Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
112 lượt xem

Phân tích 2 khổ thơ đầu bài tràng giang

Bạn đang quan tâm đến Phân tích 2 khổ thơ đầu bài tràng giang phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Phân tích 2 khổ thơ đầu bài tràng giang

phân tích hai khổ thơ đầu của bài thơ nhà thơ chạy trốn để thấy được những cảm xúc suy ngẫm của tác giả, thấy được cái tôi quá nhỏ bé so với vũ trụ mà tác giả muốn gửi gắm qua bài thơ. Sau đây là dàn ý phân tích 2 khổ đầu của bài thơ cùng với các bài văn mẫu phân tích 2 khổ đầu của bài thơ sẽ giúp các em học sinh có thêm nhiều ý tưởng khi làm bài.

  • 7 bài phân tích tiểu luận hàng đầu
  • 5 bài phân tích bài luận hàng đầu, phân tích đoạn thứ hai

Để giúp các bạn học sinh hiểu rõ hơn về ý nghĩa của 2 khổ thơ đầu, hoatieu xin chia sẻ những bài văn mẫu nghị luận về 2 khổ thơ đầu của bài thơ theo nội dung dưới đây, mời các bạn cùng tham khảo.

Bạn đang xem: Phân tích 2 khổ thơ đầu bài tràng giang

1. tóm tắt phân tích 2 khổ thơ đầu của bài văn ngắn

tôi. giới thiệu: giới thiệu hai khổ thơ đầu của bài thơ trang giang

ii. thân bài: phân tích 2 khổ thơ cuối của bài thơ trang giang

1. khổ thơ 1: hình ảnh thiên nhiên bao la, vô tận

các vòng nước đuổi nhau đến tận chân trời

xuyên suốt khổ thơ cũng thể hiện nỗi buồn vô hạn của tác giả

sự bỏ mặc bồng bềnh của tác giả trên dòng sông đầy mê hoặc

tâm trạng ly tán, phân tán

2. khổ thơ 2: không gian và thời gian qua bài thơ

không gian hoang vắng và hiu quạnh

không gian yên tĩnh và tĩnh lặng

không gian được đẩy lên vô tận

phong cảnh khiến con người trở nên nhỏ bé

iii. kết bài: nêu cảm nhận của em về 2 khổ thơ đầu của bài thơ Tràng giang

2. lược đồ chi tiết câu 1 2 của bài hát

a) giới thiệu:

– giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm

+ huy hulan là một trong những nhà thơ mới nổi tiếng với những tác phẩm mang phong cách riêng.

<3

– giới thiệu 2 khổ thơ đầu: 2 khổ thơ đầu đã gợi ra một không gian bao trùm nhưng tâm trạng con người lại có cảm giác buồn, cô đơn, nỗi buồn dường như trải dài vô tận.

ví dụ:

một trong những nhà thơ mới nổi tiếng là nhà thơ thơ lục bát, mỗi bài thơ có một phong cách riêng. Thơ của Huian có một phong cách triết lý súc tích và phục vụ cho cách mạng nước ta. một trong những tác phẩm thơ nổi tiếng là trang giang, đoạn thơ nằm trong tập thơ Lửa thiêng. bài thơ tả cảnh mùa thu năm 1939, được sáng tác khi tác giả nhìn ra bờ sông đỏ ngầu dưới làn nước mênh mông. đặc sắc nhất là hai khổ thơ đầu của bài thơ “Tràng giang”. Hãy cùng tìm hiểu khổ thơ cuối của bài thơ để hiểu rõ hơn về phong cách thơ chạy trốn.

b) thân bài: phân tích 2 khổ cuối của bài thơ Tràng giang

* khổ thơ 1: hình ảnh thiên nhiên bao la, vô tận

các vòng nước đuổi nhau đến tận chân trời

xuyên suốt khổ thơ cũng thể hiện nỗi buồn vô hạn của tác giả

sự bỏ mặc bồng bềnh của tác giả trên dòng sông đầy mê hoặc

tâm trạng ly tán, phân tán

* khổ thơ 2: không gian và thời gian qua bài thơ

không gian hoang vắng và hiu quạnh

không gian yên tĩnh và tĩnh lặng

không gian được đẩy lên vô tận

phong cảnh khiến con người trở nên nhỏ bé

c) kết luận:

– Nêu cảm nhận của em về hai khổ thơ đầu của bài thơ.

ví dụ:

Hai khổ thơ đầu của bài thơ Tràng giang thể hiện hình ảnh không gian và thiên nhiên vô tận của cảnh núi rừng. Ngoài ra, tác giả còn thể hiện tình yêu quê hương, đất nước.

qua bài thơ, chúng ta có thể hiểu được phong cách thơ nổi bật của tác giả Chạy trốn.

3. phân tích 2 câu thơ đầu của bài ca dao ngắn hơn

Là một trong những nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ mới, Hoàng đã để lại nhiều tác phẩm đặc sắc cho kho tàng văn học Việt Nam. bài thơ “Tràng giang” được ông viết vào thời kỳ trước cách mạng với một nỗi buồn man mác, bế tắc của một kiếp người, trôi nổi vô tận. nỗi buồn ấy được thể hiện rất rõ trong hai khổ thơ đầu.

ở đầu bài thơ, người đọc có thể bắt gặp những hình ảnh rất đỗi quen thuộc: sóng, thuyền, sông khơi gợi bao cảm xúc:

“những con sóng lăn tăn trên sông với thông điệp con tàu xuôi theo dòng nước song song”

Tác giả khéo léo sử dụng chữ Hán Việt “ang” cho danh từ “trang giang” để gợi lên một không gian rộng lớn, choáng ngợp. đây cũng là một trong những phong cách thơ trốn chạy rất nổi bật. lúc này tâm trạng của nhà thơ trở thành “buồn điệp điệp”: nỗi buồn trở nên cụ thể, như sóng vỗ vào nhau nối tiếp nhau vào bờ. nỗi buồn ấy dường như tồn tại mãi, cháy bỏng và đọng lại trong lòng tác giả. từ “song song” dường như ám chỉ hai thế giới, mặc dù luôn ở cùng nhau, nhưng không bao giờ gặp nhau.

Qua 2 câu thơ, tác giả đã cho ta thấy được sự lẻ loi, lẻ loi của con thuyền trên sông, là hình ảnh ẩn dụ cho hình ảnh lẻ loi của con người giữa dòng sông cuộc đời. huy cận sử dụng thành công nghệ thuật tương phản tạo nét cổ kính cho câu thơ. thuyền và nước luôn gắn bó mật thiết nhưng qua cách thể hiện của nhà thơ, chúng hành động đối lập, lạc nhịp, gợi cảm giác xa cách, cô đơn,

“Thuyền về đồng buồn, mấy dòng lạc một cành tàn”

Có lẽ chạy trốn là người đầu tiên sử dụng hình ảnh cành củi khô trong thơ ông, một hình ảnh độc đáo và táo bạo. tác giả muốn cho mọi người thấy được sự tiến bộ trong phong trào thơ mới, khi xưa, những điều tầm thường ít khi được phép làm. hình ảnh củi khô giữa đời thường với vẻ đẹp giản dị lại có giá trị biểu cảm ghê gớm. huy near đã khéo léo sử dụng nghệ thuật đảo ngữ và những từ đơn chọn lọc để diễn tả sự cô đơn của cảnh củi khô trôi trên dòng nước vô tận.

Trong khổ thơ thứ hai, tác giả tả cảnh vắng vẻ, vắng vẻ với một không gian thoáng đãng:

“cơn gió nhỏ buồn vu vơ

đâu là âm thanh của thị trấn ngoài chợ tối

mặt trời lặn và bầu trời sâu thẳm

sông dài, trời rộng, bến vắng ”

những từ lóng “thơ mộng”, “duyên dáng” gợi lên sự nhỏ bé, lầm lũi giữa một không gian bao la và vô tận – đây là nhận thức bằng hình ảnh. Ngoài thị giác, tác giả còn có thính giác với những âm thanh của cuộc sống và những âm thanh của phố thị xa chợ chiều. màu nắng chiều, cảnh sông dài, trời rộng, bến vắng thể hiện sự cô đơn, buồn tủi của con người trước cuộc đời. độc giả có thể dễ dàng cảm nhận được nỗi sợ hãi vô vọng của tác giả khi không tìm được mối liên hệ nào với cuộc sống.

Hai khổ thơ đầu của bài thơ “Tràng giang” của tác giả mang đến một không gian choáng ngợp với nỗi buồn, nỗi cô đơn kéo dài vô tận. một nỗi cô đơn, lẻ loi của một con người giữa dòng đời xô bồ, không tìm được sự kết nối với thế giới bên ngoài. có lẽ vì vậy mà tác phẩm luôn được nhiều độc giả yêu thích, không bị lớp bụi thời gian làm mờ đi.

4. phân tích 2 khổ thơ đầu của bài thơ “văn mẫu 1

“trong cánh đồng văn chương màu mỡ, người nghệ sĩ như hạt bụi bay khắp không trung để tìm lại những dư vị còn sót lại”. với huy cận anh tìm về chốn êm đềm của quê hương, miền quê ấy là dòng sông đỏ nặng phù sa, từ đó anh khơi nguồn cảm hứng và lưu lại “trang giang” được thể hiện trong hai khổ thơ đầu của bài thơ.

“thơ là tiếng nói của tình cảm và cảm xúc. nếu không có cảm xúc thì người nghệ sĩ không thể sáng tạo nên những vần thơ hay những dòng chữ chỉ là những dòng chữ trên trang giấy ”. Trước hết, nhà thơ phải là người có tâm hồn, giàu rung động, thấu cảm trọn vẹn với những khoảnh khắc của cuộc đời thì cảm xúc mới dạt dào. chính những cảm xúc ấy đã thôi thúc tác giả viết về quê hương bằng những hình ảnh thiên nhiên quen thuộc. gần gũi với cảm xúc, anh đã chuyển cảm xúc thành thơ. và trang giang là một trong những tác phẩm xuất sắc của ông, bài thơ giàu cảm xúc, vào một buổi chiều năm 1939 tác giả đứng trên bờ nam bến tàu, đối diện với mênh mông sông nước đỏ hồng, cảm xúc của thời thế đã thay đổi. , nhà thơ thấy cái tôi của mình quá nhỏ bé với vũ trụ bao la. đó là lý do ông viết bài thơ này, và hai khổ đầu của bài thơ là cảnh sông nước đỏ mênh mông, những nỗi niềm xa xưa của nhà thơ trước cảnh vật.

“những con sóng lăn tăn mang theo nỗi buồn và nỗi buồn

thuyền đi xuôi dòng nước song song

con tàu về quê lại buồn

một số dòng bị mất trong một số dòng gỗ khô

thơ cồn nhỏ.

đâu là âm thanh của thị trấn ngoài chợ tối

mặt trời lặn và bầu trời sâu thẳm

sông dài, trời rộng, bến vắng ”

cảnh mở đầu là cảnh con sông lớn đỏ ngầu sóng vỗ, trong khổ thơ đầu tác giả sử dụng hàng loạt từ láy: “thuyền, nước” là những từ ngữ mà các thi nhân xưa dùng để miêu tả khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp. Đây giống như một bức tranh màu nước, toàn cảnh sông nước thơ mộng, êm đềm nhưng buồn đến tê tái. Nói về nỗi buồn ấy, Hoài Thanh nhận xét: “Thiên nhiên trong thơ đẹp nhưng thấm đẫm một nỗi buồn nhức nhối”. nỗi buồn đó được huy trốn giải thích rằng “lúc đó chúng tôi có một nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lối thoát nên cứ kéo dài mãi”. đó là nỗi buồn của những con người sống trong cảnh nước mất nhà tan, có lẽ vì thế mới có nỗi buồn mênh mang sông nước.

“những con sóng lăn tăn trên sông với thông điệp con tàu xuôi theo dòng nước song song”

Từ “thông điệp” là để mô tả những làn sóng lan truyền hết lớp này đến lớp khác, không ngừng. điệp buồn miêu tả nỗi buồn của thiên nhiên, nhưng thực chất nó đang diễn tả nỗi buồn của một thi nhân đang nhấp nhô theo từng đợt sóng. sóng vỗ bờ. tàu và nước là hai cảnh luôn song hành, không bao giờ xa nhau, nhưng trong mắt quân lại trở nên cô đơn, lạc lõng. từ đó, nỗi đau của nhà thơ lan tỏa ra vũ trụ “trăm nỗi đau” nơi không gian mở rộng, trải dài. nên hình ảnh này gợi cho ta liên tưởng đến hai dòng trong bài thơ “Trăng trên cao” của Đỗ Phủ

“những năm tháng mơ ước vô tận về sự hủy diệt vô tận của giang sơn cổ đại”

con tàu là sự hiện diện của sự sống con người, nhưng rồi sự xuất hiện đó chỉ thoáng qua trong chốc lát, rồi nó làm tổ trên bờ. trở về bình yên, nhìn những con sóng “tầu trên nóc nhà” đây là liên tưởng đến cuộc đời trôi nổi lạc lối, có lẽ tác giả cũng đã từng sống trong hoàn cảnh đó.

