Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
280 lượt xem

Phan tich 9 cau dau trong bai tho dat nuoc

Bạn đang quan tâm đến Phan tich 9 cau dau trong bai tho dat nuoc phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Phan tich 9 cau dau trong bai tho dat nuoc

Phân tích 9 câu đầu của bài Đất nước để thấy cách miêu tả cội nguồn của tác giả được thể hiện rất bình dị và rõ nét qua những câu chuyện xưa mẹ kể, miếng trầu ông ăn. Bài viết này hoatieu xin chia sẻ bài văn mẫu phân tích 9 câu đầu bài thơ đất nước cảm nhận 9 câu đầu bài thơ đất nước hay nhất để các em có thêm tư liệu học tập môn văn.

  • Top 4 bài văn phân tích ở đoạn 1 Tiếng Việt
  • Các ví dụ về phân tích 4 khổ 5 và 6 bài viết hàng đầu
  • Phân tích 4 ví dụ về các bài thơ từ một quốc gia được chọn lọc

Phân tích 9 câu đầu Đất nước – Đất nước là đoạn trích trong chương V của tác phẩm Tự nguyện dân tộc của Nguyễn Khoa Điềm. đất nước vừa là một khái niệm thiêng liêng vừa là một tồn tại. Qua tác phẩm, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã miêu tả một hình ảnh đất nước bình dị mà gần gũi, thân thương hơn đối với mỗi người Việt Nam xưa và nay. sau đây là dàn ý mẫu cho 9 câu đầu bài Đất nước cảm nhận ngắn gọn 9 câu đầu bài Đất nước giúp các em nắm được cách viết bài giới thiệu đất nước, 9 câu đầu và kết bài 9 câu đầu của đất nước sao cho đẹp mắt và ấn tượng giúp đạt kết quả cao trong các kỳ thi.

1. tóm tắt phân tích 9 câu đầu của bài Đất nước

a. giới thiệu:

– có nhà thơ Nguyễn khoa điểm, bài thơ dài trên vỉa hè khát vọng, và chương về đất nước.

– Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ trưởng thành trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước với phong cách thơ đậm đà chất trữ tình chính trị.

– “Đất nước” là một đoạn trích trong chương v, sử thi khát vọng mặt đường, được sáng tác trong thời kỳ chiến trường miền Nam ác liệt. “patria” ra đời với mục đích khơi dậy tinh thần yêu nước sâu sắc, kêu gọi thanh niên miền nam tham gia kháng chiến của dân tộc.

b. nội dung:

– Luận điểm 1: Đất nước tồn tại bao lâu?

+ câu thơ đầu là câu trả lời cho câu hỏi đó: “khi ta lớn lên, quê hương đã có” quê hương là một cái gì đó thân thuộc, gần gũi, gắn bó với mỗi người, trong mỗi con người từ thuở ấu thơ. thể hiện tư tưởng “đất nước của nhân dân”

+ tác giả cảm nhận đất nước về chiều sâu văn hóa – lịch sử và cuộc sống thường ngày của mỗi người qua câu “ngày xửa ngày xưa” gợi lên những bài học về đạo đức con người qua những câu chuyện cổ tích thấm đẫm tình người. – luận điểm 2: quá trình hình thành đất nước?

+ mở đầu bằng tục ăn trầu, gợi lại hình ảnh người bà quen thuộc, gợi lại sự tích trầu cau, gợi lại tình cảm anh em sâu nặng, thủy chung son sắt.

+ hình ảnh “cây tre” còn gợi lên hình ảnh con người Việt Nam cần cù, siêng năng, chịu thương, chịu khó. “Trưởng thành” nghĩa là nói về quá trình trưởng thành của đất nước, nói trưởng thành trong chiến tranh nghĩa là nói lên truyền thống đánh giặc bền bỉ, kiên trung.

+ thói quen chải tóc sau đầu để tập trung làm việc, gợi nhớ đến bài hát hòa bình và tình yêu nổi tiếng. nhớ về tình nghĩa vợ chồng sâu nặng qua những hình ảnh: “gừng cay”, “muối mặn”.

+ Tái hiện lại nền văn hóa của đất nước ta chỉ bằng một câu thơ đơn giản nhưng có ý nghĩa sâu sắc: “hạt gạo phải xay, giã, sàng, rây”. nghệ thuật liệt kê cùng với nhịp điệu liên hoàn thể hiện truyền thống lao động cần cù, nếp sinh hoạt đời thường.

+ nguyen khoa diem thâu tóm tất cả chỉ với một suy nghĩ: “Đất nước tồn tại từ ngày đó…”. dấu “…” ở cuối câu là một biện pháp tu từ thầm lặng, tuy chữ đã hết nhưng nghĩa vẫn còn, vẫn rạo rực và sôi sục.

= & gt; đất nước được hình thành gắn với văn hóa, lối sống, phong tục tập quán của người Việt Nam, gắn với đời sống gia đình. cái gì làm nên đất nước cũng đã kết tinh trong hồn dân tộc. do đó, đất nước dường như thiêng liêng, tôn kính và rất gần gũi.

c. kết luận:

Giọng thơ trữ tình, có lúc căng thẳng, lúc thư thái, lúc nghiêm trang, có lúc dạt dào cảm xúc đã thể hiện được tinh thần chủ đạo của bài thơ qua chất liệu văn hóa, dân gian: “đất nước của nhân dân”. vì vậy, bài thơ không chỉ trữ tình mà đầy sức chiến đấu.

Phân tích 9 câu đầu bài Đất nước

2. phân tích quốc gia đoạn 1

Nguyễn Khoa Điểm là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ Việt Nam trong những năm tháng chống giặc giữ nước và thống nhất đất nước. Ông đã đóng góp nhiều tác phẩm đặc sắc cho nền văn học nước nhà, trong đó phải kể đến bài thơ “patria” trích từ phần đầu chương V của sử thi “bề mặt khát vọng”. tác phẩm nói lên nhiều tồn tại của đất nước cả chiều sâu của không gian và chiều rộng của thời gian. đặc biệt ở đầu bài thơ “đất nước”, tác giả đã cho người đọc thấy được đất nước thiêng liêng nhưng rất đỗi bình dị, thể hiện quan điểm gốc một cách độc đáo.

