Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
78 lượt xem

Giới thiệu nhà văn liệt sĩ Nam Cao

Bạn đang quan tâm đến Giới thiệu nhà văn liệt sĩ Nam Cao phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Giới thiệu nhà văn liệt sĩ Nam Cao

giới thiệu nhà văn, liệt sĩ Cao, người con của làng vu đại

nha van nam caoNam Cao (1915 – 1951) là bút danh của nhà văn – nhà báo – liệt sĩ Trần Hữu Tri. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, nay thuộc Hòa Hậu, Lí Nhân, Hà Nam (cách TP. Nam Định 5 km)

Sau khi học xong, anh đã đi nhiều nơi, nhưng bệnh tật buộc anh phải về quê. Từ đó, Nam Cao lăn lộn với công việc dạy học và viết văn. năm 1943 ông tham gia hội văn nghệ cứu quốc. tham gia tổng khởi nghĩa tại quê hương, được cử làm chủ tịch xã.

Bạn đang xem: Nhà văn nam cao

xem thêm: món cá kho nổi tiếng quê hương nam cao

tour tham quan làng vu đại

Tham khảo: Tiểu sử nhà thơ Matsuo Basho (Mát-su-ô Ba-sô) – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng

i. cuộc đời và con người 1. tóm tắt tiểu sử sau cách mạng, làm phóng viên: nam cao có mặt trong đoàn quân nam tiến, sau đó vào chiến khu việt bắc làm công tác văn hoá. Cuối tháng 11 năm 1951, trên đường đi công tác ở vùng bị địch tạm chiếm, Nam Cao đã anh dũng hy sinh tại làng Vũ Đại, huyện Gia Viễn, Ninh Bình, khi tài năng của ông đã nở rộ; mới đây (1998), phần mộ của ông đã được đưa về quê hương. Ông là nhà văn xuất sắc của dòng văn học hiện thực (1940 – 1945), người đi tiên phong trong việc xây dựng một nền văn học nam tính mới có tầm cao. Di cảo Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật. (giai đoạn 1196).

đọc: chi phèo tác phẩm của cao nhân

2. Những người đã sống và chiến đấu với cao nhân có thể thấy rõ ba đặc điểm trong nhân cách của ông. Bề ngoài, người đàn ông cao lớn có phần gượng gạo, ít nói, lạnh lùng nhưng bên trong lại luôn sôi nổi, căng thẳng. trong đó, thường xuyên xảy ra xung đột gay gắt giữa “lòng nhân đạo và lòng ích kỷ, giữa dũng khí và hèn nhát, giữa chân lý và giả dối, giữa khát vọng cao cả và dục vọng vụn vặt”. những trang viết về kiến ​​thức kém thể hiện rõ những đặc điểm trên ở những người đàn ông cao lớn.

cuộc đời và sự nghiệp văn chương của nhà thơ xuan dieunam cao sống thương người nghèo khổ, bị áp bức, khinh miệt. Anh nói không có tình yêu thì không đáng gọi là người. trước cách mạng, nam cao có những nỗi niềm u uất của một trí thức tài hoa địa vị thấp kém, nhưng không phụ bạc, “ngất ngưởng” như nguyễn phục tùng… trong bất cứ hoàn cảnh nào, ông vẫn giữ trọn tấm lòng nhân hậu, nhân hậu, hiền hậu. . Tôi không muốn ăn một bát cơm ngon chỉ cho riêng mình, tôi muốn chia đều cho cả nhà … vì vậy, viết về người nghèo, ngòi bút của người đàn ông cao lớn luôn chứa đựng sự xót thương và cảm thông …

đã đọc: công việc không tốt

Ông luôn luôn trăn trở, suy tư về bản thân và cuộc sống. Vì thế, từ những chuyện nhỏ nhặt, thường ngày, Nam Cao nêu được nhiều vấn đề xã hội lớn lao, nhiều bài học triết lý sâu sắc. Với mình thì khiêm nhường, với người thì trân trọng. Đánh giá văn học thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, ông viết “Nguyễn Huy Tưởng dẫn đầu … Tố Hữu, Kim Lân thứ nhì; Nam Cao bét, bởi vì xét ra vẫn cũ…”Ba đặc điểm trên đây ảnh hưởng nhiều đến phong cách sáng tác của Nam Cao.II. Sự nghiệp văn họcMười năm cầm bút, Nam Cao để lại cho đời một khối lượng sáng tác khá đồ sộ – “Toàn tập Nam Cao” gồm 1400 trang được hoàn thiện năm 1999.1. Quan điểm nghệ thuậtSinh thời, Nam Cao thường suy nghĩ về vấn đề “sống và viết”. Sự nghiệp của ông bắt đầu bằng các trang văn lãng mạn. Lúc này, quan điểm sáng tác lãng mạn ảnh hưởng đến Nam Cao khá rõ. Nhưng rồi, tác giả nhận ra: văn chương lãng mạn có phần xa lạ với đời sống lầm than, nhà văn lãng mạn thoát li không ưa sự thật; âm điệu ảo não, thất tình tràn đầy các trang sách của họ.phong cách nghệ thuật của nam caoSau bao trăn trở, khi nhận ra: “nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối”, Nam Cao khước từ chủ nghĩa lãng mạn để coi trọng nghệ thuật hiện thực vị nhân sinh. Trong thời kì này, “Trăng sáng” (1943) được xem là một tuyên ngôn nghệ thuật. Truyện ngắn trên đánh dấu bước trưởng thành của Nam Cao về quan điểm sáng tác. Nó thể hiện cuộc đấu tranh day dứt của nhà văn Điền trước hai lối viết, hai cách sống (mơ mộng hay thực tế; lãng mạn hay hiện thực …). Qua Điền, Nam Cao thiết tha khẳng đinh: “nghệ thuật có thể chỉ là tiếng kêu đau khổ kia toát ra từ những kiếp lầm than”. Vì thế, văn nhân không được “trốn tránh” sự thật, mà “cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời”. Sau “Trăng sáng”, Nam Cao là nhà văn hiện thực – người thư kí trung thành của thời đại. Với quan niệm “chỉ tả được cái bề ngoài của xã hội”, văn chương sẽ không có giá trị, ông nghĩ: viết thì “rất cần sự thực”. Từ những việc nhỏ nhoi, xoàng xĩnh, người sáng tác phải nêu được những vấn đề có ý nghĩa xã hội.

XEM THÊM:  Thuyết minh về một nhà văn nhà thơ

Xem thêm: Hoàng Nhuận Cầm và những bài thơ tiên tri viết về sự ra đi của mình

đọc tác phẩm: cái chết của con mực một tác phẩm văn học có giá trị phải thể hiện được một nội dung nhân văn sâu sắc, “nó chứa đựng cái gì đó lớn lao, hùng tráng và vừa phải”. nó đề cao lòng nhân từ, bác ái, công lý… nó đưa con người đến gần con người hơn ”(lãnh đạo). Trước cách mạng, nam cao đã coi trọng con mắt nhân ái của mình và khẳng định: nhà văn phải là nhà nhân đạo. qua “ánh trăng”, “kiếp phụ”,… ông muốn văn học phản ánh cuộc sống của những tầng lớp thấp trong xã hội. Từ Bi kịch quê hương, Nam Cao khuyên nhà văn nên tạm hy sinh nghệ thuật để duy trì lối sống nhân đạo, hơn hết Nam Cao coi văn học là nghề sáng tạo, nhà văn là người sáng tạo. Tất nhiên, làm nghề gì cũng phải sáng tạo, nhưng yêu cầu này đối với các tác giả mỹ thuật khắt khe hơn nhiều. trong cuộc sống, sáng tạo có nghĩa là làm ra những sản phẩm tinh thần và vật chất chưa từng có; nhà văn phải biết tìm tòi, “khơi nguồn chưa khơi, sáng tạo những gì chưa được”… đối lập với sáng tạo là sự lười biếng trong nghề văn không những “đê tiện” mà còn là “hèn hạ”.

cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ xuan quynhnam cao đã thực hiện ba quan điểm trên vào từng trang sách. Ông không chỉ xây dựng những nhân vật điển hình chưa từng có (chưa từng thấy) mà còn là người đầu tiên phản ánh sâu sắc hiện tượng người nông dân lương thiện biến thành yêu quái, người trí thức tài hoa đấu tranh với bi kịch tinh thần để bảo vệ nhân cách.

truyen chi pheo cua nam caoTrước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao sáng tác theo quan điểm hiện thực phê phán. Tuy vậy, nhiều trang viết của ông đã hé lộ nhân tố mới (Chí Phèo thức tỉnh, giết bá Kiến). Sau 1945, đặc biệt là từ kháng chiến chông Pháp, ông nêu quyết tâm: “sống đã rồi hãy viết”. “Sống” là cầm súng chiến đấu giải phóng dân tộc, sẵn sàng làm anh “tuyên truyền viên nhãi nhép” đem ngòi bút phục vụ công nông binh (Đôi mắt; Ở rừng). Ông vui vẻ nhận ra “góp sức vào công việc không nghệ thuật lúc này chính là để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn”. Quan điểm tiến bộ trên đây giúp Nam Cao thành nhà văn cách mạng, nghệ sĩ chân chính của thời đại.2. Các đề tài chính trong sáng tác của Nam Cao trước Cách mạngTrước 1945, tài năng Nam Cao kết tinh trong gần 60 truyện ngắn, một truyện vừa (Chuyện người hàng xóm), và tiểu thuyết Sống mòn. Tác phẩm của ông chủ yếu xoay quanh hai đề tài: người tri thức nghèo và nông dân bần cùng.Ở đề tài thứ nhất, ấn tượng hơn cả là:- Những truyện không muốn viết (1942)- Trăng sáng (1943)- Đời thừa (1943)- Quên điều độ (1943) -Sống mòn (tiểu thuyết – 1944).Qua các trang viết trên, Nam Cao miêu tả sâu sắc tấn bi kịch tinh thần của người tri thức nghèo trong xã hội cũ. Đó là những “giáo khổ trường tư”, nhà văn túng quẫn, viên chức nhỏ – nghèo… Qua họ, ông nêu lên nhiều triết lí sâu sắc, có ý nghĩa xã hội to lớn. Trí thức trong sáng tác của Nam là những người có tài năng, tâm huyết, biết tự trọng và ôm ấp hoài bão lơn lao (xây dựng một sự nghiệp tinh thần cao quý) nhưng không thực hiện được vì nạn áo cơm ghì sát đất. Hộ thiết tha viết tác phẩm ăn giải Nô-ben; Thứ mong muốn được đóng góp công sức làm đổi thay nền giáo dục để xã hội công bằng. Vậy mà cả hai đều bị dồn vào tình trạng “chết mòn”, phải sống như “một kẻ vô ích, một người thừa”. Qua đề tài này, Nam Cao phê phán xã hội cũ giết chết tài năng, tàn phá tâm hồn nghệ sĩ. Ông cũng thể hiện thành công quá trình người trí thức tự đấu tranh, khắc phục mặt hạn chế, vươn lên giữ lối sống đẹp.Ở đề tài thứ hai, Nam Cao viết chừng hai mươi truyện ngắn phản ánh cuộc đời tăm tối, số phận bi thảm của người nông dân; tiêu biểu là:- Chí Phèo (1941)- Trẻ con không được ăn thịt chó (1942).- Lão Hạc (1943)- Một bữa no (1943)- Một đám cưới (1944)Trong đó,”Chí Phèo” xứng đáng là kiệt tác. Viết về đề tài này, Nam Cao khắc họa bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam xơ xác , bần cùng trong khoảng thời gian 1940 -1945. Ông đặc biệt quan tâm tới tình trạng nghèo đói và quá trình một bộ phận thấp cổ bé họng bị tha hóa, bị cự tuyệt quyền làm người. Càng hiền lành họ càng bị chà đạp phũ phàng. Viết về nông dân, Nam Cao kết án đanh thép xã hội thực dân phong kiến đã huỷ hoại nhân hình, sói mòn nhân tính của những con người lương thiện. Không “bôi nhọ” nông dân, ông đi sâu vào nội tâm nhân vật để phát hiện, khẳng định nhiều phẩm chất cao cả của những người bị xã hội dập vùi.

XEM THÊM:  Phong cách sáng tác của nhà thơ Tố Hữu? Những đặc trưng nổi bật

lão hạc nam caoĐó là hai đề tài quen thuộc, nhưng vì biết khơi những nguồn chưa ai khơi, Nam Cao vẫn tạo được sự hấp dẫn. Viết về nông dân hay trí thức, sáng tác của Nam Cao luôn luôn thể hiện nỗi băn khoăn day dứt trước số phận con người và thường lấy nguyên mẫu từ quê hương, bản thân. Sáng tác của ông chứa đựng nội dung triết học sâu sắc.Sau Cách mạng, Nam Cao vẫn tiếp tục viết về nông dân, trí thức với “đôi mắt” mới.

cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ phiêu bạt gần 3. Nghệ thuật viết truyện của Nam Cao có biệt tài phân tích và miêu tả những diễn biến tâm lí phức tạp, những ngóc ngách sâu thẳm nhất của tâm hồn con người. nhờ đó, ông đã khắc họa những tấm gương độc đáo. thấu hiểu nhân vật, nam cao tạo ra nhiều đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm rất chân thực, sinh động. Truyện ngắn của Nam Cao mang tính triết lí sâu sắc mà không hề khô khan. lọc qua trái tim chất chứa nỗi đau, sự day dứt,… lời nam cao kết hợp hài hòa giữa triết lí và trữ tình. Nam Cao đã biết chuyển đổi giọng điệu một cách linh hoạt. ông sử dụng một cách có ý thức hai giọng chính: giọng trần thuật lạnh lùng và châm biếm. ở đây, tác giả thường dùng những đại từ mang sắc thái thờ ơ, hàm súc (anh, và, thị …) – Giọng trữ tình nghiêm túc với các liên từ: ơi! Ồ! ôi, hai giọng điệu đối lập ấy hòa quyện vào nhau tạo nên một phong cách riêng cho những trang nam cao. nói về truyện, phải nói rằng: nam cao đã có đóng góp to lớn cho sự phát triển của ngôn ngữ văn xuôi. . ngay cả nam cao, truyện cổ nước nhà thực sự hoàn thiện một quá trình hiện đại, nam cao xứng đáng là một tác gia lớn; để lại nhiều kiệt tác. trong cuộc sống, trang văn của ông cao là tấm gương sáng về nhiều mặt cho văn nghệ sĩ muôn đời.

giới thiệu món cá kho quê nam cao4. Phong cách nghệ thuậtPhong cách nghệ thuật của nhà văn là những đặc điểm nội dung, hình thức riêng bào trùm toàn bộ sáng tác của họ. Trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, Nam Cao là cây bút có phong cách độc đáo.Viết về nông dân hay trí thức, Nam Cao quan tâm tới đời sống tinh thần của họ và đặc biệt hứng thú với việc khám phá “con người trong con người” (sau vẻ bề ngoài của Chí Phèo, thị Nở, lang Rận… còn có một con người khác mà chỉ những ai cố công tìm hiểu mới phát hiện được) Ông quan niệm “bản tính cốt yếu của sự sống là cảm giác và tư tưởng” (Sống mòn). Cảm giác, tư tưởng càng sâu sắc, linh diệu thì sự sống càng cao. Vì thế, Nam Cao đặc biệt chú ý tới chiều sâu bên trong của con người, coi đó là nguyên nhân của hành động.Với quan niệm về con người như thế, Nam Cao có khuynh hướng tìm vào nội tâm. Ông có sở trường và biệt tài diễn tả, phân tích tâm lý. Nội tâm nhân vật thành trung tâm chú ý, đối tượng trực tiếp của ngòi bút Nam Cao. Ông đặc biệt sắc sảo khi thể hiện những quá trình tâm lý phức tạp (quỷ dữ thức tỉnh; hiện tượng dở say dở tỉnh; cá tính chấp chới giữa thiện – ác, hiền – dữ, người – vật… Để đi vào chiều sâu không cùng của nội tâm, Nam Cao thường sử dụng những đoạn độc thoại nội tâm chân thật, sinh động.Mặt khác, trong kết cấu – ông thường đảo lộn trật tự thời gian, không gian, tạo nên kiểu kết cấu tâm lý phóng khoáng, linh hoạt mà vẫn nhất quán, chặt chẽ. Về đề tài, ngòi bút Nam Cao cũng quan tâm đến “Những chuyện không muốn viết” – chuyện nhỏ nhặt, thường ngày. Từ đó, ông đặt ra những vấn đề xã hội, con người, cuộc sống và nghệ thuật chân chính.Kể chuyện bằng ngôi thứ nhất hay thứ ba, Nam Cao vẫn là nhà văn có giọng điệu riêng:- Triết lí, mỉa mai, chua chát;- Dửng dưng, lạnh lùng mà tràn đầy thương cảm, đằm thắm, thiết tha…Kết luận:Hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc khi mới 37 tuổi, Nam Cao chưa biết ông được tôn vinh là nhà văn lớn. Hơn nửa thế kỉ đã qua đi, tác phẩm của Nam Cao càng khẳng định giá trị hiện thực sâu sắc, tư tưởng nhân đạo cao cả và vẻ đẹp nghệ thuật điêu luyện, độc đáo.

câu chuyện “kể từ ngày mẹ tôi mất” – nam cao

“a sudan story” của man cao

Tham khảo: Giới thiệu về nhà thơ trần đăng khoa

  • giới thiệu nam văn cao,
  • nam văn cao,
  • tác giả truyện chí phèo,
  • cuộc sống gia đình văn nam cao,
  • phân tích nghệ thuật nam cao,
  • tiểu sử nam cao,
  • đại lão làng vu đại,
  • nam cao là ai

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Giới thiệu nhà văn liệt sĩ Nam Cao. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.