“Thuyền về đồng buồn, mấy dòng lạc một cành tàn”

Trong hai câu thơ này, sự tương phản được sử dụng rất táo bạo. vừa đối lập vừa đối lập nhưng câu thơ vẫn cân đối hài hòa giữa con thuyền và cành củi khô trôi trên sông. trong thơ tản cư, ông nói nhiều đến nỗi buồn xa xưa, nỗi buồn của mùa thu. đến bài thơ này ta lại thấy một cái dở khác là “buồn trăm ngả”, không chỉ với ba chữ này, ta đã thấy nỗi sầu của nhà thơ lan tỏa khắp cảnh vật nơi đây. Nếu như trong thơ cổ, các thi nhân thường sử dụng những chất liệu như tùng, cúc, trúc, mai làm chất liệu để sáng tác thì ở đây lại đưa vào bài thơ một hình ảnh “củi khô” rất dân dã và quen thuộc bình luận về cành củi. Mạnh đã viết “lần đầu tiên trong lịch sử thơ ca nhân loại có một cành khô trôi giữa dòng trong thơ Huệan”. cũng giống như nỗi buồn của kiếp người trong xã hội xưa, khổ thơ này được coi là khổ thơ đặc sắc nhất của bài thơ, bởi ở đây mang âm điệu trầm buồn, người ta thấy cảnh sắc thiên nhiên đượm buồn, cảnh vật nơi đây bao la, dài miên man. . , trời rộng sông dài thể hiện sự mênh mông, trống trải, thể hiện nỗi buồn vô tận của cảnh xa vắng và cảnh sông hồng.

với nỗi buồn xưa cũ ấy, nỗi buồn mùa thu ấy, nỗi buồn ấy nhân lên gấp bội. bức tranh sông nước vẽ thêm đất, thêm phố nhưng vẫn buồn đến tê tái, nỗi buồn ấy được gợi lên từ những cồn nhỏ, thêm vào đó là làn gió nhẹ thổi qua, sự tĩnh lặng của cảnh vật,

“bỏ qua những cồn nhỏ, nơi âm thanh phố thị xa chợ chiều”

huy near nói rằng anh ấy đã đọc được hai chữ buồn đó của vợ mình

“trăng lẻ loi trăng treo bên gió thổi mấy gò”

Xem thêm: Viết bài tập làm văn số 6 văn nghị luận

Cảnh chinh phạt vắng lặng và hiu quạnh, nhưng cảnh bên sông vắng lặng và hiu quạnh hơn. từ ngữ thơ lơ lớ gợi tả sự khan hiếm, lẻ tẻ của những đụn cát nhỏ mọc giữa màu trắng xanh, diễn tả nỗi buồn thấm vào từng cảnh vật cùng làn gió nhè nhẹ, nhà thơ muốn tìm hơi ấm của con người để xoa dịu nỗi đau. cái lạnh, chỉ ở đây nhưng

“Đâu là âm thanh của thị trấn ngoài chợ tối”

không xác định được đâu là âm thanh của khu chợ, ngày xưa nguyễn trai đã sử dụng âm thanh đó trong cảnh ngày hè

“Chợ cá vui vẻ ở làng chài”

Âm thanh của khu chợ đã biến mất và không thể xác định được. do đó nhà thơ dùng động tác tĩnh để diễn tả nỗi buồn sâu thẳm của nhà thơ, hai dòng thơ tiếp theo, hình ảnh con sông đã dạt dào vô tận.

“mặt trời lặn, trời thăm thẳm, sông dài, trời rộng cô đơn”

ở đây, huy cận miêu tả không gian ba chiều giữa cảnh và người, nhà thơ như một vật nhỏ chới với giữa bến với những tia nắng trên trời chiếu xuống mặt đất xanh nhạt, gợi nhớ. bầu trời xanh được đẩy lên cao hơn, xa hơn. ở đây tác giả không dùng từ “cao vút” mà dùng từ “thăm thẳm” để gợi tả độ cao của trời xanh, từ đó cho ta thấy trước khung cảnh ấy con người lại càng lạc lõng, đơn độc. chính sự thất lạc ấy đã tạo cho hai khổ thơ này một nỗi buồn tê tái, thấm đẫm tình cảm của nhà thơ và nỗi buồn ấy chứa đựng nỗi buồn bất diệt, vĩnh hằng của tác giả.

Thành công của hai câu thơ là sự sáng tạo nghệ thuật, là sự kết hợp hài hoà giữa cái cổ điển và cái hiện đại. sử dụng nhiều chất liệu thơ cổ, từ ngữ giản dị, giàu hình ảnh. Sưu tầm những trang thơ của Huy Cận, chúng ta không thể không quên nỗi buồn tê tái của nhà thơ trước cảnh nước mất nhà tan. Bài thơ mang đậm phong cách của Huian và là một dấu son chói lọi trong thơ ca Việt Nam và trong lòng người đọc.

5. phân tích 2 khổ thơ đầu của bài thơ “văn mẫu 2”

huy cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ mới (1930-1945) với những tác phẩm kết hợp giữa yếu tố hiện đại và cổ điển. phong cách sáng tác của ông có sự khác biệt lớn gắn liền với hai thời kỳ: trước cách mạng tháng Tám và sau cách mạng tháng Tám. có thể nói đó là sự chuyển mình từ không khí u uất, buồn bã của thời tiền khởi nghĩa sang không khí hân hoan sau cách mạng gắn với công cuộc đổi mới. bài thơ “Tràng giang” được viết vào thời kỳ tiền khởi nghĩa với nỗi niềm, gợi lên sự bế tắc trong cuộc đời chìm nổi của con người. bài thơ để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc khó tả.

Ngay từ nhan đề bài thơ, tác giả đã có thể khái quát những tư tưởng, tình cảm chính của bài thơ. hai chữ “trang giang” có thể nói là cả một dòng sông dài, mênh mông vô bờ bến. từ hán việt này gợi cho người ta nhớ đến những bài thơ tang của Trung Quốc. nhưng cũng chính dòng sông này gợi lên trong tâm trí người trong cuộc khi muốn nhắc đến những thân phận bé bỏng sống trôi dạt trong dòng sông dài suy tư và dòng sông sầu muộn như thế.

XEM THÊM:  Viet bai tap lam van so 5 lop 7 de 2

nhan đề bài thơ “tiếc trời rộng thương nhớ sông dài” một lần nữa khái quát nên chủ đề của bài thơ là nỗi niềm không biết bày tỏ cùng ai khi đứng giữa trời đất bao la, rộng lớn. Toàn bộ bài thơ toát lên vẻ đẹp vừa hiện đại vừa cổ điển, đây cũng là nét đặc trưng của thơ Huian.

bước vào bài thơ, khổ thơ đầu tiên gợi cho người đọc một dòng sông đầy nỗi buồn sâu lắng:

những con sóng và những con sóng đau đớn

thuyền đi xuôi dòng nước song song

con tàu về quê lại buồn

một số dòng bị mất trong một số dòng gỗ khô

với hàng loạt từ u ám “buồn”, “hụt hẫng”, “đau đớn”, “lỡ mấy dòng” kết hợp với từ “điệp”, “song song” dường như lột tả được toàn bộ hào quang và nỗi buồn vô hạn, vô tận của tác giả. vào thời điểm bất công như vậy.

ngay trong khổ thơ đầu tiên, đoạn trailer cổ điển đã được pha trộn với hiện đại. tác giả đã mượn hình ảnh con thuyền xuôi ngược mái nhà và hơn hết là hình ảnh “củi khô” lênh đênh, đơn độc trên mặt nước mênh mông, vô tận, vô tận. sức gợi của câu thơ thật là xao xuyến, sông dài, sông lặng vẻ đẹp u sầu, khiến người đọc cảm thấy buồn bã, ủ rũ.

ban đầu, thuyền và nước là hai vật không thể tách rời, nhưng trong câu thơ tác giả viết “thuyền về quê buồn trăm phương”, không biết có sự nhầm lẫn nào đó, hay không. Đó là một cuộc chia ly không báo trước, thật buồn khi nghe và thật cô đơn. một nỗi buồn đến tận cùng, mênh mang với dòng sông chảy. đỉnh cao của khổ thơ là ở câu thơ cuối với hình ảnh “củi” gợi sự cô đơn, nhỏ bé, mong manh, trôi dạt khắp nơi. câu thơ có thể nói đã nói lên tâm trạng của các nhà thơ mới nói chung lúc bấy giờ, một con người muôn hình vạn trạng nhưng vẫn còn dài, vất vưởng giữa cuộc sống bộn bề như hiện nay.

Ở khổ thơ thứ hai, nỗi cô đơn dường như nhân đôi:

thơ cồn nhỏ.

đâu là âm thanh của thị trấn ngoài chợ tối

mặt trời lặn và bầu trời sâu thẳm

sông dài, trời rộng, bến vắng

hai dòng đầu của bài thơ phản ánh một khung cảnh buồn bã, hiu quạnh và vắng lặng của một thị trấn vô hồn. Đó có phải là quê hương của tác giả? hình ảnh “cồn nhỏ” nghe rõ tiếng gió sầu bên bờ và dường như mặc nhiên mang một nỗi buồn.

Thậm chí không thể nghe thấy một phiên chợ tối ồn ào ở phía xa, hoặc có thể khu chợ đó cũng buồn và cô đơn như phiên chợ này. một câu hỏi tu từ gợi nhiều cảm xúc, hỏi chính bản thân người hoặc tác giả. từ “đâu” hiện lên thật buồn và không còn chỗ đứng để bấu víu. khung cảnh hoang tàn, vắng vẻ của bến tàu không một bóng người, không một âm thanh thật buồn vui lẫn lộn.

Hai câu thơ cuối tác giả mượn hình ảnh trời và sông để gợi tả cái mênh mông vô tận. Nó không phải là bầu trời “cao” mà là bầu trời “sâu”, lấy chiều cao để đo chiều sâu thực sự là một tính năng tiện lợi. , tinh tế và độc đáo từ chạy trốn. hình ảnh sông nước mênh mông và từ “hiu quạnh” ở cuối đoạn dường như đã nói lên trọn vẹn nỗi buồn sâu kín không biết tâm sự cùng ai.

Ở khổ thơ thứ ba, tác giả muốn tìm hơi ấm giữa thiên nhiên hiu quạnh này, nhưng dường như thiên nhiên không như mọi người mong đợi:

bạn đi hết hàng này đến hàng khác

rộng mà không cần qua thuyền

đừng hỏi nỗi nhớ

bờ biển xanh êm đềm gặp bãi biển vàng

Ở khổ thơ thứ 3, người đọc dường như nhận thức được một sự thay đổi, chuyển động của thiên nhiên, không còn sự tĩnh lặng u uất và ảm đạm như ở khổ thơ thứ hai. từ “trôi” đã diễn tả rất tinh tế sự biến đổi này của vạn vật. tuy nhiên, từ ngữ gắn với hình ảnh “beo” này lại khiến tác giả thất vọng vì “beo” vốn dĩ vô định, nó trôi đi khắp nơi, không còn nơi bấu víu, nó chỉ lặng lẽ trôi “đâu”, chẳng biết trôi về đâu. Tôi biết tôi có thể đến đó bao lâu nữa. nước mênh mông không thuyền. tác giả chỉ đợi một chuyến phà để thấy rằng sự sống tồn tại, nhưng điều đó dường như là không thể.

muốn gửi gắm nỗi nhớ quê hương nhưng tác giả nhận lại là sự im lặng của vạn vật quanh đây, từ “tĩnh mịch” trở nên u ám, ảm đạm.

ở khổ thơ cuối, dường như văn phong của tác giả được đẩy lên quá giới hạn, những nét chấm phá rất hay:

các lớp mây đùn lên những ngọn núi màu bạc

con chim có đôi cánh nhỏ trong bóng hoàng hôn

Trái tim của đất nước đập cùng nước

không khói lúc hoàng hôn cũng hoài niệm

có thể nói những tâm tư, tình cảm của nhà thơ được truyền tải qua khổ thơ này. những nét chấm phá của “mây cao”, “núi bạc” như trong thơ tang càng buồn hơn. hình ảnh “chim chắp cánh” và “bóng xế chiều” là hình dung của tác giả về cái vô hình. Làm sao người ta có thể nhìn thấy bóng chiều tà, nhưng qua ngòi bút và con mắt của tác giả, người ta có thể hình dung bầu trời chiều đang dần buông xuống?

phân tích hai khổ đầu của bài thơ đầy chất thơ, nhưng hai dòng cuối là nỗi nhớ, nỗi nhớ của tác giả không biết gửi vào đâu, chỉ biết chất đầy trong lòng. câu thơ chạy trốn gợi cho ta liên tưởng đến bốn bài thơ của bậc hiền triết:

khói sóng trên sông khiến ai đó buồn

đó là sóng của sông hay sóng trong tim

6. phân tích 2 khổ đầu của bài thơ theo mẫu 3

Mỗi nhà thơ trong phong trào thơ mới khoác lên mình một bộ áo hiện đại khác nhau, một phong cách, một giọng nói riêng không thể tìm thấy ở cổ họng của ai khác. và chạy trốn khép lại, với nỗi đau của thế gian, nỗi đau của vũ trụ, đã gom lại một chút buồn tản mác để góp nhặt những vần thơ u sầu, huyễn hoặc ở “Chiết Giang”. Đặc biệt với hai khổ thơ đầu, hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ nhưng đượm buồn cùng tâm trạng bơ vơ, tù đọng đã góp phần tạo nên một sắc thái riêng, rất hùng tráng.

Có thể nói, mỗi khổ thơ trong trang giang được coi như một bài thơ riêng, mỗi khổ thơ vừa mang hương vị cổ điển vừa hiện đại và ẩn chứa những nét hấp dẫn riêng. khổ thơ đầu:

“những con sóng lăn tăn mang theo nỗi buồn và nỗi buồn

thuyền đi xuôi dòng nước song song

con tàu về quê lại buồn

một vài dòng củi từ một cành cây đã chết. ”

hình ảnh “trang giang” gợi cảnh sông dài hùng vĩ, sóng tung bọt trắng xóa, tượng trưng cho sự hùng vĩ của thiên nhiên, sông nước. nhưng những con sóng ấy cứ bồi hồi, bồi đắp vào nhau trong nỗi buồn “điệp trùng”. con thuyền lại xuất hiện, đó là hình ảnh quen thuộc mà chúng ta đã từng thấy trong nhiều bài thơ khác:

<3

(thu-do phu).

con thuyền trên sông vĩnh biệt người bạn tâm giao trong thơ li bệt trong bài “tông lưu manh thiên chi quang lang”:

“tầm nhìn chết người của cô ấy về những bức tranh tường vô tận

nghiên cứu trong một khoảng thời gian dài. ”

Hình ảnh con tàu đã trở thành một bài thơ kinh điển về gia đình thường gợi lên nỗi cô đơn. con thuyền ấy di chuyển mênh mông, vô định trên sông, gợi lên sự cô đơn, vô định của kiếp người. thuyền và nước hòa vào nhau, ở đây nước sông thuyền chia đôi, thuyền xuôi ngược song song, từ đó nhìn bơ vơ trôi nổi, nhân sinh mất mát. để con thuyền và sông nước vốn gắn kết bản chất nhưng lại tách rời nhau khiến “thuyền về quê lại buồn” rời sông buồn. Phải chăng chính nỗi buồn của tâm hồn con người đã để lại nỗi buồn cho cảnh vật? dòng cuối của khổ thơ là hình ảnh sinh động được lồng vào bài thơ, đó cũng là tinh thần của thơ mới, sự sáng tạo chạy trốn mới thấy được ý nghĩa “cổ hủ nhưng không phải thói cũ”:

“một số dòng bị thiếu một số dòng.”

Hình ảnh cành cây khô đã được đánh đổi bằng tài năng và sự tinh tế trong cách lựa chọn và thể hiện của Flean. nếu thơ trung đại thường chọn những hình ảnh ước lệ sang trọng thì trong thơ chạy trốn ông đã sẵn sàng đưa những phẩm chất gần gũi phong phú của hiện thực vào thơ “cành khô” của mình. rất chân thực và gần gũi với cuộc sống đời thường và khiến những vật vô tri vô giác cũng có linh hồn Cành củi khô đã gợi sự khô héo, mục nát và mất sức sống, hoặc chết vì củi khô không còn sức sống. nhưng buồn hơn, đau đớn hơn là khúc củi khô “lác đác vài dòng”, thể hiện sự cô đơn, lạc lõng, bế tắc của kiếp người. Hình ảnh cành củi khô lạc lõng trong những dòng chữ ấy hay là ẩn dụ cho số phận, thân phận của những con người lênh đênh, lạc lõng giữa cuộc sống xô bồ, hối hả này? nhờ đó, ngấm ngầm thể hiện nỗi đau, nỗi buồn của người anh hùng. sang khổ thơ thứ hai, cảnh vật được tô vẽ bằng những đường nét u ám, ảm đạm hơn:

“cơn gió u ám không biết gì”

đâu là âm thanh của thị trấn ngoài chợ tối

mặt trời lặn và bầu trời sâu thẳm

sông dài, trời rộng, bến vắng. ”

hình ảnh một cồn cỏ buồn tẻ và buồn tẻ một lần nữa được thêm vào những bức vẽ phong cảnh buồn tẻ và cũ nát. chỉ có một hình ảnh của sự sống hiện ra nhưng cũng thật khan hiếm. Chợ là biểu tượng cho nhịp sống và đời sống kinh tế sôi động, sầm uất của một vùng, tuy nhiên, chợ ở đây vang vọng đâu đây không rõ ràng, cuộc sống đã ngưng đọng từ lâu, không còn nhịp sống như xưa. Tiếp tục nét vẽ cho bức tranh phong cảnh, không gian dường như càng thêm hùng vĩ. mặt trời ló dạng xuống đáy sông và hình ảnh bầu trời nổi lên khiến mặt phẳng không gian như bị chia cắt, dồn nén và cắt đứt với nhau, gây cảm giác ngột ngạt, khó chịu cho nhân vật trữ tình. sông dài nhưng bến vắng, một lần nữa hiện lên nỗi cô đơn đầy nỗi buồn càng thấm sâu vào ba chiều không gian, làm lòng người tê tái.

Qua hai khổ thơ đầu, với những hình ảnh cổ điển quen thuộc và chất hiện đại trong tinh thần của cái tôi thơ mới. Đó cũng là nỗi buồn nhưng không còn gắn với những quan niệm, chuẩn mực về đạo đức, đạo hiếu, lễ nghĩa như thơ văn trung đại, mà đó là nỗi buồn của một cá nhân cảm thấy bất lực, trì trệ và lạc lõng trước thực tế. thiên nhiên vì thế rộng lớn, hùng vĩ nhưng lại rất hiu quạnh, hoang vắng. bằng tình yêu thiên nhiên và tấm lòng của một hồn thơ mới, bằng chính giọng điệu du dương của mình, họ đã tạo nên những vần thơ tinh tế, thấm đẫm cảm xúc u buồn, ảm đạm.

7. phân tích 2 khổ đầu của bài thơ theo mẫu 4

huy cận là một trong những tác giả tiêu biểu của phong trào thơ mới. Thơ của Huian vừa mang tính chất triết học cổ điển vừa có tính phản ánh. “trang giang” thể hiện nỗi sầu muộn của cái tôi trước một “thiên nhiên mênh mông, hiu quạnh mà trong lòng nhà thơ thấm đẫm tình quê hương đất nước.”

“những con sóng và những con sóng đau đớn,

thuyền đi xuống vùng nước song song.

con tàu trở về cánh đồng, buồn và cô đơn;

một số dòng bị mất trong một số dòng củi khô “

Khổ thơ trên là khổ thơ đầu của bài thơ “Tràng giang”. nghệ thuật trải qua nhiều đổi mới, một mặt vẫn phát huy được thế mạnh của thể thơ cổ, tạo vẻ đẹp cân xứng, không khí trang nghiêm, mặt khác làm cho giọng điệu của bài thơ uyển chuyển, uyển chuyển, tránh khuôn sáo, cứng nhắc. có thể thấy rõ trong một số bài thơ tang lu đầu thế kỷ. hình ảnh cánh bèo trôi sông nối tiếp ý nghĩa của cành củi đắng trong khổ thơ đầu là tung tích trôi dạt của những mảnh đời bé bỏng lạc lối trong chính cuộc đời. từ “không” xuất hiện hai lần để khẳng định sự vô vọng trong khát vọng tìm một mối liên hệ nhỏ bé của mỗi người: không có con đò qua sông, không có chiếc cầu nối hai bến nước. tất cả điều này làm tăng thêm sự rộng lớn yên tĩnh của công trình và sự trống trải tĩnh lặng của cảnh quan. được đặt xuyên suốt bài thơ, khổ thơ 1,2,3 với sự xuất hiện nối tiếp nhau của hệ thống hình ảnh nhưng không làm không gian ấm áp hơn mà chỉ tô đậm một nỗi buồn cô đơn của tâm hồn và cảnh vật.

Vào những năm 30 của thế kỷ trước, đó là những câu thơ mới, bởi trong đó đã xuất hiện hình ảnh “củi và cành khô” giản dị, “tầm thường”. thơ xưa thường nhắc đến những hình ảnh cao quý mà “người và khách” thường thích như hoa nguyệt, trăng tuyết… trong thời thơ mới, những hình ảnh “bình dân” như “củi một cành khô”, “con nai vàng ngơ ngác. ”, con hổ“ nuốt mối hận trong lồng sắt ”và cứ thế, đã bất ngờ xuất hiện, như một dấu hiệu của một cuộc“ cách mạng về thơ ”(hoang). nó không biết đi đâu, giống như cành khô giữa ngã ba nước.

khổ thơ thứ hai, cũng là khổ thơ cuối cùng của bài thơ kết hợp hài hòa giữa nét cổ điển và hiện đại, đây được coi là khổ thơ đặc sắc nhất trong kết cấu của bài thơ

<3

nơi âm thanh của thị trấn vọng lại từ buổi chợ chiều.

mặt trời lặn, bầu trời thăm thẳm;

Tham khảo: Hình ảnh người phụ nữ qua bài thơ tự tình

sông dài, trời rộng, bến vắng. “

với những hình ảnh vừa sang trọng, vừa bình dân ”, vừa truyền thống, vừa rất tây, chúng ta có thể thấy thêm âm hưởng của chợ chiều từ xa mang lại:

“Đâu là âm thanh của thị trấn ngoài chợ tối”

doan van cu đã diễn tả thành công vẻ đẹp độc đáo của Việt Nam trong bài hát chợ Tết nổi tiếng:

“ánh sáng vàng của mặt trời trên cỏ kéo dài

lá sung rơi quanh quầy hàng trong chợ. ”

Các từ “cao”, “sâu”, “rộng”, “dài” được sử dụng như một hệ thống để miêu tả sự rộng lớn của không gian. Đặc biệt, việc sử dụng phép đảo ngữ và từ trái nghĩa giữa “lên” và “xuống”, giữa “cao” và “sâu” khiến người đọc cảm thấy choáng ngợp.

Đây là một hình ảnh đẹp, chứa đựng tình yêu của nhà thơ đối với thiên nhiên đất nước. Giữa lớp mây và núi ấy, nổi bật là hình ảnh một chú chim nhỏ đang rơi xuống. những đôi cánh lấp lánh của mặt trời lặn khiến nó như thể một giọt nắng rơi từ trên trời xuống. nhà thơ cảm thấy cả vũ trụ đè nặng lên đôi cánh bé nhỏ ấy, khiến con chim phải nghiêng mình. 2 câu cuối trích từ 2 câu cuối của bài hạc lâu mà người xưa phải nương theo làn khói trắng của dòng sông để hoài niệm. và chạy trốn gần đó không cần bất kỳ “yên tĩnh” nào để cảm nhận nỗi nhớ. nỗi đau hiện đại lớn hơn nỗi đau của người xưa. câu thơ miêu tả hình ảnh sóng gió, bão táp trên sông dường như chỉ có một chỗ gồ ghề.

Hai khổ thơ trước sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt rất hợp lí và hiệu quả, cùng với sự kết hợp từ lóng, các phép tu từ, các kĩ thuật nghệ thuật tương phản đã làm nổi bật nỗi sầu muộn của cái tôi cô đơn trước thiên nhiên mà anh thấm nhuần tình người, tình đời, lòng yêu nước thầm kín nhưng chân thành. Tràng giang là bài thơ tiêu biểu của trào lưu thơ mới, không chỉ tả cảnh quê hương đất nước mà còn thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc và nỗi cô đơn, lẻ loi của con người nơi quê hương. .

XEM THÊM:  Soạn bài Lẵng quả thông | Hay nhất Soạn văn lớp 6 Chân trời sáng tạo

8. phân tích 2 khổ đầu của bài thơ theo mẫu 5

thơ là công cụ tuyệt vời của hơi thở của tâm hồn, thơ đã thể hiện thành công mọi cung bậc cảm xúc của con người, vui, buồn, cô đơn và tuyệt vọng. có những tâm trạng của con người chỉ có thể diễn tả bằng thơ, vì vậy thơ không chỉ nói lên nỗi lòng của chúng ta mà còn thể hiện những trăn trở, suy nghĩ về sự thay đổi thế giới với những cảm xúc dạt dào khi thấy cái tôi nhỏ bé trước vũ trụ bao la, Huian viết vở kịch “trang giang”, đặc biệt là qua hai khổ thơ đầu của bài thơ, chúng ta có thể cảm nhận rõ điều đó.

quả không sai khi nói đối với nhà thơ, thơ là phương tiện để bộc lộ cảm xúc chân thành và mãnh liệt, là cơ sở để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật chân chính, cảm xúc càng mãnh liệt, thăng hoa thì thơ càng có sức ám ảnh. độc giả. trái tim.

Với sứ mệnh cao cả của một nhà thơ là sáng tạo nghệ thuật với nỗi buồn thế sự sâu lắng, ông đã xây dựng một phong cách hoàn toàn mới, khác hẳn với những nhà thơ cùng thời. Tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của ông là “Tràng Giang”, theo lời kể của Huy, bài thơ được khơi nguồn cảm hứng từ một buổi chiều mùa thu năm 1939 khi tác giả đang ở bờ nam Bến Chèm. Trước cảnh sông nước đỏ mênh mông sóng vỗ, cảm xúc về thời gian lại trào dâng khi nhà thơ thấy cái tôi của mình quá nhỏ bé so với vũ trụ nên đã đưa vào tác phẩm của mình.

và tình cảm của nhà thơ có lẽ được thể hiện rõ nhất trong hai khổ thơ đầu.

“những con sóng lăn tăn mang theo nỗi buồn và nỗi buồn

thuyền đi xuống vùng nước song song.

con tàu trên đường về lại buồn,

một số dòng bị mất trong một số dòng gỗ khô

bài thơ nhỏ và cô đơn,

đâu là âm thanh của thị trấn ngoài chợ tối

mặt trời lặn và bầu trời sâu thẳm,

Sông dài, trời rộng, bến vắng. ”

Hai khổ thơ là bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, sông nước, đồng thời là một tâm hồn buồn, đa cảm với bao cảm xúc dâng trào không lời nào tả xiết.

ở phần đầu của bài thơ, nhà thơ chạy trốn đã sử dụng hàng loạt chất liệu thơ lục bát trong thơ du thuyền “tàu và sóng”. Đây là một hình ảnh đẹp nhưng nó rất buồn. Nói về nhà phê bình này, Hoài Thanh nhận xét rằng thiên nhiên trong thơ mới đẹp, nhưng buồn đến nao lòng. nỗi buồn đó được giải thích trong câu nói bỏ trốn lúc đó, chúng ta có một nỗi buồn là nỗi buồn của cả một thế hệ, chưa làm được gì cho đất nước trước cảnh nước mất nhà tan.

“những con sóng và những con sóng đau đớn,

con thuyền đi xuống vùng nước song song ”.

Từ “điệp” đã miêu tả một cách tinh tế hình ảnh những gợn sóng nước. những con sóng đó, hết lớp này đến lớp khác, không ngừng, không ngừng. ở đây nhà thơ miêu tả nỗi buồn của thiên nhiên hay nỗi buồn của con người, có lẽ cả hai vì cụ Nguyễn du đã từng viết.

“Bạn không nhìn thấy cảnh nào về nỗi buồn,

những người buồn không bao giờ hạnh phúc. ”

dường như tâm trạng buồn đã nhuốm màu riêng để những nỗi buồn ấy được gợi lên từng đợt trong lòng nhà thơ.

Thuyền và nước là hai thứ luôn song hành cùng nhau, nhưng trong công việc này, anh trở nên bất lực và lạc lõng. con tàu là sự hiện diện của cuộc sống con người, nhưng nó chỉ là sự xuất hiện thoáng qua trong chốc lát, “con tàu trên nóc nhà” là một hình ảnh thực nhưng cũng đầy chất suy tưởng, nó gợi cho ta những hình ảnh về kiếp trước, trôi nổi, mất mát, Không biết đi đâu về đâu có lẽ chính anh chàng fleen cũng ghi lại hình bóng ấy trong cuộc đời mình khi: “đứng giữa hai dòng nước, chọn một dòng hay để cho dòng nước cuốn đi”.

“Thuyền về quê lại buồn,

một vài dòng củi từ một cành cây đã chết. ”

Con thuyền và cành củi khô là hai hình ảnh được sử dụng rất đậm nét, chúng cùng nhau đi trên sông. Trong thơ của mình, Huyán đã nhiều lần nhắc đến nỗi đau của mùa thu, ở đây ta lại thấy một nỗi đau khác là nỗi đau trăm ngả, chỉ vỏn vẹn 3 chữ và cùng một khúc củi khô, là hình ảnh của những kiếp người nhỏ bé trong xã hội cũ. , nếu như trong thơ trung đại phải gọt giũa, chọn lọc từng hình ảnh chất liệu đưa vào thơ như tùng, cúc, trúc, mai thì trong tập “giang huy cận” lại có một khung ảnh rất đời thường: củi khô. .

không phải cành củi khô ấy cũng là nỗi cô đơn lẻ loi trong lòng tác giả, chính khi gặp cành khô ấy, tác giả đã phải đối mặt với những vận hạn to lớn của đất trời từ đó nỗi buồn ấy trỗi dậy thành nỗi buồn chung của một thế hệ thanh niên yêu nước. Nó vẫn là màu nước của dòng sông, nhưng đã được vẽ thêm nhiều đất, thêm nhiều phố thị, nhưng nỗi buồn tê tái ấy vẫn hiện hữu, nó được gợi lên qua sự tàn lụi của những đụn cỏ, sự hiu quạnh của gió và sự trống vắng của phong cảnh.

“cơn gió u ám một cách ngu dốt,

âm thanh của thị trấn còn đâu xa chợ tối ”,

trong cuộc chinh phạt chinh phục mà chúng ta đã thấy:

“trăng non và treo khác thường,

gió thổi một số gò đất.

dường như ngọn gió cô đơn đã vượt thời gian, vượt không gian và trôi về phía thi ca hùng tráng. Từ “nhàn hạ” đã diễn tả sự khan hiếm và chia cắt của các hòn đảo nhỏ mọc dọc theo dòng “trang giang”. trong những đụn cát đó là hình ảnh của những đám lau sậy, khi có gió thổi qua sẽ trở nên mờ đục.

câu thơ như chùng xuống và chìm sâu hơn vào tâm hồn nhà thơ, khiến anh trở nên tự vệ và muốn tìm hơi ấm của con người. “tiếng thị xa”, không biết ở đâu, âm thanh nghe mơ hồ, nhưng là tiếng chợ nghe lại càng buồn, cũng viết về chợ nhưng bằng thơ. từ nguyễn trai hình ảnh xuất hiện lại rất đông.

“Chợ cá vui vẻ ở làng chài”

vui nhất là tiếng chợ vui, buồn nhất là tiếng chợ. Trong câu thơ này, cái tinh tế của huy cận là dùng động tác nói khẽ, dùng giọng chợ để gợi không khí tĩnh lặng của không gian, đồng thời thể hiện khát vọng giao hòa, đồng cảm của con người dù chỉ là. nghe. .

Có ý kiến ​​cho rằng dòng sông là nỗi buồn lớn. đó là sự thật và trong hai câu thơ sau, nỗi buồn của bản chất con người đã được tác giả khai thác hết mức.

“Mặt trời lặn và bầu trời sâu thẳm,

Sông dài, trời rộng, bến vắng. ”

ở đây nhà thơ đã vẽ ra một không gian ba chiều lớn là chiều cao, chiều dài và chiều rộng, còn nhà thơ thì đứng trên bến cô đơn nơi giao thoa của vũ trụ tương phản giữa không gian vĩ đại và cái tôi nhỏ bé của con người. , từng tia nắng chiếu xuống mặt nước phản chiếu bầu trời và không gian như bị đẩy lên cao hơn vào cái khổ “cực sâu” của nó, là một từ không chỉ dùng để nói về chiều sâu, mà còn được dùng để nói về độ cao, cho cho người đọc cảm giác ghê sợ về không gian và đứng trước không gian đó, con người càng trở nên đáng thương và nhỏ bé hơn.

Cuộc đời là điểm xuất phát, là đối tượng khám phá, là đích đến cuối cùng của thơ ca. những tác phẩm nghệ thuật chân chính luôn bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống và có sức ảnh hưởng lâu dài trong lòng người đọc. đến với huy cận sông ta như khám phá tâm sự tâm tình của nhà thơ, lắng nghe tiếng thở dài bất lực của nhà thơ trước cảnh đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, sự kết hợp hài hòa giữa điển cố và tuồng. hiện đại, sử dụng nhiều chất liệu thơ. trong thơ cổ, ngôn từ giản dị giàu hình ảnh, mọi thứ đã trở thành hit của Thượng Hải chạy trốn.

vở kịch đã kết thúc, nhưng mỗi khi đọc đoạn thơ nói chung và hai khổ thơ đầu nói riêng, ta như thấy được nỗi đau con người của tác giả trước khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Tôi phân tích hai khổ thơ đầu của bài thơ, có lẽ chính vì lẽ đó mà dù ra đời đã lâu nhưng vẫn không bị lớp bụi thời gian phủ đen, nó vẫn tiếp tục tỏa sáng trong lòng người đọc yêu thơ bao thế hệ. .

9. cảm nhận 2 khổ thơ đầu của bài thơ

thơ là công cụ tuyệt vời của hơi thở của tâm hồn, thơ đã thể hiện thành công mọi cung bậc cảm xúc của con người, vui, buồn, cô đơn và tuyệt vọng. có những tâm trạng của con người chỉ có thể diễn tả bằng thơ, vì vậy thơ không chỉ nói lên nỗi lòng của chúng ta mà còn thể hiện những trăn trở, suy nghĩ về sự thay đổi thế giới với những cảm xúc dạt dào khi thấy cái tôi nhỏ bé trước vũ trụ bao la, Huian viết vở kịch “trang giang”, đặc biệt là qua hai khổ thơ đầu của bài thơ, chúng ta có thể cảm nhận rõ điều đó.

“sóng lăn tăn qua sông nhắn buồn. thuyền xuôi dòng nước song song thuyền về đồng buồn, mấy dòng lạc cành khô

thấp thơ nhỏ, gió hiu quạnh, nơi tiếng phố xa, chợ nắng chiều, trời thăm thẳm, sông dài, trời rộng, bến đò. cô đơn.

Hai khổ thơ là bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, sông nước, đồng thời là một tâm hồn buồn, đa cảm với bao cảm xúc dâng trào không lời nào tả xiết.

ở phần đầu của bài thơ, nhà thơ chạy trốn đã sử dụng hàng loạt chất liệu thơ lục bát trong thơ du thuyền “tàu và sóng”. Đây là một hình ảnh đẹp nhưng nó rất buồn. Nói về nhà phê bình này, Hoài Thanh nhận xét rằng thiên nhiên trong thơ mới đẹp, nhưng buồn đến nao lòng. nỗi buồn đó được giải thích trong câu nói bỏ trốn lúc đó, chúng ta có một nỗi buồn là nỗi buồn của cả một thế hệ, chưa làm được gì cho đất nước trước cảnh nước mất nhà tan.

“sóng cuồn cuộn nỗi buồn, con tàu đi qua dòng nước song song.”

Từ “điệp” đã miêu tả một cách tinh tế hình ảnh những gợn sóng nước. những con sóng đó, hết lớp này đến lớp khác, không ngừng, không ngừng. ở đây nhà thơ miêu tả nỗi buồn của thiên nhiên hay nỗi buồn của con người, có lẽ cả hai vì cụ Nguyễn du đã từng viết.

“Một cảnh không bao giờ buồn, một người buồn không bao giờ vui.”

dường như tâm trạng buồn đã nhuốm màu riêng để những nỗi buồn ấy được gợi lên từng đợt trong lòng nhà thơ.

Thuyền và nước là hai thứ luôn song hành cùng nhau, nhưng trong công việc này, anh trở nên bất lực và lạc lõng. con tàu là sự hiện diện của cuộc sống con người, nhưng nó chỉ là sự xuất hiện thoáng qua trong chốc lát, “con tàu trên nóc nhà” là một hình ảnh thực nhưng cũng đầy chất suy tưởng, nó gợi cho ta những hình ảnh về kiếp trước, trôi nổi, mất mát, Không biết đi đâu về đâu có lẽ chính anh chàng fleen cũng ghi lại hình bóng ấy trong cuộc đời mình khi: “đứng giữa hai dòng nước, chọn một dòng hay để cho dòng nước cuốn đi”.

“Con tàu về quê buồn hiu quạnh, cách mấy dòng một cành lạc trôi.”

Con thuyền và cành củi khô là hai hình ảnh được sử dụng rất đậm nét, chúng cùng nhau đi trên sông. Trong thơ của mình, Huyán đã nhiều lần nhắc đến nỗi đau của mùa thu, ở đây ta lại thấy một nỗi đau khác là nỗi đau trăm ngả, chỉ vỏn vẹn 3 chữ và cùng một khúc củi khô, là hình ảnh của những kiếp người nhỏ bé trong xã hội cũ. , nếu như trong thơ trung đại phải gọt giũa, chọn lọc từng hình ảnh chất liệu đưa vào thơ như tùng, cúc, trúc, mai thì trong tập “giang huy cận” lại có một khung ảnh rất đời thường: củi khô. .

không phải cành củi khô ấy cũng là nỗi cô đơn lẻ loi trong lòng tác giả, chính khi gặp cành khô ấy, tác giả đã phải đối mặt với những vận hạn to lớn của đất trời từ đó nỗi buồn ấy trỗi dậy thành nỗi buồn chung của một thế hệ thanh niên yêu nước. Nó vẫn là màu nước của dòng sông, nhưng đã được vẽ thêm nhiều đất, thêm nhiều phố thị, nhưng nỗi buồn tê tái ấy vẫn hiện hữu, nó được gợi lên qua sự tàn lụi của những đụn cỏ, sự hiu quạnh của gió và sự trống vắng của phong cảnh.

“Bỏ qua gió cỏ hiu quạnh, đâu tiếng phố thị xa chợ chiều?”

trong cuộc chinh phạt chinh phục mà chúng ta đã thấy:

“đơn côi lẻ bóng trăng treo, gió thổi vài gò.”

dường như ngọn gió cô đơn đã vượt thời gian, vượt không gian và trôi về phía thi ca hùng tráng. Từ “nhàn hạ” đã diễn tả sự khan hiếm và chia cắt của các hòn đảo nhỏ mọc dọc theo dòng “trang giang”. trong những đụn cát đó là hình ảnh của những đám lau sậy, khi có gió thổi qua sẽ trở nên mờ đục.

câu thơ như chùng xuống và chìm sâu hơn vào tâm hồn nhà thơ, khiến anh trở nên tự vệ và muốn tìm hơi ấm của con người. “tiếng thị xa”, không biết ở đâu, âm thanh nghe mơ hồ, nhưng là tiếng chợ nghe lại càng buồn, cũng viết về chợ nhưng bằng thơ. từ nguyễn trai hình ảnh xuất hiện lại rất đông.

“Chợ cá vui vẻ ở làng chài”

vui nhất là tiếng chợ vui, buồn nhất là tiếng chợ. Trong câu thơ này, cái tinh tế của huy cận là dùng động tác nói khẽ, dùng giọng chợ để gợi không khí tĩnh lặng của không gian, đồng thời thể hiện khát vọng giao hòa, đồng cảm của con người dù chỉ là. nghe. .

Có ý kiến ​​cho rằng dòng sông là nỗi buồn lớn. đó là sự thật và trong hai câu thơ sau, nỗi buồn của bản chất con người đã được tác giả khai thác hết mức.

“Mặt trời lặn, trời sâu, sông dài, trời rộng cô đơn.”

ở đây nhà thơ đã vẽ ra một không gian ba chiều lớn là chiều cao, chiều dài và chiều rộng, còn nhà thơ thì đứng trên bến cô đơn nơi giao thoa của vũ trụ tương phản giữa không gian vĩ đại và cái tôi nhỏ bé của con người. , từng tia nắng chiếu xuống mặt nước phản chiếu bầu trời và không gian như bị đẩy lên cao hơn vào cái khổ “cực sâu” của nó, là một từ không chỉ dùng để nói về chiều sâu, mà còn được dùng để nói về độ cao, cho cho người đọc cảm giác ghê sợ về không gian và đứng trước không gian đó, con người càng trở nên đáng thương và nhỏ bé hơn.

Cuộc đời là điểm xuất phát, là đối tượng khám phá, là đích đến cuối cùng của thơ ca. những tác phẩm nghệ thuật chân chính luôn bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống và có sức ảnh hưởng lâu dài trong lòng người đọc. đạt huy gần sông ta như khám phá tâm sự của nhà thơ, lắng nghe tiếng thở dài đầy bất lực của nhà thơ trước cảnh đất nước chìm trong khói lửa và chiến tranh thần tốc, một sự kết hợp hài hòa giữa điển cố. và hiện đại, sử dụng nhiều chất liệu thơ cổ, ngôn từ giản dị giàu hình ảnh, mọi thứ đã trở thành hit của chương trình Chạy trốn.

vở kịch đã kết thúc, nhưng mỗi khi đọc đoạn thơ nói chung và hai khổ thơ đầu nói riêng, ta như thấy được nỗi đau con người của tác giả trước khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Tôi phân tích hai khổ thơ đầu của bài thơ, có lẽ chính vì lẽ đó mà dù ra đời đã lâu nhưng vẫn không bị lớp bụi thời gian phủ đen, nó vẫn tiếp tục tỏa sáng trong lòng người đọc yêu thơ bao thế hệ. .

Xem các thông tin hữu ích khác trong phần tài liệu của hoatieu.vn.

Tham khảo: Soạn bài Truyện Kiều – Phần Nỗi thương mình | Soạn văn 10 hay nhất

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Phân tích 2 khổ thơ đầu bài tràng giang. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *