó theo họ trở lại lam trai. Kiều bị sở lừa, bị tú bà làm nhục để vào lầu xanh lần đầu. Việt kiều được chuộc về làm vợ lẽ. thư ghen tị Việt kiều thoát khỏi nhà hoạn quan, rơi vào tay một người phụ bạc, xui xẻo. kiều vào lầu xanh lần thứ hai ở châu thái. Việt kiều được chuộc biển, lấy biển về làm phu nhân. trả thù ở nước ngoài trả thù. Hải ngoại và Hải Việt bị đánh lừa bởi hồ thờ. de hai bị giết, kiều bị cưỡng đoạt đất trồng quýt, nhảy xuống sông tiền đường tự tử, nhưng được cứu và trở thành nhà sư.

Kể tóm tắt truyện Kiều theo 3 phần của tác phẩm

kim trong trở lại sở thú và kết hôn với thuy van. Kim Trọng và thái tử thi đỗ được phong làm quan Tư đồ. cả gia đình sống trong tiền đồ tang gia, may mắn được nhiều phúc lộc, đi chùa ở nước ngoài xuất gia. Kiều được đoàn tụ với cha mẹ, hai anh em Kim sau 15 năm xa cách.

câu chuyện có giá trị nội dung sâu sắc. đó là giá trị tố cáo hiện thực, lên án xã hội phong kiến ​​thối nát, những thế lực đen tối tàn ác, dã man chà đạp lên quyền sống, quyền hạnh phúc của con người như bọn quan lại thối nát, bọn buôn thịt bán người, bọn ma cô độc ác; lên án mặt xấu của đồng tiền…

Giá trị nhân đạo của truyện thể hiện ở sự thương xót nỗi khổ của những con người mất đi tài năng, thể hiện ước mơ hạnh phúc, tự do và công lý, bảo vệ quyền sống của con người …

nguyễn du còn thể hiện nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo, tạo nên những mẫu người có tính cách điển hình là cái đẹp, cái xấu, cái du nhập, cái ác … trong xã hội phong kiến ​​suy vi. hơn nữa, nghe lời kể hấp dẫn, xúc động, nó tạo ra những tình huống, những bi kịch. miêu tả, đôi khi miêu tả cảnh ngụ ngôn, đôi khi đối thoại, câu chuyện của cô gái ở nước ngoài kéo dài hơn ba nghìn dòng liên tục.

Trong ngôn ngữ thơ, Nguyễn Du đã kết hợp nhuần nhuyễn tiếng Ba (nghiên cứu, sử dụng các điển tích, văn thơ của văn học cổ Trung Quốc với ca dao, tục ngữ, thành ngữ, v.v.) thành một ngôn ngữ. ngôn ngữ văn học trong sáng, trau chuốt, mềm mại, mẫu mực. Cho đến nay, chưa có nhà thơ Việt Nam nào viết được bài thơ trên ba nghìn câu hay như Nguyễn du Truyện Kiều, xứng danh là “ngôn tình như lời ru của mẹ”.

Truyện kiều đã được nhiều độc giả trong và ngoài nước biết đến, được xếp vào danh sách những tác phẩm còn sống mãi với thời gian và tên tuổi của nguyễn du nên không còn giới hạn trong nước.

/ p>

bài luận ví dụ 2:

trong buổi hẹn hò của chị em nguyen du thuy, chúng ta không chỉ thấy một cô gái ngoại quốc có nhan sắc xinh đẹp. nhưng qua những câu thơ hóm hỉnh của tác giả, ta còn thấy chị là một người tài hoa, giàu nội tâm và vẻ đẹp nội tâm sâu sắc. nguyễn du đã sử dụng những bài thơ tuyệt vời về vẻ đẹp của thủy kiều:

“Kieu cay và mặn hơn

so với tài năng thì hơn

Xem thêm: Phân tích 8 câu cuối trao duyên truyện kiều

ngõ mùa thu, bức tranh xuân

hoa ghen thua liễu, liễu hờn kém xanh. ”

Gương mặt không được phác họa chi tiết và đầy đặn như Thúy Vân, nhưng chỉ qua đôi mắt đẹp, người đọc mới cảm nhận được hết vẻ đẹp diệu kỳ của nàng. đó cũng là tài năng của nguyễn du. tác giả tiếp tục sử dụng bút pháp ước lệ để miêu tả vẻ đẹp của nàng Thuý kiều: “Thu thuỷ, đặc sắc xuân sơn”, đôi mắt nàng mới đẹp làm sao, đó là một đôi mắt sáng và trong như nước. rơi. lông mày mỏng và dài như núi mùa xuân. đôi mắt ấy còn gợi lên một thế giới nội tâm vô cùng đa dạng và phong phú, đó là một tâm hồn nhạy cảm và tinh tế.

XEM THÊM:  Phân tích giá trị hiện thực của truyện kiều

nàng đẹp hơn thiên nhiên, hơn thiên nhiên, sắc vóc mặn mà “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”. các từ ghen tị và đố kỵ thể hiện thái độ nhẫn tâm và phẫn nộ của thiên nhiên. từ đó nó cũng ngầm chỉ ra cuộc đời đầy sóng gió và biến động của anh sau này. Kiều nữ không chỉ có nhan sắc xinh đẹp mà tài năng xưa nay hiếm:

“thông minh vốn dĩ là thần thánh

pha trộn nghệ thuật hội họa với mùi hương của những bài hát ”

tài năng của ông đã đạt đến mức lý tưởng theo quan niệm thẩm mỹ phong kiến ​​“cầm, tra, khảo, sơn” là ở đỉnh cao. trong số những tài năng đó, nổi bật nhất là tài năng âm nhạc của anh, nó đã trở thành sở trường đặc biệt của anh, không ai có thể sánh bằng “nghề riêng ăn mày”. tài năng của người con gái này không được thể hiện trong đoạn trích mà đã được cụ Nguyễn du nói ở chỗ khác: “cung trăng, nguyệt động, dưới hoa”. những ca khúc do anh sáng tác luôn mang một nỗi buồn man mác, da diết, gây được sự đồng cảm và chạm đến trái tim mọi người.

Dường như từ khi có nhạc phẩm người con gái không vướng bụi trần luôn được bao bọc, che chở nhưng lại gợi nhớ đến nỗi sầu muộn của những người phụ nữ bạc mệnh. những bài hát đó cũng là một dự báo về cuộc đời của chính anh. Ngẫm lại cuộc đời trải qua bao gian khó, Kiều cũng thừa nhận:

“bất kể bài hát này là gì

phổ biến trong nhóm đó khi còn nhỏ

chọn ngày xưa

và tấm gương của số phận hiện đang ở đây ”

nguyen du đã đủ tử tế để miêu tả chân dung của thủy kiều. Bà hiện lên qua những vần thơ không chỉ đẹp về nhan sắc mà còn hiểu biết về trí tuệ và tinh thần. nàng là đại diện tiêu biểu cho số phận người phụ nữ trong xã hội xưa, có nhan sắc, trí tuệ nhưng phải chịu đòn roi của cuộc đời và xã hội phong kiến. ông xót xa cho số phận của mình, để rồi trong suốt bài thơ, hơn một lần nguyễn du phải thốt lên: “mặt đỏ có thói hờn ghen”. người bạn cũng thương hại cuộc sống của cô ấy và viết:

“Tôi thấy tiếc cho người Việt Nam ở nước ngoài là lẽ sống của dân tộc

tại sao bạn lại tài năng đến vậy?

Bức tranh chân dung Thúy Kiều chủ yếu thông qua ước lệ tượng trưng, ​​lấy thiên nhiên để miêu tả vẻ đẹp con người. nhưng vẻ đẹp của cô ấy vượt xa những tiêu chuẩn đó. thể hiện vẻ đẹp của tạo hóa. sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, giàu giá trị biểu cảm: ghen, hờn, đanh đá, mặn mà,… càng làm nổi bật vẻ đẹp của thủy chung.

Đoạn trích thể hiện ngòi bút tinh tế, tài hoa của Nguyễn Du, nói lên tài năng nghệ thuật số một của ông, quả là “thiên tài tuyệt thế”. Việc tả Kiều không nhằm tả dáng người mà nhằm làm nổi bật vẻ đẹp và trí tuệ của nàng. những bài thơ về kiều cũng dự báo một số phận thất thường, một cuộc đời đầy trắc trở. như vậy cũng thể hiện sự trân trọng của nguyễn du đối với vẻ đẹp của người phụ nữ.

Ví dụ tiểu luận 3:

đoạn trích dẫn từ sàn nhà chung cư nằm trong phần thứ hai của “tạo điều kiện và tham vọng”. Sau khi biết mình bị lừa vào lầu xanh, Kiều cay cú và quyết định tự tử. Cô nương sợ mất tài sản quý giá nên tìm mọi cách khuyên nhủ, dụ dỗ. anh giả vờ chăm sóc cô, uống thuốc, hứa khi cô khỏi bệnh sẽ cưới một người tử tế. Sau đó, người đàn bà nham hiểm này đưa Kiều về nhà quản thúc, chờ âm mưu mới thực hiện. 8 câu thơ cuối của đoạn trích “Kiều bên lầu cầu” là bức tranh tâm trạng đau đớn, tuyệt vọng của nàng Thuý khi mới bước vào đời.

Đoạn trích được đặt giữa hai sự kiện đau buồn. Đây là những sự kiện giúp chúng tôi hiểu được những cú sốc và lo lắng về tương lai của người con xa xứ. Đầu tường, Kiều không khỏi xót xa. cô nghĩ về thân phận của mình như một bông hoa trôi nổi và trái tim cô chìm xuống. còn nhớ vàng, nhớ đêm cay đắng uống rượu thề thốt. thấy kim loại nặng trong sáng chờ được mòn. rồi anh thương cha mẹ ngày đêm chờ đợi. cha mẹ già neo đơn, không có ai bên cạnh mà đau lòng. càng nghĩ, anh càng cảm thấy đau đớn và tuyệt vọng. tìm kiếm sự giúp đỡ xung quanh. tuy nhiên, bạn càng đợi lâu, nó càng trở nên xa vời và tăm tối:

“Chiều buồn nhìn ra cửa bể bơi

có thể nhìn thấy con tàu của ai ở đằng xa

buồn khi thấy nước mới đến

bông hoa trôi biết nó sẽ đi đâu

buồn trông buồn

mây trên mặt đất có màu xanh lam

buồn khi nhìn gió thổi vào mặt mình

tiếng sóng vỗ xung quanh ghế ngồi

Đoạn thơ được coi là những dòng đặc sắc của tác phẩm truyện kiều. Nguyễn du không chỉ gợi nỗi buồn trong lòng người mà còn thể hiện chính xác. phương pháp đặc tả nội tâm đạt đến trình độ của phép biện chứng tinh thần. Chỉ với 8 dòng từ sáu câu lục bát, thiên tài họ Nguyễn đã tạo nên bốn tấm bảng tâm trạng độc đáo. mỗi hình ảnh là một ẩn dụ về trạng thái tâm lý của kiều khi bị giam giữ dưới tầng hầm.

đầu mỗi hình ảnh là thông điệp liên tục “buồn trông”. cụm từ đó được lặp lại 4 lần tạo nên âm hưởng trầm buồn. “buồn trông” trở thành điệp khúc thể hiện nỗi buồn đang dâng trào trong lòng người Việt hải ngoại. cảnh vật thiên nhiên qua con mắt kiều gợi một nỗi buồn man mác.

bóng tối ảm đạm của hoàng hôn nhuộm tím toàn bộ bức tranh. không gian bao la, thời gian như tan biến khiến người đọc cảm nhận được nỗi buồn tầng tầng lớp lớp trong lòng cô gái cô đơn, lạc lõng nơi đất khách quê người:

“Chiều buồn nhìn ra cửa bể bơi

có thể nhìn thấy con tàu của ai ở đằng xa ”

ngọn nến vụt tắt, đôi khi ẩn hiện nơi cổng hồ trong buổi chiều tà gợi lên một hành trình lạc vào bóng tối, không biết đâu là bến bờ. sức biểu cảm của từ lá đã được nguyễn du khai thác triệt để. nó thể hiện một hình ảnh thiên nhiên đơn điệu, tẻ nhạt và ghi lại những cung bậc cảm xúc của con người trước cảnh vật. phong cảnh mở ra với cảnh biển vào buổi chiều tà. những ngọn nến lơ lửng ở phía xa, có khi ẩn, có khi hiện rõ. nhìn những cánh buồm trên biển xa, Thúy kiều như muốn theo mẹ về với gia đình.

Con tàu từ lâu đã được coi là sợi dây kết nối giữa những người phương xa với gia đình, quê hương. nó giống như niềm hy vọng, niềm mong mỏi được gặp lại cha mẹ và các em mà cô bé Thủy hằng đêm mong mỏi. nhưng càng hy vọng thì dường như càng xa vời. Nguyễn du đã thể hiện một cách khéo léo sự chán chường, bất lực của thủy chung trước nghịch cảnh. Ở hình ảnh thứ hai, Nguyễn Du đã dựng nên cảnh non nước với hoa trôi. cảnh tượng được nhìn thấy với đôi mắt đau khổ khủng khiếp:

buồn khi thấy nước mới đến

những bông hoa trôi đi đâu?

Trong dòng nước mênh mông, những cánh hoa lững lờ đung đưa, trôi lững lờ chẳng biết trôi về đâu. dòng nước đó là dòng đời luôn biến đổi. những cánh hoa trôi trong dòng nước lưu luyến tươi tắn gợi lên thân phận nhỏ bé và mong manh, trôi trong dòng đời vô định, chẳng biết đi về đâu. phận hoa cũng như kiếp người xa xứ. bạn càng nghĩ về nó, nó càng trở nên đáng sợ hơn.

Nếu bạn rơi vào cạm bẫy của cuộc sống giả tạo, điều đó không sao cả. đến nỗi bây giờ anh không biết cuộc đời mình sẽ đi về đâu. rồi số phận của một cô gái lâu năm, một thiếu gia quý tộc cũng sẽ bị cuộc đời vùi dập. Những câu hỏi tu từ như chạm vào sâu thẳm trái tim người đọc. Qua cách tạo dựng hình tượng này, Nguyễn Du muốn nói với chúng ta rằng Kiều đang rất lo lắng, trăn trở cho tương lai của mình. Đó là một tương lai không chắc chắn, bạn càng nghĩ về nó, nó càng đen tối. bạn càng nhìn xa, nó càng mờ. dưới con mắt của thủy chung, mọi thứ dường như mờ ảo, tan biển cả, ẩn chứa bao điều nghi ngờ, bí mật:

buồn trông buồn

mây trên mặt đất có màu xanh lam

cỏ nội “buồn” nhuốm đau thương lan tỏa dưới chân mây trên mặt đất gợi lên một kiếp người héo hon, bi thương và vô vọng kéo dài vô định. màu cỏ héo úa như sắp héo tàn như sắp từ biệt vũ trụ, kết thúc cuộc đời ngắn ngủi. màu cỏ cũng là linh hồn của thủy chung đang héo mòn, chết mòn, chán đời. Tâm trạng Thúy Kiều rơi vào trạng thái hoang mang, đầu óc vô cùng hỗn loạn, đi đâu cũng có vẻ tuyệt vọng. trong hình ảnh cuối cùng, có một cảnh sóng biển. sóng biển cuộn trào, cả lớp như muốn nhấn chìm mọi thứ, nhấn chìm cô bé tội nghiệp:

buồn khi nhìn gió thổi vào mặt mình

tiếng sóng vỗ xung quanh ghế ngồi

hình ảnh “gió cuốn mặt người” và tiếng sóng ầm ầm “vỡ bờ ngồi” gợi lên tâm trạng hoang mang, sợ hãi của thủy chung. cô tuyệt vọng trong nghịch cảnh trớ trêu của mình. nó dường như đoán trước những khó khăn, giống như vẽ ra con đường gian nan mà anh ta sẽ phải đi. chỉ sau giây phút này, những giông tố của số phận sẽ nảy sinh, xô đẩy và đè bẹp cuộc sống ở nước ngoài. Với những nét vẽ ấy, Nguyễn Du đã lột tả một cách mạnh mẽ sự hoang mang, mất phương hướng trong tâm hồn của nàng Kiều. nữ hoàng hoàn toàn tuyệt vọng với cuộc sống khó khăn. đã cầu cứu hàng trăm địa chỉ, nhưng không thể làm gì được.

XEM THÊM:  10 cuốn sách bán chạy nhất của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh - VnExpress Giải trí

Xem thêm: Tính chất hóa học của Phi kim, ví dụ và bài tập – hóa lớp 9

độc đáo nhất, khi nguyễn du sắp xếp các bức tranh hài hước theo thứ tự tăng dần. từ cảm giác bâng khuâng trước biển, đến suy nghĩ về tương lai bồng bềnh và bất định của đời người con gái. tiếp theo là sự tuyệt vọng khi đối mặt với nghịch cảnh tăm tối và trì trệ. cuối cùng, anh ta rơi vào trạng thái hoang tưởng, đau đớn tột cùng và sợ hãi. bằng nghệ thuật ẩn dụ, hệ thống câu hỏi tu từ, các điệp từ “thụy”, “xa”, “man rợ”, “buồn”, “xanh”, “gầm”… góp phần làm nổi bật. làm bật lên nỗi buồn nhiều phía trong tâm trạng ở nước ngoài. tác giả dùng ngoại cảnh để diễn tả tâm trạng.

Cảnh được hiển thị từ xa đến gần. màu từ nhạt đến đậm. âm thanh từ tĩnh sang động. nỗi buồn trải dài từ hưng cảm, không chắc chắn đến lo lắng và sợ hãi, đến cơn bão nội bộ, đỉnh điểm của cảm xúc ở nước ngoài. nó là hình ảnh của sự không xác định. những thứ dễ vỡ và trôi. lòng người quay cuồng dữ dội. cuối cùng hoàn toàn trì trệ, tuyệt vọng cho đến phút cuối cùng. Giờ phút này, Kiều bất lực, đầu hàng trước hiện thực phũ phàng. do đó, anh đã lừa dối bộ phận một cách ngây thơ và sau đó dấn thân vào một cuộc sống đáng xấu hổ.

8 dòng cuối của đoạn trích “kiều bên lầu cầu” diễn tả tâm trạng cô đơn, buồn tủi, đau khổ của nàng kiều. Nguyễn du đã rất thành công trong việc vận dụng miêu tả tâm lí hết sức tinh tế, chân thực và sinh động. tấm lòng thủy chung cũng là tâm trạng của tác giả trước sóng gió cuộc đời. đôi khi anh ấy cũng bế tắc và tuyệt vọng như chính nhân vật của mình vậy.

bài luận ví dụ 4:

Thể thơ lục bát là thể thơ truyền thống của dân tộc. thể thơ ấy không chỉ thể hiện tài năng của tác giả mà còn thể hiện cái hồn của tiếng Việt. nhà thơ nguyễn du đã chọn thể thơ lục bát khi viết sử kiều, ông đã làm được cả hai điều trên. truyện kiều đã trở thành áng văn thơ bất hủ của mọi thời đại. 8 câu thơ cuối của mảnh kiều trên lầu cầu cũng đủ cho ta thấy tài năng tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du. Cho đến thời điểm hiện tại, có lẽ chưa ai làm được điều này tốt như bạn.

Thuỵ kiều được miêu tả là một người “có tài thì cầu ắt có tài”, nhưng “tài đi liền với một chữ”. những năm tháng “ngọt ngào và rèm cửa” nhanh chóng qua đi, thay vào đó là những năm tháng bi thương, bắt đầu bằng chuỗi ngày sống trong tầng hầm:

buồn bã nhìn cánh cửa tan nát trong buổi chiều tà

có thể nhìn thấy con tàu của ai ở đằng xa

buồn khi thấy nước mới đến

bông hoa trôi biết nó sẽ đi đâu

buồn trông buồn

mây trên mặt đất có màu xanh lam

buồn khi nhìn gió thổi vào mặt mình

tiếng sóng vỗ xung quanh ghế ngồi

Đây có lẽ là một giai đoạn khó khăn đối với Thủy kiều khi cuộc sống đã hoàn toàn thay đổi. Những ngày đầu chung sống, chàng Việt kiều yêu bản thân, yêu gia đình, yêu thích câu chuyện tình yêu chớm nở nhưng vội vàng chia tay. trái tim anh đau đớn như địa ngục và điều đó làm cho xung quanh trông u ám.

Trong 8 câu cuối này, hai từ “buồn trông” được lặp lại bốn lần. Có thể thấy lúc này Kiều không còn ai để tin tưởng ngoài chính mình. cô hy vọng rằng thiên nhiên tươi đẹp sẽ mang đến cho cô điều gì đó khiến cô vui vẻ nhưng không, với đôi mắt “u buồn”, cô không thể nhìn thấy những điều tốt đẹp.

<3

buồn bã nhìn cánh cửa tan nát trong buổi chiều tà

có thể nhìn thấy con tàu của ai ở đằng xa

buổi chiều hôm đó là lúc toàn cảnh trở nên ảm đạm. cộng với việc ngắm nhìn thủy kiều từ chỗ vắng vẻ của cổng bể càng làm tăng thêm sự nhỏ bé, cô đơn của thủy kiều. Tôi cảm thấy có lỗi với cô gái. cô ấy tìm kiếm cho mình một chút hiện diện của cuộc sống như một mong muốn giảm bớt sự cô đơn của mình:

có thể nhìn thấy con tàu của ai ở đằng xa

có thuyền, phải có người. nhưng cuộc sống ấy quá xa vời, không đủ khỏa lấp nỗi cô đơn của thủy chung. hai chữ “xa dần” chỉ càng làm tăng thêm cảm giác cô đơn. không níu được những cánh buồm xa xa, thủy chung hướng đôi mắt buồn xuống nước:

buồn khi thấy nước mới đến

những bông hoa trôi đi đâu?

cụm từ hoa trôi khiến chúng ta liên tưởng đến bèo nổi. bèo tấm thường được so sánh với thân phận người phụ nữ. những bông hoa đi đâu? cuộc sống của thuy kiều sẽ đi về đâu trong tương lai? thuy kiều đặt câu hỏi về những cánh hoa, nhưng cũng đặt câu hỏi về cuộc sống của chính mình. câu hỏi không có câu trả lời. đi đâu? thuy kieu khong biet. một cánh hoa trôi trong nước lạnh, cô đơn như mặt nước của thực tại. kieu lại nhìn xuống đất:

buồn trông buồn

mây trên mặt đất có màu xanh lam

Cỏ xanh không còn đáng sợ như ngày tết mà giờ đã trở nên u buồn như tâm trạng của con người. Phải chăng ngọn cỏ cũng hiểu được tâm trạng của kiều? nỗi buồn xâm chiếm cảnh vật xung quanh. Kiêu nhìn xa đến chân mây rồi lại gần mặt đất, nhưng khắp nơi chỉ thấy một màu xanh biếc. đó là màu xanh xám buồn của buổi chiều, không phải màu xanh của sự sống vào mùa xuân.

Chính vẻ u buồn của thủy chung đã nhuộm màu xanh biếc của cảnh vật trong tòa nhà. trong khung cảnh ấy chỉ có thủy chung với nỗi cô đơn, buồn tủi trong lòng. anh bận rộn tìm kiếm dư âm của cuộc sống, nhưng không, tất cả những gì anh nhận được chỉ là âm thanh của thiên nhiên:

buồn khi nhìn gió thổi vào mặt mình

tiếng sóng vỗ xung quanh ghế ngồi

Sự lựa chọn từ ngữ của nguyen du rất tinh tế. tất cả đều nhằm nói về trạng thái nổi của thủy kiều. tiếng sóng vỗ đây là tiếng lòng thủy chung. điều đó đủ cho chúng ta thấy trái tim anh ấy đang bị giằng xé dữ dội như thế nào. tiếng sóng không phá vỡ không gian tĩnh lặng của không gian mà xoáy sâu vào tâm trạng đau thương của kiều. điều đó thật đau đớn, nhưng khi bạn cần ai đó bên cạnh mình nhất, bạn chỉ có thể tìm thấy niềm an ủi trong tự nhiên.

Đoạn thơ 8 câu đã nói lên trọn vẹn tình cảm của bà ngoại khi ở thế chân tường. Hơn nữa, đoạn thơ thể hiện tài năng nghệ thuật bậc thầy của Nguyễn Du trong việc tả cảnh và ngụ tình. khép lại bài thơ nhưng hình ảnh và dư âm của nó sẽ còn mãi trong tâm trí người đọc.

qua tám câu cuối của đoạn trích “kiều trên lầu cầu”, nguyễn du đã gián tiếp miêu tả tâm trạng của kiều bằng một phong cách thơ rất đặc sắc:

buồn bã nhìn cánh cửa tan nát trong buổi chiều tà

có thể nhìn thấy con tàu của ai ở đằng xa

buồn khi thấy nước mới đến

bông hoa trôi biết nó sẽ đi đâu

buồn trông buồn

mây trên mặt đất có màu xanh lam

buồn khi nhìn gió thổi vào mặt mình

tiếng sóng vỗ xung quanh ghế ngồi

Hình ảnh cánh buồm chao liệng trên đại dương bao la trong buổi chiều tà gợi lên không gian xa xăm của quê mẹ, không khí êm đềm, từ đó thể hiện rõ nỗi nhớ quê hương trong lòng người Việt Nam ở nước ngoài. còn hình ảnh “hoa nổi” là hình ảnh hiện thực của những bông hoa trôi lênh đênh, bấp bênh trên mặt nước, bị sóng đánh xô đẩy nên thể hiện tâm trạng buồn và những linh cảm tinh tế. Tương lai của Thủy Kiều không biết sẽ đi về đâu?

ôi, những cánh hoa mỏng manh như nâng cằm, ôm nỗi lo của một số phận bất trắc trên dòng đời. hình ảnh “đồng nội tang thương” kéo dài đến tận “tận đáy mây” vẫn chỉ là một màu xanh héo úa vẽ nên một khung cảnh ảm đạm và khô héo, nó gợi cho người đọc cảm giác đau buồn triền miên, nỗi niềm vô vọng của thủy chung.

hai câu thơ cuối tả cảnh “gió thổi lồng lộng” và âm thanh “tiếng sóng vỗ” gợi rõ cả hình ảnh và âm thanh của những cơn bão dữ dội sắp ập đến với cuộc sống ở nước ngoài, khiến cảm nhận được sự lo lắng, sợ hãi trong lòng người con gái tài sắc vẹn toàn trước những tai ương ập xuống cuộc đời. Ngoài ra, Nguyễn Du còn sử dụng câu thơ ngụ ngôn “buồn trông” được đặt ở đầu các câu thơ để liên kết các hình ảnh xuyên suốt bài thơ thành một chuỗi cảnh buồn.

Cũng vậy, từ “buồn trông” có hai âm điệu bằng nhau được lặp lại bốn lần trong bốn cặp thơ lục bát tạo nên âm hưởng trầm buồn gợi tả nỗi buồn day dứt của nhân vật. tám câu thơ, bốn hình ảnh thiên nhiên và bốn phép ám chỉ miêu tả phong phú và tinh tế tất cả các sắc thái của nội thất kỳ lạ.

Tham khảo: Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong truyện kiều

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Kể tóm tắt truyện kiều theo 3 phần. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.