“Khi chúng ta lớn lên, đất nước đã có rồi

Đất nước ở những nơi “ngày xửa ngày xưa …”, mẹ nói với tôi.

Câu thơ mở đầu là lời khẳng định đất nước đã có từ lâu đời, tồn tại trên thực tế với bề dày cội nguồn và sự hình thành, phát triển của bốn nghìn năm văn hiến. đất nước hiện lên vô cùng thân thuộc và gần gũi trong câu chuyện “Ngày xửa ngày xưa” gợi lại những kỉ niệm của mỗi người. bởi trong những câu chuyện về tình mẹ con có những bài học đạo lý dạy chúng ta làm người, biết phân biệt thiện ác, sống có tình nghĩa, thủy chung son sắc… tác giả sử dụng ngôn từ tự nhiên, giản dị, không cầu kỳ. những quy tắc lạ mắt nhưng vẫn gây ấn tượng với người đọc.

nguyen khoa diem cảm nhận đất nước gắn liền với bản sắc văn hóa, phong tục tập quán lâu đời của dân tộc:

“Đất nước bắt đầu từ miếng trầu, bây giờ ăn nên làm ra”

“Miếng trầu bà ăn trầu” là miếng trầu xuất phát từ tình nghĩa vợ chồng, tình anh em trong truyện cổ tích “Sự tích miếng trầu”. từ đó, “miếng trầu” tượng trưng cho lòng thủy chung, son sắc, là hình ảnh không thể thiếu trong lễ cưới truyền thống của người Việt.

“Đất nước phát triển khi dân tộc biết trồng tre, biết đánh giặc”

vào những năm trước lễ Christ, kể từ thời của bà. trung – mrs. triệu, đất nước ta đã kiên cường đứng lên khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm. hay hình ảnh các thánh nhổ tre đánh giặc. cây tre còn là biểu tượng của người nông dân Việt Nam, hiền lành, chăm chỉ nhưng cũng rất chịu khó.

“Tóc của tôi bị kéo dài ra sau đầu

cha mẹ thương nhau gừng cay muối đắng ”

Vẻ đẹp giản dị của người phụ nữ Việt Nam, mộc mạc, giản dị nhưng đầy nữ tính với mái tóc buộc sau đầu rất độc đáo. thành ngữ “gừng cay muối mặn” được tác giả thể hiện tài tình thể hiện tình người, lòng thủy chung son sắt của vợ chồng.

“xà, cột sang tên

gạo phải được xay, giã, xay, sàng ”

Câu thơ gợi cho người đọc liên tưởng đến tục dựng nhà của người Việt xưa. các thanh xà được buộc vào nhau giúp ngôi nhà bền và vững chãi hơn. ngôi nhà là tổ ấm của mọi gia đình, là nơi sum họp của các thành viên.

và cũng là truyền thống lao động cần cù, chịu khó, nhẫn nại của dân tộc. câu tục ngữ “một nắng hai sương” gợi lên sự cần cù của cha ông ta trong những ngày gian khó. hạt gạo làm ra là bao mồ hôi, công sức, dầm mưa dãi nắng, mài, mài mới có kết quả.

và sau cùng, nguyen khoa diem đã kết luận “đất nước có từ ngày đó …”, chúng tôi không biết và tác giả cũng không biết đất nước có từ bao giờ. Con chỉ biết đó là ngày mẹ kể chuyện cổ tích, khi dân ta biết trồng tre đánh giặc, khi con người biết tạo ra lương thực, khi có tục ăn trầu, khi con người biết yêu. nhau, trung thành với nhau….

Đất nước của tác giả nguyen khoa diem giản dị, mộc mạc và gần gũi. bài thơ mang vẻ đẹp độc đáo, thiêng liêng về cội nguồn dân tộc. qua đó luôn nhắc nhở chúng ta phải biết quý trọng, giữ gìn và phát triển những nét đẹp trong văn hóa, truyền thống của dân tộc Việt Nam.

3. phân tích 9 câu đầu Đất nước ngắn gọn

Quê hương luôn là tiếng gọi thiêng liêng của muôn đời, muôn nơi và của hàng triệu trái tim con người. Đất nước đi vào cuộc sống của chúng ta qua những lời ru ngọt ngào, những làn điệu dân ca êm ái và những vần thơ sâu lắng, tha thiết và đầy tự hào của nhiều thi nhân. Đất nước của Trạng nguyên khoa cử cũng là một trong những bài thơ ấy: dung dị, giản dị mà rất sâu sắc. đặc biệt, chín câu thơ đầu đã thể hiện được cội nguồn sâu xa của tình nghĩa quê hương.

mở đầu bằng những từ đơn giản nhưng ý nghĩa: “khi chúng ta lớn lên, đất nước đã tồn tại”. đất nước trở thành tổ tiên. họ đều là những người phục vụ đất nước… hãy nhớ lại điệp khúc “ngày xửa ngày xưa…”, tác giả muốn thể hiện rằng đất nước đã hình thành từ rất lâu, đất nước có trong từng lời nói của mẹ.

gắn với sinh hoạt gia đình: “đất nước bắt đầu từ hạt cau, nay ăn quả”. Quatrain này làm sống lại nhiều tục ngữ, bài hát và câu chuyện phổ biến về trầu cau. Qua hình ảnh “miếng trầu”, Nguyễn Khoa Điềm đã “nhân hoá” thơ mình và có thêm minh chứng về đất nước được hình thành từ xa xưa. tuy nhiên, đất nước chỉ lớn lên nhờ truyền thống “dân ta biết trồng tre đánh giặc” và quá trình hình thành nhiều phong tục tập quán:

Tóc của mẹ được vén ra sau

nguyen khoa diem xúc động khi nhắc đến câu: “Cha mẹ thương nhau muối cay gừng”. là lời ca ngợi tình yêu và lòng trung thành trong gian khó. chữ “tang” giúp thơ ông đến gần với văn học bình dân. “khi ta lớn lên, đất nước đã có” – hiển nhiên như khi ta lớn lên đã có ông bà, cha mẹ… đất nước gắn bó, thân thiết như ruột thịt và bao công việc khác:

chùm, bài trong tên

gạo phải được xay, giã, xay, rây

câu quatrain “dầm, cột thành tên” cũng gợi lên một phong tục dân dã là đặt tên cầu mong hòa bình. nước ta gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước: “hạt gạo phải được xay, nghiền, xay, sàng”. để làm ra những hạt gạo trắng thơm cần trải qua nhiều công đoạn, mồ hôi nước mắt. quá trình xây dựng quốc gia cũng đau đớn như quá trình mang thai và sinh nở của con người.

Từ những phân tích trên, có thể thấy Nguyễn Khoa Điềm đã khai thác triệt để vốn văn học dân gian. Một số câu tục ngữ, ca dao, truyền thuyết, truyện cổ tích, phong tục, tập quán đã được tái hiện, tái hiện. không chỉ hay về ngôn từ, cấu trúc và phần kết đã gây được ấn tượng lớn. “Khi ta lớn, nước đã có rồi”, đất nước bắt đầu, đất nước phát triển… từng bước đi song hành với cuộc sống của nhân dân. tác giả dẫn ra nhiều dẫn chứng để làm sáng tỏ kết luận: “đất nước có cội nguồn từ ngày ấy…” – từ “ngày xưa mẹ tôi tính”. Trong quá trình này, đất nước gắn kết với từng gia đình và từng cá nhân. đó là cơ sở vững chắc để tác giả tiếp tục phát triển ý tưởng đất nước này là đất nước của những con người ở ba khổ thơ tiếp theo.

4. phân tích quốc gia 9 câu đầu tiên – mẫu 1

Cảm hứng về đất nước, về tầm vóc tự hào là cảm hứng quen thuộc của thơ ca hiện đại giai đoạn 1945 – 1975. Ai cũng có thể nhận ra rằng kể từ sau Cách mạng tháng Tám, dân tộc và Tổ quốc đã thực sự trưởng thành từ các Thánh. đó là hiện thực, là tiền đề thẩm mỹ từ những tình cảm quý báu trên vóc dáng con người Việt Nam, đất nước Việt Nam. Là một nhà thơ trẻ, lớn lên trong thời chống Mỹ, có tình yêu sâu sắc với sông núi, nhà trí thức Nguyễn Khoa Điềm cũng đã mang tiếng nói của chính mình để khẳng định sự trưởng thành đó. với 9 dòng đầu của bài thơ “đất nước” trích từ sử thi “phố khát vọng”, Nguyễn Khoa điểm đã có những cảm nhận mới về đất nước.

Điểm rất mới của tác phẩm Nguyễn Khoa là đề cập đến chủ đề đất nước rất chung chung, nếu không muốn nói là trừu tượng, nhưng hình tượng thơ và chất liệu nhạc cụ để xây dựng nên tầm vóc đó lại không thật cụ thể, gần gũi. để thể hiện sự tồn tại của đất nước này trong chiều sâu của thời gian, chiều rộng của không gian, trong đoạn mở đầu, anh đã tập trung sử dụng nhiều hình ảnh rất cụ thể, gần gũi, thân thương nhưng đồng thời lại có sức liên tưởng và sức khái quát cao. đặc biệt, ông đã kết nối để tạo nên một mạch thơ về sự tồn tại của đất nước với sự ám chỉ có. Thông điệp này đã kết nối những hình ảnh tưởng như không liên quan lại thành một khối không thể tách rời, khẳng định sự tồn tại của cả truyền thống và tình cảm sâu nặng đối với đất nước như một nét riêng không gì dung hòa được. Hãy cùng nghe nhà thơ bày tỏ suy nghĩ của mình.

khi chúng ta lớn lên, đất nước đã có nó

đất nước nằm trong những “ngày xửa ngày xưa …” mà mẹ thường nói

Đất nước bắt đầu bằng miếng trầu mà bây giờ nó đã ăn được

đất nước phát triển khi dân tộc biết trồng tre đánh giặc

Tóc của mẹ được vén ra sau

cha mẹ thương nhau gừng cay

chùm, bài trong tên

gạo phải được xay, nghiền nhỏ, dần dần, sàng lọc

đất nước của ngày đó …

Đọc đoạn văn, chúng ta không thể không nhận ra những hình ảnh thơ đầy trí tưởng tượng của tác giả về sự tồn tại của đất nước. mỗi hình ảnh gợi lên một sự hiện hữu khẳng định nét riêng không lẫn vào đâu được của đất nước này. “Ngày xửa ngày xưa”, một ngôn ngữ mở đầu cho truyện cổ tích; hình ảnh người bà – nhà thơ muốn nói rằng đất nước này đã có từ lâu đời, có từ thời “mang gươm đi vệ quốc – ngàn năm thương nhớ đất thăng long”, thời khi anh sinh nam quoc. Từ đó, đất nước ngày càng phát triển với những phong tục, bản lĩnh của một dân tộc đầy tình, nghĩa, chí sẵn sàng hy sinh khi đất nước lâm nguy. gần gũi và thân thương biết bao khi đất nước tồn tại vừa nhỏ bé vừa thấm thía trong hạt cau giờ anh ăn. đây là sự liên tưởng rất sáng tạo, mang đầy đủ những nét đẹp về phong tục, tập quán và bản sắc quê hương:

XEM THÊM:  Soạn văn 11 bài phong cách ngôn ngữ chính luận

Tóc của mẹ được vén ra sau

cha mẹ thương nhau gừng cay

có bàn tay, trái tim, nhân dân lao động, nhân dân lao động, một nắng hai sương. nhất là ở đó, có một tồn tại phải đánh đổi bằng máu, xương, mồ hôi, nước mắt của cả một dân tộc luôn rũ bỏ chân lấm tay bùn để vươn lên khẳng định mình.

gạo phải được xay, nghiền nhỏ, dần dần, sàng lọc

đất nước của ngày đó …

cũng trong câu ca dao này, ngoài hình ảnh, đại từ được dùng để tạo nên mối quan hệ tình cảm gắn bó máu thịt của cộng đồng người Việt. dường như với cách gọi này, tất cả họ đã đến với nhau, hội tụ, đoàn kết và chung một dòng máu, một dòng máu tiên – rồng. đó là từ mẹ, cha, bà, dân tộc ta thật ngọt ngào trong những cách tiếp cận bản sắc Việt thân thương ấy. tạo nên phong cách, khiếu thẩm mỹ về đất nước, con người Việt Nam thân thiện, trung thành, giàu truyền thống, giàu lòng biết ơn và đạo lý làm người. ở đoạn thứ hai, tác giả suy nghĩ và chiêm nghiệm về những điều đã tạo nên đất nước, hướng người đọc đến những định nghĩa rất cụ thể về đất nước.

Có thể khẳng định, thế mạnh của bài thơ là do hình ảnh đa dạng, phong phú và đa dạng. tất cả đều được miêu tả bằng giọng thơ rất tự nhiên, trầm lắng theo thể thơ: văn xuôi, thơ tự do càng làm tăng thêm hiệu quả thẩm mĩ. Điều đáng nói là từ những hình ảnh này, với sức suy nghĩ trăn trở của một trí thức trẻ, khả năng khơi gợi, cộng hưởng và liên tưởng của thơ càng lớn. đủ để khái quát đầy đủ tầm vóc, vị thế và vị thế của một đất nước trong bình lặng ấy, tự hào về bề dày lịch sử, bề dày và chiều sâu của thời đại. nó là một khối thống nhất của quá khứ, hiện tại và tương lai. một người đẹp nói như thể cô ấy là một nhân tố:

chúng tôi đứng và nhìn về bốn hướng

nhìn về quá khứ, nhìn về tương lai

nhìn về phía bắc, nhìn về phía nam, nhìn ra toàn thế giới.

vì vậy đất nước đã có từ khi mẹ tôi thường kể những câu chuyện cổ tích, khi dân tộc ta biết trồng tre đánh giặc, trồng lúa, trồng khoai, ăn trầu, thắt nơ. ở chân tơ kẽ tóc, cách sống nghĩa tình, thủy chung. lịch sử đất nước thật giản dị, thật gần gũi, đồng thời cũng thật xa xăm, thật thiêng liêng. mảnh ghép “Đất nước khúc hát dài khát vọng” xứng đáng là khúc tráng ca, hùng tráng và thơ mộng về quê hương, đất nước và con người Việt Nam.

5. phân tích quốc gia 9 câu đầu – mẫu 2

Đất nước từ lâu đã là điểm hẹn tâm hồn của biết bao văn nghệ sĩ. Lấy cảm hứng từ chủ đề quen thuộc ấy, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã có một lối đi riêng. phần trích “đất nước” là kết tinh của những sáng tạo mới và độc đáo của Nguyễn Khoa Điểm. Với 9 dòng mở đầu, nhà thơ đưa người đọc vào lịch sử dân tộc để trả lời câu hỏi dựng nước từ bao giờ:

khi chúng ta lớn lên, đất nước đã có nó

Đất nước ở “ngày xửa ngày xưa …” mà mẹ vẫn thường kể.

Đất nước bắt đầu bằng miếng trầu mà bây giờ nó đã ăn được

đất nước phát triển khi dân tộc biết trồng tre đánh giặc

Tóc của mẹ được vén ra sau

cha mẹ thương nhau gừng cay

chùm, bài trong tên

gạo phải được xay, giã, xay, rây

đất nước của ngày đó…

Muốn hiểu đất nước, nhưng “khi ta lớn lên, đất nước đã có”: bài thơ nói rằng đất nước đã ra đời từ rất lâu như chúng ta thường nói 4000 năm lịch sử. câu thơ còn khẳng định sự trường tồn của đất nước sau bao thăng trầm, bao lần đánh giặc ngoại xâm, đánh giặc nội xâm bảo vệ Tổ quốc. nhưng dòng cũng thể hiện nỗi trăn trở của nhà thơ rằng làm sao hiểu được đất nước khi đất nước đã có từ lâu đời, đã quá xa vời với chúng ta, đã là “từ xưa…”: một cụm từ rất quen thuộc. , thân yêu vì ai trong chúng ta lại không lao vào những câu chuyện cổ tích “mẹ tôi thường kể”. những câu chuyện kể, những lời ru của những người mẹ đưa con về với quê hương thân yêu.

“Đất nước bắt đầu từ miếng trầu, nay ăn quả”, câu thơ của cụ Nguyễn Khoa Điểm làm tôi nhớ đến câu chuyện cảm động “sự tích miếng trầu” mà mẹ tôi kể về tình thân gia đình gắn bó. tròn, trộn như máu thánh màu đỏ. đó là cơ sở để xây dựng gia đình, dựng nước hay đó cũng là bài học đầu tiên về đất nước. miếng trầu bình dị mà bạn vẫn ăn hàng ngày bỗng trở nên thiêng liêng, hiện lên đâu đó hình bóng đất nước qua phong tục ăn trầu của gia đình.

hình ảnh cây tre trong câu thơ “đất nước lớn lên khi dân ta biết trồng tre đánh giặc” ta đã gặp trong “huyền thoại thiêng liêng” khi cậu bé mới 3 tuổi vươn vai thành người lính nhổ cỏ. tre, đánh giặc, bảo vệ bờ cõi. Cây tre tốt bụng mà chúng ta nhìn thấy ở làng quê hàng ngày cho chúng ta vật dụng và bóng mát, nhưng cây tre đã từng là vũ khí trong con đường ông cha ta đánh giặc giữ nước cho con cháu ngày nay. truyền thống đấu tranh bất khuất của người xưa tuy không có vũ khí đầy đủ nhưng đã để lại cho con cháu một bài học: Muốn đất nước ngày càng vững chắc, nhân dân ta phải biết trồng tre lấy tre làm vũ khí đánh giặc. . Bài học lịch sử quý giá này sẽ luôn được ghi nhớ và vận dụng trong những ngày đánh Mỹ ác liệt để bảo vệ Tổ quốc với “lũy tre, chông tre chống thù thành sắt”. tre xung phong xe tăng và pháo binh. tre giữ làng, giữ nước, giữ mái tranh, giữ lúa chín ”(thép mới)

mỗi quốc gia có những phong tục tập quán riêng và dân tộc ta cũng vậy. hình ảnh “tóc mẹ hất ra sau đầu” đã thể hiện một nét đẹp thuần phong mỹ tục Việt Nam mà chúng ta gìn giữ cho đến ngày nay, dù đất nước đã phải trải qua bao nhiêu năm bị ngoại bang đô hộ và đồng hóa nhưng dân tộc này vẫn giữ vững tùy chỉnh riêng.

Chúng ta lớn lên trong mái ấm gia đình, đối với tình nghĩa thủy chung của cha mẹ, chúng ta có thể thấy rằng câu nói “gừng cay muối mặn đừng bỏ con” là một lời nhắc nhở, lời khuyên quý báu. với nguyễn khoa điểm “Cha mẹ thương nhau gừng hay muối mắm” để con cái được hưởng hạnh phúc trọn vẹn, để con hiểu thêm một nét đẹp của đạo lý dân tộc là tình yêu thương luôn thủy chung son sắc.

từ ngôi nhà mình đang ở khi “cây xà nu, cây đăng thành tên” đến hạt gạo mà như “phải xay, phải giã, phải xay, sàn” chúng ta mới hiểu được bao thế hệ mẹ đã vất vả, chắt chiu. tiền, trừ tạo cho con cái nên người, góp phần xây dựng đất nước. đó là về đất nước. Vì vậy đất nước không phải là một nơi xa lạ, vô hình, mà những vật dụng, những hình ảnh đời thường mà chúng ta vẫn thấy quanh đây đều rất đỗi thân quen và đồng hành cùng chúng ta từ thuở còn thơ có bà, có mẹ, có cha. nhưng đó là những câu chuyện cổ tích mẹ kể, những lời ru đã đưa tôi đến với thế giới sâu lắng, thân thương của đất nước thiêng liêng với bao truyền thống, phong tục tốt đẹp.

Từ những hình ảnh quen thuộc nhưng ẩn chứa chiều sâu tri thức văn hóa dân gian cùng với giọng thơ ngọt ngào và những đoạn văn như những câu chuyện cảm động, cụ Trạng nguyên đã hóa đất nước, đất nước thành những câu chuyện cổ tích, ca dao, trong đời sống hàng ngày. . tác giả có cách cảm nhận vừa quen vừa lạ, cụ thể, trừu tượng, vừa gần gũi, vừa rất đỗi thiêng liêng… tạo nên một xúc cảm sâu lắng. Điều đó nói lên thành công của vở kịch cũng như những đóng góp của Nguyễn Khoa Điềm cho nền văn học Việt Nam.

6. phân tích quốc gia 9 câu đầu – mẫu 3

Người Việt Nam từ xưa đến nay, lòng yêu nước và lòng dũng cảm luôn chảy trong máu, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh quên mình để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong những năm tháng gian khổ của cuộc kháng chiến chống ta, rất nhiều bài thơ, bài văn đã ra đời cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta nơi mặt trận. một trong những tác phẩm khơi dậy lòng yêu nước không thể không kể đến sử thi về khát vọng vỉa hè của tác giả Nguyễn Khoa Điểm, mà nổi bật là Đất nước bị chia cắt. ở phần đầu của mảnh, tác giả giải thích nguồn gốc của đất nước được nhiều người yêu thích.

nguyen khoa diem được biết đến như một nhà thơ có phong cách trữ tình độc đáo. Thơ Nguyễn Khoa Điềm lôi cuốn và lôi cuốn người đọc bởi sự liên kết tình cảm nồng nàn và những suy tư sâu sắc của một trí thức trẻ nhận thức sâu sắc về vai trò và trách nhiệm của mình trong công cuộc đấu tranh vì nước, vì dân. “bài thơ dài bên vỉa hè khát vọng” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ của ông. đoạn trích Đất nước trong chương v của sử thi. trong đoạn trích, tác giả giải thích về cội nguồn của đất nước; và cội nguồn đó được giải thích rất tinh tế qua 9 dòng đầu của bài thơ:

<3ở đầu bài thơ, tác giả trực tiếp nói lên rằng đất nước này đã có từ lâu đời, khi con người sinh ra trên mảnh đất của mình thì nơi đó chính là đất nước, là quê hương. đất nước ra đời từ lâu đời như một lẽ tất yếu, đi sâu vào lịch sử thời các vị vua hùng mạnh dựng nước và giữ nước đã đi vào sử sách còn lưu truyền cho đến ngày nay. Trước hết, quê hương không phải là một khái niệm trừu tượng, mà là một cái gì đó rất gần gũi, thân thương đối với cuộc sống bình dị của mỗi con người. của lời ru của mẹ, của những câu chuyện “ngày xửa ngày xưa” mà mẹ kể để chúng ta lớn lên, khiến chúng ta hiểu thêm về văn hóa quê hương, theo ta suốt cuộc đời và là một phần kí ức đẹp đẽ không thể nào quên. những câu chuyện cổ tích, những bài học đạo đức làm người, ước mơ và khát vọng công lý của nhân dân được lồng vào bài hát bình dân ấy đã góp phần tạo nên một đất nước đa dạng về văn hóa như ngày nay.

“Đất nước bắt đầu bằng miếng trầu, bây giờ ăn quả đó. Đất nước lớn mạnh khi dân tộc biết trồng tre đánh giặc”

Ăn trầu từ lâu đã trở thành một thói quen không thể thiếu của người phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là các bà các mẹ và từ lâu chúng ta đã có câu chuyện về miếng trầu và tình người. . kể từ những năm trước lễ Christ, kể từ thời của hai người phụ nữ, bà. triêu, đó là lần đầu tiên cả nước ta vùng lên nổi dậy chống giặc ngoại xâm. từ những truyền thuyết linh thiêng với hình ảnh xé vách tre đánh giặc. cây tre còn là biểu tượng của người nông dân Việt Nam nhân hậu, thật thà, cần cù, chất phác nhưng cũng rất kiên cường, bất khuất. từ hình ảnh hiện thực đến đời sống tinh thần, đó là từng bước trưởng thành của một dân tộc, của một đất nước, con người nhận thức về đất nước, về sự tồn tại của đất nước và ý thức về bản sắc dân tộc, có trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ biên giới của đất nước.

Ngoài truyền thống yêu nước, tác giả Nguyễn Khoa Điềm còn nhắc đến những hình ảnh thấm đẫm vẻ đẹp thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam:

“Tóc mẹ chải sau đầu cha mẹ thương nhau gừng cay muối mặn”

Từ xa xưa, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam luôn gắn liền với mái tóc dài, được buộc gọn gàng sau đầu. vẻ đẹp ấy của người bà, người mẹ, người chị, người con gái Việt Nam mộc mạc, giản dị nhưng rất nữ tính, rất riêng. tác giả đã sử dụng thành ngữ “gừng cay muối mặn” rất tự nhiên, độc đáo, nhẹ nhàng, đằm thắm để thể hiện lòng trung thành của con người như câu nói “gừng càng già càng hăng, muối càng cứng thì càng mặn. trở thành khi người ta sống với nhau lâu dài thì tình yêu mới trọn vẹn. “

Ngoài những phong tục và tình yêu thương đồng bào, Nguyễn Khoa Điềm còn đề cập đến truyền thống lao động sản xuất của nhân dân:

“Cây sào, cây sào nhân danh hạt gạo phải được xay, nghiền, xay, sàng”

Từ xa xưa, con người đã biết đốn gỗ để làm nhà. Những ngôi nhà đó dùng vì kèo, cột giằng vào nhau chắc chắn, vững chãi để tránh mưa, gió và thú dữ. còn là tổ ấm để mọi gia đình sum họp, gặp gỡ, chia sẻ vui buồn; từ đó hình thành thị trấn, thôn xóm và quốc gia. nhà là tổ ấm, là nơi con người “an cư lạc nghiệp” cần mẫn tích lũy của cải để phát triển đất nước. nhà thơ sử dụng khéo léo thành ngữ “một nắng hai sương” để nói lên sự cần cù lao động sản xuất của cha ông ta. động từ “xay – nghiền – dần – sàng” là quá trình sản xuất ra hạt gạo. Để làm ra hạt gạo, người nông dân phải mất hàng tháng trời vất vả gieo trồng, chăm sóc, xay xát, sàng lọc. thấm trong hạt gạo bé nhỏ ấy là giọt mồ hôi mặn mà của người nông dân vất vả dãi nắng dầm mưa. Thành quả ngọt ngào này không chỉ giúp dân tộc ta có cuộc sống ấm no, mà còn trở thành nền văn minh lúa nước mà hễ nhắc đến là người ta biết ngay đến đất nước Việt Nam; Không những vậy, nền văn minh này đã giúp nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới và thế giới biết đến gạo Việt Nam.

Trong tất cả các yếu tố trên, nhà thơ khẳng định:

“đất nước của ngày đó…”

“ngày đó” là ngày nào, chúng tôi không biết, tác giả cũng không thể biết. chúng tôi chỉ biết rằng ngày đó là ngày chúng tôi bắt đầu có những truyền thống, phong tục và văn hóa khác với những quốc gia khác. đó là ngày chúng ta có đất nước của dân tộc Việt Nam.

Thông qua việc sử dụng khéo léo và nhẹ nhàng các chất liệu dân gian như tục ăn trầu, tục buộc tóc, truyền thống đánh giặc ngoại xâm, truyền thống nông nghiệp, ca dao tục ngữ cùng với thành ngữ. Cùng với ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, lời thơ nhẹ nhàng với giọng thủ thỉ, điệp ngữ “đất nước”, tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã mang đến cho người đọc một góc nhìn mới về cội nguồn đất nước; về vẻ đẹp của một vùng quê giàu văn hóa truyền thống, một đất nước có những phong tục tập quán thấm nhuần tư tưởng của nhân dân.

XEM THÊM:  Văn phòng đại diện có phải nộp thuế môn bài không

Đã nhiều năm trôi qua, nhưng câu thơ cùng với bản hùng ca “phố ước” vẫn giữ nguyên vẹn những giá trị tốt đẹp và để lại những ấn tượng đẹp đẽ, đọng lại trong tâm trí của nhiều thế hệ người Việt Nam trước, nay và trong Tương lai. Bản hùng ca của tác giả Nguyễn Khoa Điểm làm cho chúng ta hiểu và yêu đất nước hơn, đồng thời thôi thúc chúng ta hành động để bảo vệ và phát triển đất nước.

7. phân tích đất nước trong 9 câu đầu tiên

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điểm là một trong những nhà văn tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ trong suốt những năm dài đấu tranh chống phá mỹ học của đất nước. thơ của ông hấp dẫn người đọc bởi sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và những suy tư sâu sắc của trí thức về đất nước và con người Việt Nam. Nổi lên với phong cách sáng tác của ông là tác phẩm “Bản hùng ca mặt phố” do ông sáng tác tại chiến khu Tam Kỳ năm 1971 , in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ thành thị miền Nam bị tạm chiếm về trách nhiệm với đất nước và thế giới của chính mình, trên hết là hòa mình vào cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược. Đoạn trích từ bài thơ “patria” được tìm thấy ở đầu chương v của bài hát trên tường. 9 dòng đầu của đoạn trích là 9 dòng thể hiện quan điểm sống của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm về đất nước.

với 9 câu thơ đầu, tác giả đã thể hiện một góc nhìn mới về cội nguồn của đất nước.

Khi chúng ta lớn lên quê hương đã có quê hương trong “ngày xửa ngày xưa …” Mẹ nói quê hương bắt đầu từ hạt cau mà nay ăn quê hương lớn lên khi dân ta biết trồng tre để chống. giặc, tóc mẹ bới sau mái đầu cha mẹ yêu thương muối cay gừng, giáp, sào làm nên tên hạt gạo phải xay, giã, nát, rây. đã ở đó kể từ ngày đó …

ở phần mở đầu, tác giả muốn khẳng định rằng “khi chúng ta lớn lên, đất nước đã có”. Tôi không biết đất nước được hình thành từ khi nào và chỉ biết rằng khi chúng ta lớn lên thì đất nước đã ở đây rồi. đó là một tuyên bố chắc chắn về sự trường tồn của đất nước.

sau khi khẳng định chắc chắn sự tồn tại của đất nước, tác giả dần mở ra bức màn cho chúng ta thấy rõ hơn về cội nguồn của đất nước:

Đất nước ở “ngày xửa ngày xưa …” mẹ tôi thường nói. đất nước bắt đầu với miếng trầu mà bây giờ nó đã ăn

câu thoại “ngày xửa ngày xưa” là lời mở đầu của mỗi câu chuyện cổ tích mà các bà, các mẹ thường kể cho con cháu nghe. Không biết từ bao giờ, chỉ có từ “ngày xửa ngày xưa” để hình thành đất nước là đã có. những câu chuyện cổ tích huyền thoại được sinh ra từ đất nước.

đất nước xuất hiện trong câu chuyện cổ tích. đó là hình ảnh đất nước của một nền văn hóa dân gian đặc sắc với những câu chuyện cổ tích, thần thoại và truyền thuyết. đối với nhà thơ, hai chữ “nhà quê” cũng bắt đầu bằng miếng trầu bà ăn. Người xưa thường nói “miếng trầu là đầu lịch sử”, có lẽ vì tục ăn trầu là một trong những phong tục lâu đời nhất ở Việt Nam chúng ta.

Hình ảnh “miếng trầu” cũng giống như hình ảnh ở phần đầu. đất nước tồn tại từ khi dân tộc có tục ăn trầu và tục ăn trầu của người dân cũng là sự khởi đầu của một đất nước, khởi đầu của một nền văn minh.

sự khởi đầu của một cuộc đời và những bước trưởng thành của cuộc đời đó. sau sự khởi đầu của một đất nước là sự lớn mạnh của cả một quốc gia:

đất nước phát triển khi dân tộc biết trồng tre đánh giặc

kể từ những năm trước thời đại của chúng ta, kể từ thời của hai bà trung và bà. triệu, là lần đầu tiên cả nước ta kiên cường đứng lên khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm. từ truyền thuyết linh thiêng với hình ảnh nhổ cọc tre cao đánh giặc.

Cây tre còn là biểu tượng của người nông dân Việt Nam nhân hậu, thật thà, cần cù, chất phác nhưng cũng rất kiên cường, bất khuất. từ hình ảnh hiện thực đến đời sống tinh thần là bước đi lên từng bước trưởng thành của một dân tộc, một đất nước và một dân tộc. ý thức về đất nước, sự tồn tại của đất nước và ý thức trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ biên giới của Tổ quốc.

Dưới đây là những hình ảnh thể hiện nét đẹp thuần phong mỹ tục của người Việt Nam:

<3

Đầu tiên, đó là vẻ đẹp giản dị của người phụ nữ Việt Nam. vẻ đẹp của người bà, người mẹ, người chị, người con gái Việt Nam mộc mạc, tuy giản dị nhưng rất nữ tính, trong sáng. Câu thành ngữ “gừng càng cay càng mặn” đã được vận dụng một cách rất tự nhiên nhưng cũng rất đặc biệt, ý nhị mà thấm đẫm tình người, gợi lên lòng trung thành trong con người như câu nói “gừng càng già càng cay”. muối thì càng chung sống lâu dài, tình nghĩa càng đong đầy. ”

rồi đến câu thơ “cột kèo thành tên” gợi cho người đọc nhớ đến tục dựng nhà của người Việt xưa. Ngôi nhà được làm bằng hệ thống kèo, cột gắn với nhau giúp ngôi nhà vững chắc và bền hơn để chống mưa, gió và thú dữ. nó còn là tổ ấm để mọi gia đình quây quần; cần cù, tích góp máu xương vì cuộc sống và sự phát triển của đất nước.

và cũng là truyền thống cần cù, chịu khó của dân tộc ta, “một hạt thóc phải mài, hai tiếng rắc trong sàng”. thành ngữ “một nắng, hai sương” gợi lên sự cần cù của những ngày dài vất vả trong cuộc sống nông nghiệp lạc hậu.

Đó là truyền thống cần cù, chịu thương chịu khó. những động từ như “xay – giã – dần – hót” là quá trình sản xuất ra những hạt gạo. Để làm ra hạt gạo, người nông dân phải trải qua quá trình gieo trồng, xay xát, sàng lọc vất vả. Tẩm trong hạt gạo nhỏ bé ấy là giọt mồ hôi mặn mà của những người nông dân vất vả dãi nắng dầm mưa.

và sau cùng, tác giả nguyen khoa diem kết luận: “đất nước tồn tại từ ngày đó…”. “ngày ấy” là ngày tháng năm nào, ta không biết, tác giả cũng không thể biết. chúng ta chỉ biết rằng ngày đó là ngày chúng ta bắt đầu có truyền thống, phong tục và văn hóa. đó là ngày chúng ta có đất nước của dân tộc Việt Nam.

Thông qua việc sử dụng khéo léo và nhẹ nhàng các chất liệu dân gian như tục ăn trầu, tục buộc tóc, truyền thống đánh giặc ngoại xâm, truyền thống nông nghiệp, ca dao tục ngữ cùng với thành ngữ .. . Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, ca từ nhẹ nhàng với giọng thủ thỉ nhưng vẫn thấm đẫm triết lí và hồn thơ.

thông điệp đất nước được lặp đi lặp lại nhiều lần khi nhà thơ luôn viết hoa hai chữ đất nước tạo nên một sự trân trọng rất đỗi thiêng liêng … mọi người đã tạo nên một bài thơ giàu không gian văn hóa Việt Nam.

qua đoạn thơ trên, nhà thơ đã mang đến cho người đọc vẻ đẹp của một vùng quê giàu truyền thống văn hiến. đất nước của những truyền thống và phong tục đẹp mang đậm dấu ấn tư tưởng bình dân, đất nước của nhân dân.

8. cảm nhận 9 câu thơ đầu của bài ca đất nước

Đất nước từ lâu đã là điểm hẹn tâm hồn của biết bao văn nghệ sĩ. Lấy cảm hứng từ chủ đề quen thuộc ấy, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã có một lối đi riêng. Nguyễn Khoa Điềm từng chia sẻ: “Đất nước với các thi nhân khác thuộc về huyền thoại, anh hùng, nhưng với tôi, nó thuộc về những con người, những con người vô danh”. “Tôi cố gắng thể hiện hình ảnh đất nước bình dị và gần gũi nhất có thể”. Được trích từ sử thi “Mặt đường khát vọng”, trích đoạn “Đất nước” là sự kết tinh những sáng tạo độc đáo, mới lạ của nhà văn Nguyễn Khoa Điếm. Với 9 dòng mở đầu, nhà thơ đã đưa người đọc vào lịch sử dân tộc để trả lời câu hỏi đất nước có từ bao giờ:

khi chúng ta lớn lên, đất nước đã có nó

đất nước nằm trong những “ngày xửa ngày xưa …” mà mẹ thường nói

Đất nước bắt đầu bằng miếng trầu mà bây giờ nó đã ăn được

đất nước phát triển khi dân tộc biết trồng tre đánh giặc

Tóc của mẹ được vén ra sau

cha mẹ thương nhau gừng cay

chùm, bài trong tên

gạo phải được xay, giã, xay, rây

đất nước của ngày đó …

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điểm là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ học của đất nước. Thơ Nguyễn Khoa Điềm lôi cuốn người đọc bằng những cảm xúc sâu lắng, nhiều chiêm nghiệm. bài thơ đất nước là đoạn trích tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật đặc sắc đó. đất nước là phần đầu của chương v sử thi “phố khát vọng” – tác phẩm ra đời năm 1971, giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ác liệt.

đất nước ra đi một cách trang trọng nhưng rất đỗi bình dị và gần gũi:

khi chúng ta lớn lên, đất nước đã có nó

đất nước của “ngày xửa ngày xưa” mà mẹ chúng tôi đã nói với chúng tôi

đất nước bắt đầu bằng miếng trầu mà bây giờ nó ăn được

đất nước phát triển khi dân tộc biết trồng tre đánh giặc

đất nước vốn dĩ là một giá trị bền vững và vĩnh cửu; đất nước được tạo dựng, nó được xây dựng qua nhiều thế hệ, nó được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác: khi chúng ta lớn lên thì đất nước đã có. đứng trước non sông đất nước thiêng liêng ấy, thơ trào dâng niềm xúc động và trân trọng. hai chữ “đất nước” được viết hoa trang trọng. do đó nhà thơ thể hiện niềm tự hào và trân trọng đối với đất nước của mình. khi tôi cất tiếng khóc chào đời, khi tôi lớn lên, đất nước đã tồn tại. đất nước tồn tại từ bao giờ? / Ngẫm lại cội nguồn của đất nước, Nguyễn Khoa Điểm chợt phát hiện ra: Đất nước có từ xưa mẹ tôi kể / Đất nước bắt đầu từ miếng trầu bà ăn. Quê hương vừa cổ kính vừa bình dị hiện lên trong thơ Nguyễn Khoa Điềm. đất nước là nền văn hóa kết tinh của tâm hồn người Việt Nam. Từ truyện cổ tích, truyện cổ tích đến tục ngữ, “miếng trầu” đã là một hình tượng nghệ thuật đầy tính thẩm mỹ, là hiện thân của tình yêu và lòng trung thành của tâm hồn dân tộc.

Cùng với tục ăn trầu, nước còn gắn với các phong tục khác:

Tóc của mẹ được vén ra sau

chùm, bài trong tên

thân thương, mộc mạc biết bao nhiêu cái cúi đầu sau lưng mẹ, những nếp nhà dựng vì kèo, cột, mái tranh, vách rơm, vách đất; là một cách đặt tên con đơn giản. những con vật mộc mạc và thân thiện như thế cũng là một phần của đất nước. và đất nước lớn mạnh khi nhân dân biết trồng tre để chống giặc. hình ảnh đất nước đã quá quen thuộc với lũy tre xanh, những chồi non đâm chồi nảy lộc. Có thể thấy từ bao đời nay, từ truyền thuyết dân gian đến các tác phẩm văn thơ hiện đại, cây si đã trở thành biểu tượng của sức mạnh tinh thần đánh giặc cứu nước, là biểu tượng cho những phẩm chất tốt đẹp của người con. . từ “lớn lên” được dùng rất chính xác, khơi dậy niềm tự hào và niềm tin dân tộc. giọng thơ sâu lắng, da diết làm nên những suy tư về cội nguồn đất nước giàu chất triết lí mà vẫn tha thiết, trữ tình. cách cảm nhận và lí giải về cội nguồn của đất nước bằng những hình ảnh giản dị, thân thuộc đã khẳng định rằng: Đất nước gần gũi, thân thuộc và bình dị trong cuộc sống của mỗi người.

với nguyen khoa diem, đất nước ẩn mình trong những điều nhỏ nhặt nhất. đất nước ẩn mình trong hạt muối, một nhánh gừng; TÌNH CẢM TRONG TÌNH YÊU CỦA PHỤ HUYNH: Cha mẹ thương nhau bằng muối, gừng cay. Được chắt lọc từ văn học dân gian, câu ca dao chứa đựng những ý tưởng lâu đời. Dù sống cuộc đời nghèo khó, vất vả nhưng cha mẹ chúng ta vẫn yêu thương nhau như gừng cay muối mặn, trước sau vẫn gắn bó, mặn nồng, kiên định. quê tôi thật giản dị và ngọt ngào. hình ảnh quê hương còn hiện diện trong từng tai lúa, củ khoai: hạt lúa phải được xay, nghiền, xay, sàng. hình ảnh thơ giản dị nhưng gợi ra tập quán sản xuất gắn liền với nền văn minh lúa nước của dân tộc Việt Nam. Để làm ra những hạt gạo trắng ngần, những bát cơm thơm dẻo, người nông dân phải dầm sương, dãi nắng, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, tỉ mỉ xay, giã, dần, sàng. hình ảnh thơ gợi bao nỗi vất vả, khó nhọc, vất vả cùng với đức tính cần cù, chịu khó của những con người chân lấm tay bùn.

9 dòng đầu tiên khép lại bằng một bài thơ bốn câu tóm tắt thời điểm đất nước hình thành: đất nước có từ ngày ấy. date vừa là trạng từ chỉ thời gian trong quá khứ vừa là đại từ thay thế. nên đất nước tồn tại từ khi mẹ kể chuyện cổ tích cho con nghe, khi dân tộc ta biết trồng tre đánh giặc, trồng lúa, củ khoai, biết ăn trầu, biết làm nũng, biết sống có tình nghĩa, chung thủy. . lịch sử đất nước thật bình dị, thật gần mà thật xa, thật thiêng liêng.

Bài thơ chín câu tám mươi lăm chữ đầy dung dị và thân thuộc với cuộc sống. Tính triết lí trong dòng tư tưởng của Nguyễn Khoa Điềm vừa sâu sắc vừa có sức thuyết phục. Chỉ bằng một vài câu thơ ngắn gọn và tinh tế, nhà thơ đã đi đến một kết luận khẳng định “Đất nước có từ ngày ấy …” và do nhân dân lao động tạo ra, để ngày nay chúng ta được hưởng hạnh phúc một cách cụ thể và thiết thực chứ không phải một cảm giác mơ hồ chỉ thuộc về quá khứ.

Xem các thông tin hữu ích khác trong phần tài liệu của hoatieu.vn.

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Phan tich 9 cau dau trong bai tho dat nuoc. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *