Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
82 lượt xem

Nguyễn bính là nhà thơ mới hay cũ

Bạn đang quan tâm đến Nguyễn bính là nhà thơ mới hay cũ phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Nguyễn bính là nhà thơ mới hay cũ

bui mạnh nhi

(vanchuongphuongnam.vn) – một trong những lý do chính khiến Nguyễn binh nhiều lần là nhà thơ là bởi thơ ông thể hiện một cách độc đáo nhiều nguyên mẫu kết tinh từ những khuôn mẫu tâm lý, “kinh nghiệm nhân gian lặp đi lặp lại”.

Bạn đang xem: Nguyễn bính là nhà thơ mới hay cũ

nhà thơ nguyễn binh

  1. từ khi xuất hiện trong phong trào thơ mới cho đến nay, nguyễn binh đã và sẽ luôn nằm trong top những nhà thơ có lượng người đọc lớn nhất. thơ nguyễn binh “sống mãi, làm mãi cho muôn đời sau (1),“ Người Việt Nam muôn đời vẫn yêu thơ nguyễn binh, càng hiện đại văn minh càng kính trọng ”(vu quan phuong) (2)

điều kỳ diệu đó làm được gì?

Có nhiều cách để trả lời.

rằng thơ của nguyễn binh có “một thứ có giá trị lớn: hồn quê xưa” (hoai thanh) (3).

<3

rằng, “so với các nhà thơ lãng mạn trước đó, nguyễn bình đứng ở một cõi riêng” (le dinh cay (5)

và rằng, thơ nguyễn binh có “thơ trời ban cho thiên tài gọi là tự nhiên như thở” (nguyen duy) (6)

v …

xin nói thêm: thơ nguyễn binh không bao giờ lạc điệu. Nguyễn Bính là nhà thơ của nhiều thời đại. bởi vì nó luôn luôn khác biệt. rất khác nhau. đóng rõ ràng. Tầng sâu nhất của thơ Nguyễn Bính không chỉ là hồn dân tộc, mà còn là “tiếng nói thức tỉnh của cả nhân loại” qua tiếng nói của một người, một cá nhân. Nói cách khác, thơ Nguyễn Bính “như nói với cả ngàn tiếng nói, thiết tha và đầy sức thuyết phục, nâng tầm miêu tả của thời thế và thời thế lên cái vĩnh hằng” (7).

  1. nguyễn binh luôn như vậy, trước hết là từ cách làm thơ đến thời hiện đại.

Trong thời kỳ xuất hiện và phát triển của thơ mới (1932-1945), “cuộc gặp gỡ với phương Tây là sự thay đổi lớn nhất trong lịch sử Việt Nam trong nhiều thập kỷ” (8). Lúc đó, vấn đề đặt ra cho quá trình tiếp biến văn hóa với phương Tây, chủ yếu là pháp, không còn là sự lựa chọn giữa cải cách và bảo tồn, mà là đổi mới như thế nào, theo hướng nào. trong khi phương tây hóa vừa là xu thế, vừa là lợi thế của đổi mới cả bề rộng lẫn chiều sâu, với những nhà thơ rất tiêu biểu như xuân khảo “mới nhất trong các nhà thơ mới”, han mac tu “lạ nhất thế giới”. lan viên “không đo được bằng thước thường” (hoai thanh), “đồng hương nguyễn bình vẫn sống liêm khiết như thường”, thơ nguyễn bình vẫn là “tiếng hoan hỷ”. nỗi buồn của tâm hồn bình dân muôn thuở ”(9).

Thơ văn của Nguyễn Binh đã bổ sung những bằng chứng thuyết phục, rất sâu sắc và thú vị về quy luật của mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn học viết, văn học dân gian và văn hóa dân tộc. trong mối quan hệ này, văn học dân gian và văn học dân gian luôn là nền tảng, là cơ sở, là văn học “mẹ”, văn hoá “mẹ”. Điều này càng thể hiện rõ trong thời kỳ đầu mới hình thành nền văn học viết và trong các thời kỳ, thời kỳ mà văn hóa, văn học dân tộc phải đối mặt với những bước ngoặt đầy thử thách và biến đổi lớn. Trong thời kỳ thơ mới, chính văn học dân gian, văn học dân gian, đất nước, hồn quê, trực tiếp hơn là ca dao, hò vè đã đưa Nguyễn Bính đến với hiện đại một cách thuyết phục. dân ca, hò, vè là lời ăn tiếng nói hàng ngày của đồng bào, luôn mang hơi thở của cuộc sống hiện tại. dân ca, hát nói, mỗi cuộc diễn xướng là một cuộc sáng tạo, “mỗi cuộc diễn xướng là một cuộc sáng tạo” (10). vì vậy, ca dao, dân ca luôn song hành với hiện đại. “Những bài hát hay được phổ biến rộng rãi có thể truyền tải được vì nội dung rất cần thiết cho con người, có ích cho con người; dân ca ra đời do hoàn cảnh thời sự, do những thời điểm cần thiết ngày ấy mà có sức nói lâu dài, phổ biến theo thời gian và không gian ”(11). Cách tiếp cận hiện đại của Nguyễn Bính một lần nữa làm sáng tỏ luận điểm triết học: “truyền thống là người bảo vệ tinh thần con người … không có tâm linh nào ngoài truyền thống” (12).

Thơ văn nguyễn binh mang tính chất truyền thống, nhưng vẫn mới mẻ, vẫn độc đáo. ông đã sáng tạo lại thơ có âm tiết và thơ khải huyền theo cách riêng của mình. Nói đến các nhà thơ trình diễn thơ lục bát, người ta sẽ mặc nhiên đi ngay từ ca dao, nguyễn du đến nguyễn bình. Đặc biệt, cùng với các nhà thơ mới khác, nguyễn binh đã đưa vào thơ cái tôi cá nhân của mình, cái tôi của thời đại, cái tôi của nhân loại, tất nhiên. “Như một cú nổ lớn trong văn học, sự ra đời của cái tôi đã trở thành nhân tố cốt yếu tạo nên thời đại trong thơ ca” (13), góp phần quan trọng để văn học Việt Nam “tạo ra một bước chuyển mình quan trọng: vượt ra khỏi khu vực để bước ra thế giới. ”(14). cái tôi ấy, trong những năm đất nước dồn toàn lực cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, tất nhiên sẽ không phù hợp. nhưng khi cuộc sống trở lại trạng thái bình thường, anh lại tìm thấy những dư âm mới để hiểu thêm về một thời, một dân tộc. “Bằng cách đi sâu vào tâm hồn của một người, chúng ta sẽ tìm thấy tinh thần của chủng tộc. và đi vào linh hồn của một giống nòi, chúng ta sẽ tìm thấy linh hồn chung của nhân loại ”(15). Thơ nguyễn binh là một trường hợp hiếm hoi … bởi trong nét bút cũ và mới ấy, ông đã bộc lộ những chiều sâu tâm hồn không chỉ của một cá nhân, mà của cả một dân tộc, không chỉ của một thời đại, mà của cả một dân tộc. ., có lẽ, nhiều lần… ”(16). nhờ vậy mà nguyễn binh có những tập thơ hay (ví dụ những tập thơ trước cách mạng tháng 8 năm 1945), những bài thơ hay (Bước hụt ​​một bên, tình yêu, lòng mẹ, chân quê, hái mơ, mưa xuân, cỏ cây hoa lá, về quê, thư gửi thầy cô, đợi nhau,…) và hàng trăm bài thơ tuyệt vời như thể trời đất, ma trời ban tặng. Nếu chọn một nhà thơ có những câu thơ huyền hoặc nhất trong phong trào thơ mới, chắc chắn Nguyễn Bính sẽ đứng đầu.

  1. một trong những lý do chính khiến Nguyễn Binh là nhà thơ của nhiều thời đại là thơ ông thể hiện rất đẹp nhiều nguyên mẫu kết tinh từ những khuôn mẫu tâm lý, “kinh nghiệm lặp đi lặp lại từ nhiều thời đại của nhân loại”. từ điển văn học giải thích: “cổ mẫu là một khái niệm dùng để chỉ những mẫu biểu tượng, cấu trúc tinh thần bẩm sinh, trong trí tưởng tượng của con người, chứa đựng trong vô thức chung của cộng đồng người”. (17). Nói cách khác, cổ mẫu là những biểu tượng trường tồn, bắt nguồn từ vô thức tập thể, chứa đựng chiều sâu tâm lý và tình cảm trải qua các thời đại khác nhau của cộng đồng. “Kho tàng của nhân loại là ở tính đa dạng sáng tạo, nhưng cội nguồn của sáng tạo là ở tính thống nhất chung của nhân loại” (18). Người đọc văn học theo thuyết cổ mẫu thường dõi theo những biểu tượng, mô típ được lặp đi lặp lại nhiều lần và có ý nghĩa phổ quát trong tác phẩm để thấy được ý nghĩa tiêu biểu của chúng trong văn hóa, văn học nhân loại. loại hình và dân tộc cũng như ý nghĩa thay đổi, năng động và tương tác của chúng trong các tác phẩm và tác giả cụ thể (19).

vui lòng nói về một số kiểu nguyên mẫu.

đầu tiên là kiểu nguyên mẫu của cuộc hành trình, cụ thể hơn: kiểu nguyên mẫu của việc đi và mất bước.

cuộc hành trình, theo quan điểm của lý thuyết cổ mẫu, là “cuộc tìm kiếm, tìm kiếm sự thật, sự bất tử và khám phá ra một trung tâm tâm linh”. du lịch “trở thành dấu hiệu và biểu tượng của sự hy sinh không ngừng…, và cần phải kết luận rằng hành trình duy nhất có giá trị bất kỳ là của con người trong chính mình” (20). nhân loại đã có nhiều cuộc hành trình, đau thương và vĩ đại: hành trình của thần, hành trình đến đất phật, hành trình đến miền đất hứa, hành trình di chuyển Ai Cập, hành trình don quixote, v.v. bạn đã đi đâu, bạn đã đi đâu? trở lại môi trường xã hội mới của thời thơ ấu. trong “sự thay đổi lớn nhất trong lịch sử Việt Nam mấy chục năm nay”, hành trình của Trạng nguyên là hành trình của một thi nhân “lạc lối”, lạc bước và cô đơn, khi dấu ấn cuối cùng là trạng thái “trọng mộng”, “bạch mã trạng nguyên”. (thôn viên) – lý tưởng của các nho sĩ bình dân một thời đã vĩnh viễn khép lại: “dĩ vãng, trạng thái”, “duyên bún mất tích”. hành, khoa thi nam đinh thành trường bay ”(sĩ tử của nhà Nho xưa):

XEM THÊM:  Nhà thơ Trần Vạn Giã: Từ đồi cô đơn tới rặng bần xanh thẳm - Báo Khánh Hòa điện tử

bạn đang đi, bạn sẽ đi đâu

nến nâu, nến nâu, nến

(không có tiêu đề).

câu hỏi chưa được trả lời. nhịp thơ cũng theo ngọn nến nhỏ dần rồi vụt tắt. về cuối bài thơ không còn thấy màu nâu của những ngọn nến. nhịp thơ không khớp. đi mà không biết đi đâu! không biết ở đâu. như trạng thái trên dòng sông cuộc đời mênh mông và hoang vắng: “kẻ lang thang biết tìm đâu” (gypsy). dễ hiểu vì sao thơ nguyễn bình thường nhắc đến con tàu, bến nước, “con tàu gia đình”, và nhà ga, đoàn tàu: “thêm một chuyến phà nữa / ở đây thêm một người khách ơi tàu ơi!”. (khách qua đường), “mang thân theo gánh / bằng phẳng, bến nổi” (quê tôi). đó là thuyền quê, bến là ga. có khi nó là dòng sông tâm thức chảy rất mạnh, rất mênh mông trong văn hóa phương Đông: sông đậu tương, sông dịch. thời gian chủ yếu về chiều và đêm: “càng về chiều càng thấy đường” (định mệnh), “đoàn tàu đã biết đi về đâu, đêm sâu trở về đêm sâu” (chuyến tàu đêm). đoàn tàu, sân ga trong thơ nguyễn bình thật buồn:

– chuyến tàu dường như mang theo nỗi buồn,

mang những người để nhớ, những người để yêu

(chuyến tàu đêm).

– giao hàng tận nơi, giao hàng tiếp tục

chuyến tàu không bao giờ đợi tôi

(đi).

– từ lớn, từ nhỏ

cuộc sống không khiến bạn phải trả giá

(chuyến tàu đêm).

– đây… tôi ở đây một mình,

những trái tim đẫm máu nở rộ trên khắp sân ga

(rừng mai xa).

– các chuyến tàu tự rời ga

đường sắt đang chờ băng qua

ai đó bị lạc trên đường sắt

tất cả các chuyến tàu đều mang theo nỗi nhớ

(ghi nhớ)

nguyễn binh cũng là bóng người giữa những cái bóng đổ trên sân ga: “bóng lạ”, “hai bóng cùng chung một bóng”, “bóng liêu xiêu”, “bóng chiều tà”, “” làm toàn bộ tách biệt một mình ”(bóng trên sân ga). bức tường màu vàng “hiện đại”, bên ngoài lát gạch đỏ của ga ra, mà tôi không thể tin được không thể che giấu linh hồn của cuộc sống, thân phận, chia ly và nước mắt. bức tường và màu ngói đó cũng gợi lên những liên tưởng khác. tường vàng, bề ngoài sáng sủa nhưng dường như đó cũng là màu của hình thức, vàng son ngày càng phai nhạt. và màu đỏ son của ngói phải không? Nó cũng gợi lên đôi mắt đỏ hoe, những trái tim đỏ như máu trước những cuộc chia tay buồn, những cuộc chia tay vô định, họ đã và đang. linh hồn của nhà ga là linh hồn của những chuyến đi lòng vòng, của những cuộc chia tay không hẹn ngày gặp lại, là hành trình và sự chia ly sâu thẳm trong thân phận và số phận của mỗi người.

tường vàng, mái đỏ

nhà ga chứa đựng linh hồn của nhà ga.

nguyen binh là một hành trình lẻ loi, một bến cô đơn như vậy! Trong hai câu thơ đó, những gì không được nói ra nhiều hơn và được cảm nhận mạnh mẽ hơn những gì đã nói.

không phải ngẫu nhiên, “lỡ bước sang ngang”, tên một bài thơ là tên của cả một tập thơ! không chỉ cô gái “lỡ đò ngang”, mà bản thân anh nguyễn binh và cả một thế hệ những người như anh cũng “lạc bước sang một bên” trên hành trình ấy, trên bến đò, bến đò ấy:

Xem thêm: Chương 14: Phùng Cung (1928-1998)

năm đó tôi bỏ lỡ chuyến đi thuyền sang sông

con tàu đầy sóng lớn

mười hai bến tàu nước xa xôi

những sai lầm trong quá khứ, bây giờ bạn thất bại.

trên con đường “mang ơn người giang hồ”, “tự mình dựng núi non sông / đày ải tâm can” (đêm nay soi lòng đèn), “hồn anh”, bản thân đi tìm em từ nguyễn. bình đến nhiều nơi. các địa điểm thực tế là lang sơn, vinh, huệ, sài gòn, ga kép, v.v. địa danh thực mà ảo, ảo mà thực hoặc hoàn toàn ảo còn nhiều hơn thế nữa: “kinh đô”, “làng quê”, “mười hai bến tàu”. “,” mây “,” nghìn cửa sổ “,” lầu hoa “,” rừng mai “,” rừng mai “,” vườn tiên “,” suối thai “, v.v … được chia thành một cặp đối lập: người anh hùng – nhà thơ. con người “hào kiệt” của bạn, có lẽ, là “cú ngã” cuối cùng của kiểu nhà Nho tài tử trong văn học trung đại Việt Nam. nỗi cô đơn của người anh hùng không còn hợp thời, không bao giờ có “thời gian phơi mình trước gió bụi” (lá bài về phương bắc):

– Tôi đã mơ thấy lời tiên tri,

nhà vua gọi mà không va vào thuyền

(cho tôi một ly khác)

– sông lạnh nơi người gọi gió,

mặt trăng đang tìm người mài kiếm.

– khoảng thời gian chúng ta không gặp nhau là nói dối mãi mãi,

ngay cả tình yêu của rượu cũng cạn kiệt

(mùa xuân còn ở nước ngoài)

– ôi thị trấn đi cùng gió và mưa

bạn có thể tạo dựng một gia tài

(thời kỳ phía nam có gió và mưa).

– lấy đi bụi

anh hùng dừng lại và thở dài

(cửa hàng lạnh)

Chính “nhà thơ” mới thực sự thể hiện được cái “tôi” của nguyễn binh. Cũng như bao nhà thơ khác trong thuở mới vào nghề, nguyễn bình đã đến với tình yêu, thứ tình cảm phổ quát của con người. nhưng khác với nhiều nhà thơ khác, dư âm của “vô thức tập thể” của cổ mẫu luôn dệt nên những câu thơ một cách tự nhiên. Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ đã cụ thể hóa lẽ sống vô cảm của cả nhân loại trong nhiều bài thơ tình. anh lý tưởng hóa tình yêu trong sự khắc khoải, nhớ nhung, day dứt. và, giống như Platon, nhà hiền triết vĩ đại của nhân loại, trong “lễ hội hay hội thảo về tình yêu” của mình, ông đã nói: “khi tình yêu được biến đổi từ một lý tưởng thành một con người bằng xương bằng thịt”, từ khái niệm vĩnh cửu thành con người cụ thể, trên thực tế, điều này dẫn đến sự “mất cân bằng đối với những điều thiêng liêng” (21). vì vậy thơ tình của nguyễn binh cũng là một hành trình đi, bước hụt.

nguyễn binh có những bài thơ tình nổi tiếng:

– người xứ Đoài nhớ người dong,

một người chín nhớ mười chờ một người

(tương tự)

– tâm hồn bạn như hoa cỏ

một ngày nọ, gió đã phủ lên áo tôi

(Tháng năm ra hoa)

– Tôi nghe họ nói dễ vỡ

họ dường như biết chúng tôi … nhau

(đợi nhau)

– hố mưa tràn

ba ngăn đầy nắng

(về nhà)

– cô ấy đã hái mơ! ôi cô gái

thậm chí không trả lời!

im lặng và đi, sau đó biến mất

rừng mai tối sầm, lá rụng …

(cô ấy hái mơ)

– bàn tay đẹp trông thật mềm mại

Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình có thể chặn mọi người

(bạn trai là tôi)

đã tạo nên một vương quốc, một thiên đường cho tình yêu: “nếu có một quốc gia có tình yêu, ta sẽ là hoàng hậu, ngươi sẽ là vua” (ai khanh), “với người trong mộng của thần tiên, của cánh đồng thi sĩ trên mây hồng ”(bến nước mười hai),“ hồ tiên nữ không phải hồ trần, ta không thả cá, ta chỉ thả thơ ”(xây hồ bán nguyệt). nỗi nhớ, niềm khát khao được yêu trong thơ anh được dệt nên bằng nhiều cung bậc cảm xúc và biểu tượng, đi thẳng vào trái tim con người:

– nếu bạn nhớ nó như lụa

Bạn có thể thử bao nhiêu vòng?

Tham khảo: Tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Ngô Tất Tố

nếu bạn nhớ nó là mè

bạn có thể thử không?

(ghi nhớ)

– Tôi nhớ bạn, tôi nhớ trăng

đêm và đêm, bầu trời được xây bằng nước mưa

(dự định làm bất cứ điều gì khác)

– anh bạn! mùa xuân đã hết ngày

Khi nào tôi sẽ gặp lại bạn?

khi nào thì hội dang ngang qua ngõ?

để mẹ bạn nói: hát tối nay?

(mưa xuân)

nguyễn binh nhập thân, thế mới nói được, nói rất hay, rất sâu sắc, là biện chứng của tâm hồn, là quy luật của tình cảm, là cái muôn đời, của muôn người: “Cha mẹ nhớ con, con yêu. . / Con đi xa nhớ thương ”(thư gửi cô giáo và mẹ),“ trời xanh cứ khóc / Nhớ nhà một chút, nhớ người nhiều ”(đoàn tụ). sống trong tâm lý yêu thương, cảm nhận thời gian và không gian trong thơ ông thật đặc biệt, một cách bình dân, nhưng vẫn độc đáo ở ông, độc đáo: “Đèn hàng xóm còn đâu / Chờ bạn ăn trầu, anh đã hát ”(đợi nhau),“ đợi như đêm qua / chàng ơi! một tháng là ba mươi ngày ”,“ một ngày trên lưng ngựa ba ngày trên thuyền ”(thư cho bạn),“ nhà tôi bốn ngọn đồi / ba con suối , xa rừng / nhà anh xa / Em van xin anh đừng yêu em ”(xa xôi),“ Em thương anh bao nỗi nhớ / Thành phố biết đêm nay trời sẽ mưa ”(thiếu thành phố).

XEM THÊM:  Top 10 nhà thơ nữ Việt Nam nổi tiếng nhất 2022 - 10Hay

tình yêu trong thơ nguyễn binh đa phần là những cuộc hẹn hò, những cuộc chia tay. đã lỡ hẹn kể từ khi khắc khoải và hồi hộp chờ đợi cuộc hẹn hò tình yêu đầu tiên. hóa thân, hóa thân thành cô gái trong “mưa xuân”. cơn mưa ấy, từ những bông hoa bụi “chớm nở” nhanh chóng biến thành “mưa dầm dề”, những giọt mưa buồn, ngậm ngùi và bẽ bàng. con đường tình yêu tưởng như gần mà hóa ra lại xa:

Tôi đã ở một mình trên đường trở về

không quá ngắn cho một dải

lớp mỏng để che đầu khi mưa lớn

lạnh và buồn vào ban đêm

(mưa xuân)

tình yêu trong thơ nguyễn binh đầy nước mắt chia ly. nỗi cô đơn của anh ấy đủ lớn để giảm bớt nỗi đau khổ và nỗi cô đơn không hồi kết của con người: “nước mắt là thức ăn / chúng tan như lục bình” (ảnh cống hiến), “đêm nay hai chúng ta cùng nhau yêu thương / khóc trên khắp thế giới để nói lời tạm biệt” ( trong tình yêu), “hàng ngàn cửa hàng đóng cửa / suốt đêm / trái tim tôi điên cuồng / mở trong hàng ngàn ngày” (ngàn cửa sổ), “bầu trời xin hãy trả lời tôi / tại sao sắc đẹp là một người… bầu trời xanh” (thật là một cô gái), “Có lẽ cô ấy đang khóc ngay bây giờ / cả một mùa đông đang khóc bên ngoài” (nhớ ai đó), “có lẽ hôm nay ngày mai, trở về sớm / cô ấy sẽ ở lại để… quên tôi” (cô ấy bỏ đi để ở lại), “bạn ở xa xa sông… em xa sông ”. nhưng, hành trình đau khổ và cô đơn nhất của anh có lẽ vẫn là hành trình tìm lại bản ngã của mình trong vô vọng: “tìm đâu một mảnh thiên đường cổ tích”, “nhưng đau đớn biết bao / Người mình yêu chỉ biết yêu như một con người” ( dao nguyen), “yêu em, anh sẽ hiểu em / nhưng chỉ em mới hiểu được anh” (bến mười hai). “Cái tôi là không thể phân chia được” (22). và thực ra, chính anh cũng không hiểu mình, nên anh luôn tìm kiếm chính mình. Rõ ràng, thơ Nguyễn Bính là “cuộc hành trình của con người trong chính mình”. cuộc hành trình đó không bao giờ kết thúc, bởi vì “con người luôn là bí ẩn của thế giới và có lẽ là bí ẩn lớn nhất … trong tâm hồn con người có những chiều sâu mà chỉ có nghi lễ mới có thể hạ xuống” (23).

nguyễn binh là nhân vật điển hình của thể loại gia đình: không gia đình thuở mới vào nghề. đây cũng là một cổ mẫu rất tiêu biểu của văn hóa và văn học nhân loại. gia đình là khái niệm, là tổ ấm gần gũi và thiêng liêng, con người từ đó mà trưởng thành và luôn xem đó là chỗ dựa tin cậy, an toàn và vững chắc. Vì vậy, mỗi khi ra khỏi nhà, nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ lại gặp phải những tai họa hoặc phải trải qua những thử thách khó khăn. trong ca dao trữ tình, những cô gái, chàng trai thường buồn, xao xuyến, bồi hồi, nhớ nhung khi “sang ao”, “ra ngõ”, “ra bến sông”… trong văn học. Nếu bạn đi du học, chỉ cần nhắc đến vở kịch “Không có gia đình” của nhà văn Pháp thế kỷ 10 Hector Malot là sẽ thấy điều đó. trong thơ nguyễn binh, mẫu không gia luôn song hành với việc đi – mẫu lỡ bước. với nguyễn binh mồ côi mẹ lúc mới ba tháng tuổi, “mẹ hiền mất sớm, thế gian đầy thơ”, sự bùng nổ của cảm xúc quê hương càng thêm đau xót.

– mười năm trước, tôi đã rời đi,

một thân hình nhỏ bé, nửa đời sương gió.

– thưa thầy! không bán vườn chè

mẹ ơi! đừng chặt cây lê bạn đã trồng (thư gửi cho giáo viên của bạn).

Những câu thơ đó dường như được viết trong cô đơn, trong nước mắt!

yêu gia đình, nhưng nguyen binh, chính xác hơn, vẫn là “con chim bỏ bầy”:

– mắt tôi không buồn,

Ngày mai tôi sẽ lại (một lần nữa).

– trời ơi! những người trên đường

Tôi đang nghĩ đến việc bỏ đi sự cô đơn ở nhà (chia tay).

nguyễn binh có gần mười bài thơ tặng em gái, kể về em gái mình, một nhân vật tuy lẻ bóng ngoài đời nhưng cũng là một nhân vật văn chương (lỡ bước, say một chiều, xây hồ bán nguyệt, dựng lại. ) đời, xuân xa quê, xuân còn ngoại, xuân xa lại khăn hồng em ghen). một phần vì cô em tre xinh đẹp, duyên dáng, gần gũi, một phần nữa là chính vì lẽ đó, nhà thơ nhìn thấy từ đây hình bóng của mẹ, của những người thân yêu, là điểm tựa đáng tin cậy để gửi gắm, sẻ chia, giãi bày. cảm xúc và cảm xúc khó nói về (24). Con người thiếu thốn tình cảm gia đình, luôn đong đầy tình quê hương thì làm sao không nhớ gia đình, nhớ quê hương: “Xa quê quá / Mỗi độ xuân về nhớ da diết!”. (mùa xuân còn ở nước ngoài), “chiều ba mươi tết tàn / nhà mình quê một mình” (mùa xuân lại nhớ quê). chính từ sâu thẳm tâm thức dư âm không gia đình nào có được những vần thơ tuyệt diệu của thần:

từ nay khi nhớ quê hương tôi

khi tôi nhìn thấy những đám mây, tôi biết đó là thị trấn của xe van

(Anh ấy đã trở về quê hương của mình)

mây quê hương luôn bay trên bầu trời tha hương. Mây trên trời trên quê hương khóc thơ anh, hay nước mắt thơ anh đọng thành mây trên trời? thực nhưng rất ảo! Tưởng tượng nhưng rất thực!

Nhân vật trữ tình trong thơ nguyễn bình hầu hết đều ở trong tâm trạng cô đơn, không gia đình. nàng là một ni cô trẻ đẹp “áo ni cô mỏng tang / Treo gầu bên giếng” (chiều quê); vị sư già buộc thân đến tịch mịch, vô thường: “sư già quét lá sau chùa / đốt lá tàn trước tiếng chuông” (chùa vắng). đó là anh hùng: “đêm nay, anh hùng không có nơi nào để ở / qua đêm trong một nhà hàng trên đường đi” (cửa hàng điện lạnh). trong đó, tiêu biểu cho số phận, thân phận không gia đình chính là người phụ nữ trong cảnh “lỡ bước”: “mười năm hận bên giường / mười năm nước mắt bữa cơm thường”. Tiếng pháo nổ đỏ rực trong ngày cưới của nhà gái luôn gắn liền với những tiếng thở dài của cả người trong cuộc và người ngoài cuộc. thậm chí người mẹ sống bất an, thấp thỏm lo lắng cho con gái vô gia cư khi con gái bước chân về nhà chồng. Người mẹ cố tỏ ra cứng rắn và năng động trước mặt con mình cũng yếu ớt ngay khi chân đứa trẻ rời khỏi nhà. những câu sau đây cũng là “huyền thoại về mẹ”:

đưa tôi đến tận cửa,

Mẹ phải xa tôi vài chục năm.

con trai của tôi! đêm nay một mình, mẹ tôi khóc,

đêm đêm chỉ có mẹ đưa đưa (lòng mẹ).

Thi sĩ thỉnh thoảng nhận xét: “Lúc đó, nguyễn binh, cũng như hầu hết các nhà thơ, đều buồn. Nguyễn binh không chỉ buồn mà còn thêm vị đắng của kẻ không nhà. nhưng thơ của chị không có nỗi buồn xé xác, xô đẩy con người đến tuyệt vọng, trong nỗi buồn ấy chị vẫn thấy ấm lòng và khắc khoải với tình yêu cuộc sống ”(25).

chỉ một vài nét cổ tích trong thơ Nguyễn binh, đủ thấy thơ ông sâu lắng và huyền diệu đến nhường nào! Thơ nguyễn binh luôn độc đáo, riêng nhưng cũng phổ quát, tiếng nói của nhiều ẩn số. Thơ nguyễn binh là thơ của nhiều người, nhiều nhà, nhiều thời. những cổ mẫu đánh thức và đan xen những nét độc đáo trong thơ ông, giúp thơ Nguyễn binh không chỉ ngang tầm dân tộc mà còn ngang tầm con người.

  1. đánh giá tập thơ “hồn tôi” của Nguyễn Binh, nhà văn thach lam thay mặt hội đồng giám khảo giải “Văn học tự lực văn đoàn, 1937”, đã nhận xét: “Ông Nguyễn binh sẽ trở thành một nhà văn tương lai “(26). Còn nhà phê bình thơ mới đương thời đánh giá: nguyễn binh thật sự là một nhà thơ với những câu thơ tuyệt vời (27). Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã đặt một câu hỏi và tự trả lời: “Cho đến ngày nay, có nhà thơ nào ở Lục bát mà người ta biết đến nhiều như Trạng nguyên không?” (29).
  2. cũ>

    thật nhiều cảm nhận, đánh giá, càng chứng tỏ: nguyễn binh đã, đang và sẽ là thi sĩ của muôn đời! Với ý nghĩa và tầm vóc mà thơ Nguyễn Bính có được, nhu cầu dịch và giới thiệu rộng rãi thơ Nguyễn Bính ra cộng đồng quốc tế là rất cần thiết. Mong nhân loại hiểu hơn về tầm vóc của Việt Nam!

    b.m.n

    Tham khảo: Nhà thơ nguyễn huy hoàng đã tìm được con gái

    Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Nguyễn bính là nhà thơ mới hay cũ. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

    Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

    Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

    Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.