Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
1112 lượt xem

NGÔN TỪ TRONG TRUYỆN KIỀU- NGUYỄN DU – Website của Nguyễn Văn Ảnh

Bạn đang quan tâm đến NGÔN TỪ TRONG TRUYỆN KIỀU- NGUYỄN DU – Website của Nguyễn Văn Ảnh phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ NGÔN TỪ TRONG TRUYỆN KIỀU- NGUYỄN DU – Website của Nguyễn Văn Ảnh

nguyễn du là nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới. tất cả các bài thơ của ông, đặc biệt là truyện Kiều đều chứa đựng những giá trị sâu sắc. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về giá trị-nội dung nghệ thuật của truyện kiều, nhưng có lẽ có một vấn đề mà hầu hết các nhà nghiên cứu, bình luận đều có chung nhận định: Ngôn ngữ nghệ thuật của truyện Kiều. ”

Tôi có thể khẳng định rằng: nguyễn du là bậc thầy chữ quốc ngữ, bậc thầy ngôn ngữ lớn của thời đại ông, người đã nâng chữ quốc ngữ của thời đại lên một tầm cao chói lọi. >

Dưới bàn tay của thiên tài Nguyễn Du, tiếng Việt của chúng ta đã trở nên điêu luyện hơn, độc đáo hơn và trở thành một loại “siêu ngôn ngữ”. Đi sâu vào ngôn ngữ truyện kiều giúp chúng ta hiểu sâu hơn.

Trước hết, nét độc đáo của từ ngữ nguyễn du là việc sử dụng từ ngữ Hán Việt trong truyện kiều. chúng ta thấy, ngoài thành phần thuần việt, trong sử kiều còn có thành phần hán việt. Việc sử dụng phổ biến chữ Hán trong văn học thời kỳ này là một phong cách truyền kỳ. Theo thống kê của Nhóm dữ liệu Viện Ngôn ngữ, trong 3.412 từ trong Truyện Kiều, có 1.310 từ Hán Việt, tức là từ Hán Việt chiếm 35% tổng số từ trong tác phẩm. So với các tác phẩm cùng thời, tỷ lệ như vậy không cao, nhưng việc sử dụng nguyên tác mới là điều đáng chú ý.

Từ vựng tiếng Việt chiếm tỷ lệ cao trong tổng số từ vựng tiếng Việt (70%), nhưng không vì thế mà tác giả sử dụng một cách dễ dãi và tùy tiện. Những từ ngữ tiếng Việt được sử dụng trong tác phẩm cho thấy kiến ​​thức sâu rộng và sự chọn lọc kỹ lưỡng trong cách dùng từ của Nguyễn Du. điều này được phản ánh trong cách các tác phẩm kinh điển và truyện ngụ ngôn lấy từ văn học Trung Quốc được đưa vào thơ. Truyện kiều có rất nhiều tác phẩm kinh điển, nhưng chúng tôi có thể liệt kê một số ví dụ điển hình:

Để miêu tả nỗi nhớ nhung của nàng Thủy Kiều, tác giả sử dụng hình ảnh con sông: một bên cạn đợi một bên, một bên chờ một bên. đây là ý nghĩa của bài thơ chữ Hán: bạn ở đầu sông đậu tương / bạn ở cuối sông đậu tương / nhìn bạn / dù ta uống sông tương.

hay tả nỗi nhớ nhung chua xót của thủy kiều, tác giả viết: sân đình mấy ngày nắng mưa / có khi tử nguyên vừa ôm. (tương lai, nguyên lai tử vong cũng là kinh điển).

sớm trao ngọc, tìm đối tượng trong đêm … đều là những câu chuyện kinh điển. Đây là những tác phẩm kinh điển quen thuộc và được tác giả sắp xếp theo những ngữ cảnh nhất định giúp người đọc dễ dàng hiểu được chúng. Đặc biệt, Nguyễn Du đã có một cách dùng từ rất độc đáo thể hiện được chất Trung Hoa sâu sắc của mình khi miêu tả nỗi nhớ nhung nhớ nhung của Thúy Kiều trong đêm thu:

ở đây, chú sinh ra có nghĩa là chú khí, nhưng từ tâm trong tiếng Hán là:

một ví dụ khác, tác giả nhập tên mã của sinh viên:

Dùng chữ Hán “tứ tuần ngoại” trong câu này rất hiệu quả. nói mã sinh viên là “trên bốn mươi tuổi” hoàn toàn khác với nói mã sinh viên “trên bốn mươi tuổi”. “trên bốn mươi tuổi” chỉ là cách nói thông thường, không có ý nghĩa gì, còn “bốn mươi bốn tuổi” không chỉ là nói trên bốn mươi tuổi, mà còn có nghĩa là chỉ trích tuổi già, hàm ý đánh giá. . tương phản với cách ăn mặc của cô ấy trong câu thơ dưới đây. Ở đoạn thơ này, tác giả có thể dùng từ thuần Việt, nhưng khi đó câu thơ sẽ dở hơn rất nhiều.

Việc sử dụng các từ Hán Việt cũng được sử dụng để tạo ra các đặc điểm tu từ trong thơ. chẳng hạn, trong nhiều từ dùng để chỉ khái niệm “đàn bà” tùy trường hợp mà nguyễn du có những tên gọi khác nhau:

để miêu tả số phận cay đắng, tủi nhục của người phụ nữ trong xã hội cũ, nguyễn du đã dùng “đàn bà”: nỗi đau thay cho người phụ nữ

XEM THÊM:  ôn tập tác phẩm trữ tình tiếp theo

nói rằng định mệnh cũng là một từ chung.

hay khi gọi trời là “quân đỏ”, tác giả gọi người phụ nữ là “quần đỏ” ​​vì hai từ này có âm hưởng chặt chẽ nhưng nội dung lại đối lập, loại trừ lẫn nhau: quân đỏ quần đỏ

<3

một câu thơ khác mà anh ấy gọi là hồng nhan:

nó: mặt đỏ từ ngày xưa

xui xẻo không cứu được ai.

Sử dụng khuôn mặt hồng trong câu thơ trên cũng là dụng ý nghệ thuật của tác giả. hồng nhan, bạc mệnh vốn dĩ là một cấu trúc thống nhất, là tập hợp của những từ ngữ gần như thành ngữ “hồng nhan bạc mệnh”, ở đây tác giả tách chúng ra để nhấn mạnh ý nghĩa của chúng.

Trong tác phẩm chúng ta còn thấy những từ khác cũng được dùng để chỉ phụ nữ như: thiếu nữ, má hồng đào, má hồng …

Một đặc điểm khác trong ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Du là cách sử dụng từ ngữ vô cùng linh hoạt, thể hiện vốn từ vựng phong phú về tiếng Việt (kể cả tiếng Hán) của ông.

Tác giả đã sử dụng nhiều từ khác nhau để chỉ cùng một đối tượng. sự vận dụng linh hoạt của tác giả giúp thể hiện nhiều tâm trạng, cảm xúc và nhiều khía cạnh khác nhau trong mỗi nhân vật.

thuật ngữ gần giống với khái niệm nữ tính ở trên là một ví dụ. và đây là một ví dụ khác:

Chỉ rơi lệ, nhưng khi đứng trước mộ của đập tiên, Thủy kiều đã khóc, mà theo thủy văn: “Người thông minh đã rơi nước mắt vì người xưa”. nhưng khi khóc than về số phận tủi nhục phải bán mình chuộc cha thì nước mắt của nàng lại khác: “hoa đăng bước mấy hàng hoa”, “áo dài rụng tóc rụng”. . và đây là giọt nước mắt chia tay giữa thủy kiều và chú tiểu:

<3

nhưng khi thủy chung khóc cho hai bạn thì khác: “suối mùa thu như dòng thác sầu”…

sau đây chúng ta hãy miêu tả giọt nước mắt mà nguyễn du đã dùng nhiều từ ngữ khác nhau để diễn đạt và mang những ý nghĩa sâu sắc. Về biện pháp dùng từ độc đáo này, có thể liệt kê nhiều trường hợp khác trong truyện Kiều: cùng một khái niệm “trăng”, trong truyện có: trăng, vành, trăng và cung. , Gương Nga, bóng Nga, em gái Nga; Cùng một khái niệm “mộng”, truyện kiều có các từ: mộng xuân, mộng mộng, mộng vàng, mộng vàng, mộng mơ, mộng hương…

Hơn nữa, ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện của kiều rất súc tích và chính xác. Nguyễn du có thể, bằng một vài câu thơ, đã khắc họa rõ nét chân dung ngoại hình nhân vật, hoặc miêu tả một sự việc, một hoàn cảnh, một sự chuyển động trong không gian, chuyển động trong thời gian. . Nguyễn du cũng có thể bằng một từ hoặc một vài từ thể hiện toàn bộ thái độ đánh giá của mình đối với nhân cách, phẩm chất của một con người, một hiện tượng nào đó. đó là miêu tả về thủy kiều, thùy văn xinh đẹp và tài hoa. Đó là một hình ảnh đẹp với phong thái thoải mái và thanh lịch:

o mô tả hai anh hùng:

tả quan án, nguyễn du viết: “nhìn mặt sắt đen”. nhà thơ du coi đây là “một trong những câu thơ hay nhất trong lịch sử truyện kiều”. yếu tố phân tích: “tại sao nhìn lên mà không nhìn bên kia, nhìn ra ngoài, nhìn vào? ở đây tác giả đứng về phía nhân dân và ngưỡng mộ những kẻ thống trị đang ngồi trên đầu mình. nhưng sau đó mặt sắt đen xuất hiện. mặt sắt lạnh lùng không có nhân tính, đen về mặt đạo đức và ghê tởm. thực sự không có từ nào để mô tả các nhà cầm quân một cách ngắn gọn và sắc bén hơn ”. và nhà thơ đã lưu ý về câu: “đêm khuya, con gái đi học”: “sáu chữ có thể bao hàm toàn bộ ý nghĩa của bốn tập truyện dài.”

và chúng ta thấy rằng, chỉ với một từ “lén lút”, nguyễn du đã chiếm được tinh thần của sở: lén lút, lén lút: “Tôi đã thấy bộ phận lẻn vào”. chỉ với một từ “cũng”, mã sinh viên đã lộ ra cái tên vô học, vô học: “ghế ngồi bệt”. trong khi thái giám thì giễu cợt và nham hiểm: bề ngoài anh ta nói và cười / nhưng trong sự nham hiểm, anh ta giết người không dao.

XEM THÊM:  Soạn bài 6 truyện kiều -- chị em thúy kiều

Đối với cô ấy, sự xuất hiện của cô ấy gây ra nỗi sợ hãi trong lòng người đọc: đột nhiên trông béo ngậy / da nhợt nhạt / ăn một thứ gì đó lớn khiến thôi thúc. hồ đồ thờ dâm khét tiếng:

nguyen du đã dùng những từ rất “đắt” để miêu tả các nhân vật của mình. Những từ ngữ đó rất ý nghĩa, rất chính xác, ngắn gọn và có giá trị biểu cảm cao khi thể hiện tính cách, phẩm chất, ngoại hình của nhân vật …

Ngoài sự súc tích, chính xác, những từ ngữ mà nguyễn du sử dụng trong truyện truyền kỳ cũng làm cho bài thơ giàu hình ảnh và nhạc tính.

cành cây lê trắng với một số bông hoa,

là cách để mô tả mùa hè:

hoặc cảnh mùa thu:

tả cảnh chia tay, chia tay “nước mắt rơi trên đá, tằm rung rinh” …

nguyễn du đã kết hợp trong những câu thơ của mình một tư tưởng thơ sắc sảo với việc khai thác triệt để các kĩ năng tu từ của thể thơ lục bát và ngôn ngữ Việt. Nguyễn du chú ý đến âm thanh của từng từ khi sử dụng và kết hợp âm thanh của các từ để tạo ra hiệu quả nghệ thuật mong muốn.

tả những con sóng bất tận của dòng sông tiên cảnh khi nàng yêu kiều tự tử, nhà thơ đã sử dụng ngay một vài từ có phụ âm đầu “tr” kết hợp với các vần ung, ong, mr. trùng lặp

Tôi vẫn có thể nhìn thấy bóng hồng khi trồng cây!

và để miêu tả tư thế anh hùng của chữ hai, tác giả sử dụng rất nhiều phụ âm “d” để tạo ấn tượng mạnh mẽ và vững chắc:

nhưng khi miêu tả một mùa xuân tươi đẹp và nhàn nhã, nhà thơ đã có một dòng văn gồm nhiều thanh điệu bằng nhau: lụa rũ và liễu rủ.

nguyễn du ngược lại cũng rất linh hoạt. tác giả sử dụng một trạng ngữ trong bài thơ. dưới ngòi bút của ông, qua những phép đối mà ngôn từ trong câu thơ trở nên cân đối, hài hòa và dẻo dai:

Ngoài những thủ pháp trên, vần và vần cũng là một kỹ thuật trong ngôn ngữ nghệ thuật nguyễn du giúp cho bài thơ giàu hình ảnh và nhạc tính. Có thể nói, không có bài thơ dài nào có vần điệu như Truyện Kiều của Nguyễn Du. truyện kiều hoàn toàn không có hiện tượng gieo vần. Nguyễn du dùng vần không chỉ để nối các dòng, mà vần của ông có âm vang và có ba dư:

Vì vậy, nếu nói về ngôn ngữ trong thơ thì phải nói đến ngôn từ cũng như ngữ pháp, cách dùng từ và tổ chức câu … trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến những nét nghệ thuật đặc sắc. ngôn ngữ. trong truyện nguyễn du ký, nghĩa là cách dùng từ, nghĩa của từ được sử dụng và dụng ý của tác giả … có thể nói rằng, ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ký rất đặc sắc và hội tụ nhiều yếu tố đó. tạo nên điểm kỳ dị đó mà chúng ta chưa khám phá ra. tuy nhiên, chỉ vì những lý do, bằng chứng chúng tôi có ở trên là đủ để xác nhận.

nguyễn du đã sáng tạo, linh hoạt, chắt lọc và hoàn thiện ngôn từ của mình một cách tỉ mỉ và đạt hiệu quả cao. Lời văn của Nguyễn Du sâu sắc, sắc sảo, súc tích, gần gũi … tất cả chứng tỏ tài dùng từ và vốn từ phong phú của Nguyễn Du. Dưới bàn tay tài hoa của Nguyễn Du, chữ Việt càng trở nên đẹp đẽ, óng ánh và trong sáng. Nét độc đáo trong nghệ thuật dùng từ của Nguyễn Du là một trong những yếu tố quan trọng làm nên thành công của Truyện Kiều về mặt thi pháp. và vì vậy, nguyễn du và địa linh nhân kiệt mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc NGÔN TỪ TRONG TRUYỆN KIỀU- NGUYỄN DU – Website của Nguyễn Văn Ảnh. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *