Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
109 lượt xem

Phan tich bai chieu toi ngu van 11

Bạn đang quan tâm đến Phan tich bai chieu toi ngu van 11 phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Phan tich bai chieu toi ngu van 11

Phân tích bài thơ Chiều tối gồm tóm tắt và 20 bài văn mẫu dưới đây, nó không chỉ giúp các em học sinh lớp 10 có thêm nhiều ý tưởng làm văn hay mà còn nâng cao hiểu biết về thể loại thơ. như vậy mới thấy tâm hồn người chiến sĩ cách mạng và tâm hồn nhà thơ đã hòa làm một.

Chiều tối Hồ Chí Minh là một bài thơ hay, vừa thể hiện hình ảnh buổi chiều tà vừa là hình ảnh tượng trưng cho một cô gái lao động rất xinh đẹp. Bài thơ được tác giả Hồ Chí Minh viết trong những ngày bị giam cầm trong nhà tù của chế độ Tưởng Giới Thạch khi Người đang bị áp giải từ nhà tù này sang nhà tù khác. và đây là 20 bài báo phân tích hay nhất trong đêm, hãy đọc chúng.

Bạn đang xem: Phan tich bai chieu toi ngu van 11

lược đồ phân tích bài thơ Chiều tối

bản phác thảo số 1

i. giới thiệu:

giới thiệu ngắn gọn về tác giả, nêu cảm nhận chung về tác phẩm

  • Hồ Chí Minh là nhà cách mạng vĩ đại, nhà thơ lớn của dân tộc. nhật ký trong tù là một tác phẩm tiêu biểu, được chú ho viết trong thời gian chú bị chính quyền Giang Tây bắt giữ ở Quảng Tây (Trung Quốc), từ mùa thu năm 1942 đến mùa thu năm 1943.
  • mộ (buổi chiều) là một bài thơ có giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc: điều kỳ lạ là bài thơ được viết trong hoàn cảnh người bị dắt xuống đường, bị xiềng xích, xiềng xích nhưng không một lời than thở đau đớn. Ngược lại, đó là nét tươi vui về cuộc sống và con người, thể hiện tâm hồn rất cao đẹp và nhân cách lớn của Hồ Chí Minh.

ii. nội dung:

* hai câu đầu tiên:

<3

– hai câu đầu vẽ nên một bức tranh cuộc sống thật thơ mộng và êm đềm, chim bay về rừng tìm nơi trú ngụ, mây trôi giữa trời chiều, chỉ vài nét chấm phá, những bức tranh (trong bài sơn ca) của thơ cổ. tuy nhiên, phong cách thơ cổ kính đó là do thư pháp gần gũi. nhưng thực tế vẫn là chiều nay, với cảnh thật và người thật (quản ngục – thi sĩ) đang tận mắt chứng kiến.

bức tranh phong cảnh kia tuy đẹp và thơ mộng nhưng vẫn phảng phất nét u buồn. trộn có nghĩa là mệt mỏi, chán chường, mệt mỏi. phạm vi là tìm kiếm. Sau một ngày lang thang, cuối ngày, đàn chim mệt và phải quay trở lại rừng tìm nơi trú ẩn. cô ấy cô đơn, một mình. bên dài bên rộng, không bên trời dài rộng. bản thân bầu trời vẫn rộng và rộng như đã trải qua một triệu năm, nhưng đám mây đơn lẻ đó đã khiến nó càng thêm bao la. nghĩa đen của hai câu thơ cũng chỉ một cảnh buồn. đối với những người bình thường, dù đang vui vẻ, đối diện với cảnh tượng ấy, hẳn trái tim không tránh khỏi cảm giác bối rối, buồn bã. câu thơ gợi cho người ta một buổi chiều khác, trong thơ cổ:

vào buổi chiều, bầu trời tối sầm bởi hoàng hôn, xa xa tiếng ốc vang lên trên gác xép, người đánh cá trở về thành phố xa, tiếng kèn của người chăn cừu lại thổi, gió mang theo chim, dặm và dặm liễu. sương, khách bước từng bước đến nơi. ai bảo cảm lạnh

(cảnh chiều – cô nương thanh quan)

Chiều không lặng mà lòng người đượm buồn. và cảnh ở đây, là một đơn vị duy nhất. cảnh đó nói hộ lòng người, chắc buồn lắm. đúng vậy, cho đến khi con chim kia, khi buổi chiều rời đi, nhanh chóng trở lại. tuy nhiên, giờ đây, người tù bị mờ mắt, chân yếu và bị cùm chân lại tiếp tục lê bước trên con đường dài. người đó không phàn nàn, vì nhân cách tuyệt vời của anh ta, nhưng ai không thể cảm nhận được nỗi đau thực sự của hoàn cảnh đó?

* hai câu cuối cùng

con nguoi dan ong, mot nguoi ban gai, mot nguoi mau ma, mot con ma, mot co gai hong

– hai câu cuối chuyển hướng chuyển động của hình tượng thơ. phía trên, cảnh vật bao la và tĩnh lặng, ánh nắng ban ngày dần tắt, nhường chỗ cho bóng tối. ở đây tuy không tả, nhưng ai cũng biết, trời đất đã chìm vào màn đêm, bóng tối len lỏi khắp nơi. vậy điều gì khiến người ta cảm nhận được từng dòng thời gian, sáng hay tối? nó là một con chim duy nhất đã bay trở lại vị trí ban đầu của nó. đặc biệt, đó là ánh hồng rực rỡ từ brazier trong khu phố núi. đây cũng là một sự phá cách, lấy ánh sáng để miêu tả bóng tối.

– nhưng sự biến đổi thực sự của hình tượng thơ không chỉ có vậy. nếu cảnh trên mang một vệt buồn của sự cô đơn và bị bỏ rơi, thì cảnh ở đây dù là đêm đen vẫn ấm áp và tràn đầy sức sống. ánh mắt người nghệ sĩ trước cảnh bước đi và đi lên, càng nhìn càng lạc lõng, trống vắng. khi đôi mắt đó nhìn kỹ, họ bắt gặp một hình ảnh bất ngờ:

con trai của thị trấn nơi một cô gái trẻ bị ma bao phủ

– bóng dáng của một thôn nữ cùng với công việc dường như hàng ngày đã làm tan đi nỗi cô đơn nơi núi rừng. và, khi công việc hoàn thành, ánh sáng tràn ngập.

bao gồm nhẫn ma, hồ lô đỏ.

trong bóng tối, ánh sáng đó xuyên thấu hơn. Trái tim của kẻ từng buồn đã được sưởi ấm bởi ánh lửa ấy. đến đây sự chuyển động của hình ảnh thơ đã hoàn thành.

iii. kết luận:

“mộ” là một bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ ca Hồ Chí Minh khi sử dụng thể thơ Đường luật, tác giả đã vận dụng khéo léo lối ngắt câu để tả cảnh, lấy động để tả tĩnh, đặc biệt là tả cảnh ngụ tình. trong bài thơ không có từ ngữ hay chi tiết nào nói về chủ đề trữ tình, nhưng người đọc vẫn nhận ra ánh mắt và trái tim của người ấy. tuy nhiên, mặc dù mang phong cách cổ điển, nó vẫn là một bài thơ hiện đại. tính hiện đại được bộc lộ trong sự vận động của hình tượng thơ, nhất là trong tâm hồn, tư tưởng của nhà thơ. Dù bị xiềng xích và xiềng xích nhưng người đó vẫn rất thoải mái và tự do, luôn không quên nhìn cuộc sống và phấn khích trước mọi biểu hiện dù nhỏ nhặt và tinh tế.

lược đồ số 2

a) mở đầu

– giới thiệu tác giả:

  • Hồ Chí Minh không chỉ là một vị lãnh tụ vĩ đại mà còn là một danh nhân văn hóa của dân tộc.
  • Hồ Chí Minh đã để lại cho đất nước một sự nghiệp văn học đồ sộ

– giới thiệu về tác phẩm:

  • tác phẩm là một đoạn trích trong tập thơ Nhật ký trong tù của tôi
  • những bài thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên và tấm lòng cao cả của Hồ Chí Minh
  • b) phần thân

    * hai câu đầu tiên

    <3

    – cảnh chiều tối mở ra bằng những hình ảnh thơ mộng và hiện thực: hình ảnh cánh chim bay về rừng tìm nơi trú ngụ; những đám mây di chuyển đến cuối bầu trời.

    – một không gian bao la, rộng lớn nhưng thơ mộng và yên bình

    – gợi lên một buổi chiều buồn, mặt trời chỉ còn lấp ló phía chân trời.

    – không gian thiên nhiên là tấm gương phản chiếu con người bên trong:

    – những cánh chim vội vàng trông có vẻ mệt mỏi và nhọc nhằn sau những ngày rong ruổi

    – mây trôi, cô đơn lẻ loi trên bầu trời bao la, rộng lớn.

    – bầu trời dường như được đẩy cao hơn lòng người nên cũng trải dài ra vô tận. đứng cuối ngày, lòng người chợt thấy cô đơn, trống trải; cảm thấy mệt mỏi và buồn bã. còn loài chim sau những giây phút mệt mỏi vẫn có thể yên nghỉ trong tổ, còn con người sau những giây phút bị gông cùm và đày đọa phải chịu đựng trong ngục tù tăm tối.

    – nhưng anh không nói một lời than thở hay than thở mà thả hồn vào cảnh vật thiên nhiên để cảm nhận và làm nổi bật những nét đẹp nhất của hình ảnh cuối ngày.

    – thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết trong trái tim người chiến sĩ cách mạng

    – Trong tâm trí người lính luôn hiện lên nỗi nhớ quê hương, đất nước.

    – Ý chí sắt đá, nghị lực phi thường, phong thái ung dung và tinh thần lạc quan cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. (cánh chim tượng trưng cho cuộc sống tự do)

    * sửa đổi, mở rộng:

    • hai câu thơ vừa mang nét cổ điển vừa hiện đại với hình ảnh thơ quen thuộc, phong cách tượng trưng, ​​điểm nhấn ngắt câu, chưa kể hoàng hôn nhưng người đọc vẫn có thể cảm nhận được và hình dung được không gian và tấm lòng mà câu thơ muốn gửi gắm. .
    • cánh chim không còn là đề tài xa lạ trong thơ ca xưa, nhưng cánh chim của bạn thật đặc biệt. Nếu như chim của bác chủ tịch Hồ Chí Minh là “loài chim vô tận” bay vào không gian vô tận, thì chim của chủ tịch Hồ Chí Minh lại có linh hồn sống, đó là loài chim bay trong không gian, thống trị không gian và vạn vật. .

    * hai câu cuối:

    con nguoi dan ong, mot nguoi ban gai, mot nguoi mau ma, mot con ma, mot co gai hong

    – hình ảnh cuộc sống thường ngày của người dân thôn núi:

    – bóng tối bao trùm không gian

    – hình ảnh một cô thôn nữ miền sơn cước hăng say, linh hoạt với công việc hàng ngày: say = & gt; vẻ đẹp khỏe khoắn, tươi trẻ, tràn đầy sức sống

    – hình ảnh ngọn lửa bện cháy: tỏa sáng, xua tan bóng tối, sưởi ấm không gian hiu quạnh, lạnh lẽo và hoang vắng trong bài thơ trước.

    – hình ảnh thơ gần gũi, mộc mạc, chân thực thể hiện nhịp sống cuối ngày nơi núi rừng. qua đó thể hiện tình yêu thương và sự kính trọng vô bờ bến của anh đối với những người lao động.

    – hình ảnh thơ về sự chuyển động:

    – thời gian từ hoàng hôn đến bình minh

    – những cánh chim bay, những đám mây di chuyển để tập hợp vào tương lai trong ánh sáng.

    – trái tim con người đi từ lạnh lẽo và cô đơn đến ấm áp, nồng nàn, say đắm, vui tươi và phấn khởi.

    – nhãn tự “hoa hồng” khép lại bài thơ với một sức mạnh thấm thía, kéo dài đến toàn bộ bài thơ:

    – ngọn lửa hồng lan tỏa, lấn át bóng tối; xua tan cái lạnh giá phút chốc trong lòng người. ngọn lửa ấy đã thổi bùng lên bao khát vọng, ý chí, quyết tâm của người chiến sĩ cách mạng giữa chốn ngục tù.

    – hai câu thơ đã vẽ nên bóng dáng con người. con người xuất hiện một cách tráng lệ, thống trị không gian và thời gian, xua tan đi sự cô đơn, trống trải của thiên nhiên. Ngoài ra, lời thơ còn thể hiện sức sống mãnh liệt và khát vọng lớn lao của nhà thơ.

    c) kết luận:

    • khái quát những nét nghệ thuật: sử dụng từ Hán; quy ước tượng trưng: lấy mây và chỉ mặt trăng; lấy chuyển động và tĩnh, lấy cảnh để khắc thời gian, nhấn mạnh cảm xúc của con người; cổ điển xen lẫn hiện đại …
    • giá trị nội dung khái quát: hình ảnh thiên nhiên bao la, rộng lớn nhưng hoang vắng, hiu quạnh. hình ảnh một con người có sức sống mãnh liệt, ung dung tự tại giữa gông cùm xiềng xích.

    xem thêm: phân tích lược đồ bài thơ buổi tối

    phân tích – mẫu 1

    “tháp mười đẹp nhất, hoa sen đẹp nhất việt nam có tên là chú ho”

    Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, một nhà chính trị kiệt xuất, một người có trách nhiệm mà còn là một nhà thơ có trái tim nhân hậu. những bài thơ ông viết luôn chứa đựng tình cảm, tâm tư của một con người vì đất nước, vì nhân dân. Một trong những bài thơ thể hiện rõ nhất tinh thần và phong cách Hồ Chí Minh là bài thơ Chiều tối (Lăng).

    chiều muộn là bài thơ số 31 của tập thơ Nhật ký trong tù. bài thơ được viết vào năm 1942 trong một lần đi làm của chú tôi.

    “chim mỏi bay vào rừng kiếm chỗ ngủ. Mây bay nhẹ giữa, mặt đất vắng”

    Hình ảnh thiên nhiên phảng phất chút buồn nên thơ. những cánh chim trời sau một ngày dài vỗ cánh bay kiếm mồi cũng đã mỏi mòn trở về sâu trong rừng tìm chốn nghỉ chân. Giữa không gian bao la của đất trời, đôi cánh của chú chim nhỏ chao đảo, dù có mệt nhọc, vất vả nhưng vẫn cố vươn mình bay về tìm nơi trú ngụ. con chim chiều mang nỗi buồn không nguôi. những cánh chim ấy cũng là đôi chân của những con người bị giam cầm ở đó, vẫn miệt mài tìm con đường giải phóng quê hương, vẫn khao khát một ngày được trở về quê hương thân yêu. Dù đau đớn và mệt mỏi, anh ấy vẫn không ngừng khao khát được tự do, được sải cánh và bay như một chú chim giữa thế giới rộng lớn.

    “những đám mây nhẹ nhàng bay lơ lửng trong không trung”

    Khoảnh khắc hoàng hôn gợi lên nhiều nỗi buồn xa xăm, nhất là đối với những ai đang mang nỗi buồn bên ngoài. lúc này dường như trong lòng nhà thơ lại dâng lên một nỗi buồn khó tả. vì vậy, cảnh trong mắt người ta thật buồn và gợi nhiều cảm xúc. cánh chim mỏi chiều, một đám mây bơ vơ cô đơn bay nhẹ giữa không trung. cảnh đẹp thanh bình mà sao buồn quá. Có phải vì lòng người trĩu nặng nỗi đau, vì:

    <3

    con người, cho dù anh ta có mạnh mẽ và lý trí đến đâu, cũng sẽ có những lúc yếu đuối và mệt mỏi. bạn cũng vậy, buổi tối là lúc mọi người quây quần bên bữa cơm gia đình, nhưng bạn lại một mình trong trại giam hẻo lánh, nơi đất khách quê người mà sao không thiết tha, sao không, chạnh lòng? nỗi nhớ, niềm khao khát quê hương dường như cuộn trào trong lòng các nhà thơ.

    “Thiếu nữ phố núi xay ngô, vừa xay xong, lò đã đỏ lửa”

    Từ hình ảnh thiên nhiên to lớn nhưng lạnh lẽo, thấm đẫm nỗi buồn, anh hướng sự chú ý đến hình ảnh cuộc sống bình dị nhưng ấm áp nơi vùng cao. hình ảnh cô gái xay ngô không chỉ gợi lên những động tác khỏe khoắn mà còn thể hiện vẻ đẹp của con người, họ đẹp trong công việc bình dị. hình ảnh buổi tối được nhìn từ xa đến gần, từ không gian bao la và tĩnh lặng của rừng cây đến không gian nhỏ bé nhưng ấm áp của làng quê. chính sự ấm áp trong cuộc sống bình dị ấy đã hun đúc trong lòng nhà thơ tình yêu cuộc sống và niềm tin mãnh liệt vào tương lai. chữ “hoa hồng” ở dòng cuối được coi là nhan đề của bài thơ, không chỉ thắp sáng cả bài thơ mà còn thể hiện tinh thần lạc quan, niềm tin mãnh liệt của người chiến sĩ cách mạng vào tương lai đất nước. .

    Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, ngắn gọn, súc tích, giàu giá trị biểu cảm. điều đặc biệt tạo nên giá trị của bài thơ không chỉ bởi nội dung giàu tính nhân văn mà còn bởi vẻ đẹp trong nghệ thuật thể hiện. đó là sức mạnh cảm xúc của ngôn từ, là sự kết hợp hài hòa giữa chất liệu cổ điển và tinh thần hiện đại. chính việc vận dụng linh hoạt nhiều biện pháp tu từ như điệp ngữ, ẩn dụ, tả cảnh ngụ tình… bài thơ đã thực sự trở thành một trong những tác phẩm xuất sắc đóng góp vào những thành tựu to lớn của nền văn học dân tộc.chiều tối không chỉ thể hiện tâm hồn nhạy cảm, lòng yêu đời tha thiết của nhà thơ mà còn bộc lộ tinh thần lạc quan, yêu đời dù gặp nghịch cảnh của người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh. chi minh.

    hậu phân tích buổi chiều – mẫu 2

    Nhận xét về tập thơ “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh, nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh viết: “Quy luật thống nhất giữa cách mạng và thơ chân chính đã khiến Bác Hồ trong thời gian rèn luyện đã biến tôi thành chiến sĩ cách mạng đồng thời làm trái ý Người. , chuẩn bị cho mình những điều kiện để trở thành một nhà thơ lớn ”. Đây là tập thơ chữ Hán của Bác Hồ viết trong thời gian Bác bị chính quyền bắt giam. một trong những tác phẩm tiêu biểu của tập thơ này là bài thơ “chiều tàn”.

    “Chiều tối” được sáng tác với bối cảnh chở người từ trại giam Tinh Tay đến trại giam Thiển Bảo vào cuối mùa thu năm 1942. Khó khăn, thử thách không ngăn được bước chân của người chiến sĩ. Tôi làm thơ để “ngâm thơ cho vui” và cũng để chờ ngày nghỉ. những bài thơ của ông không chỉ “mênh mang tình tứ” (hoàng trung thông), mà còn là những vần thơ đanh thép, thể hiện một tinh thần thép.

    Chỉ với lối viết miêu tả và một số dấu gạch ngang dọc, Hồ Chí Minh đã khắc họa hình ảnh thiên nhiên trong suốt hai dòng đầu của bài thơ:

    “Chim hoàng quy lam tam thuc thuc co van man thien voi”

    (những con chim mệt mỏi trở về rừng tìm chỗ ngủ. Mây bay nhẹ giữa không trung)

    bữa tối là lúc những chú chim sải cánh tìm chỗ ngủ sau một ngày kiếm ăn mệt mỏi. những cánh chim bay lúc hoàng hôn gợi lên sự nhỏ bé trong một không gian rộng lớn của cả khu rừng. Ta có thể bắt gặp hình ảnh quen thuộc này trong thơ ca truyền thống như ca dao: “Chim bay về núi khuya” hay trong câu ca dao của bà. thanhquan:

    “Từng bước gió mang đi chim bay và dặm đường đầy sương”

    (cảnh buổi chiều)

    Chiều đã buông để khép lại một ngày dài, nhường chỗ cho màn đêm và bóng tối ngự trị. là thời điểm mọi thứ kết hợp lại với nhau, nhưng cũng là lúc gợi lên những nỗi buồn. những con chim đã tìm thấy một nơi để phục hồi và các tù nhân không khỏi cảm thấy đau lòng. bạn khao khát một nơi để dừng chân và nghỉ ngơi. mệt mỏi và cô đơn, nhưng người chiến sĩ cách mạng vĩ đại ấy chưa bao giờ than thở. bạn đối mặt với hoàn cảnh bằng một ý chí và nghị lực phi thường.

    giữa không gian bao la ấy còn có sự hiện diện của những đám mây bồng bềnh, hiu quạnh. so với nguyên tác, bản dịch thiếu chữ “nàng” khiến ý thơ không thể hiện được nét độc đáo của đám mây phía trên bầu trời. không chỉ có cánh chim mà cả những đám mây cũng mang lại cảm giác cô đơn. bạn phải là người có lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thì mới có thể thấy được cái hồn của cảnh vật.

    Bức tranh thiên nhiên núi rừng lúc chiều tà được miêu tả qua một số chi tiết nổi bật đã làm bật lên tâm hồn của một thi nhân. tâm hồn ấy đồng điệu, đồng cảm với vạn vật vì giữa vạn vật và chính nhà thơ cũng có những nét tương đồng. tay chân bị xiềng xích, xiềng xích trói chặt nhưng Hoảng vẫn giữ được sự điềm tĩnh, điềm tĩnh. nếu không nhờ một người có tinh thần thép và tinh thần lạc quan, có lẽ anh đã không hướng tâm hồn mình ra thế giới bên ngoài để nhìn và cảm nhận chúng. ta dễ dàng nhận thấy chất liệu thơ Đường được sử dụng trong hai câu thơ: chiều tà, hình ảnh cánh chim, làn mây, tất cả những bài thơ cổ này đều gợi lên một nỗi buồn hiu quạnh cho cả gia đình, chủ thể trữ tình. và người đọc. Đồng thời, những hình ảnh ước lệ đó cũng diễn tả sự chuyển động tinh tế của thời gian, cảnh vật khi hoàng hôn buông xuống trên miền đất xa lạ.

    Nếu hai câu thơ đầu miêu tả hình ảnh thiên nhiên núi rừng thì hai câu thơ tiếp theo tả cảnh sinh hoạt của con người:

    “trai thanh nien, thien duong ma con ma, co nhieu hoa tiet”

    (cô gái xóm núi xay ngô, xay cả đống than hồng đã cháy)

    những dấu hiệu của sự sống con người xuất hiện để đẩy lùi nỗi buồn của những người tù. con người là chủ thể, là trung tâm của hình ảnh cuộc sống này. bạn đã có cái nhìn từ bức tranh lớn đến từng chi tiết, từ xa đến gần, từ bầu trời đến mặt đất để thấy cuộc sống của người dân miền núi. sự quay của cối xay ngô được lặp đi lặp lại qua các từ “ma bảo”, “ma bảo” cho thấy các vòng quay vẫn tiếp diễn và thể hiện cuộc sống lao động vất vả của những đứa trẻ. nghệ thuật thông điệp kết thúc này cũng cho thấy chu kỳ của thời gian và vũ trụ. người phụ nữ trẻ đến từ vùng núi làm nghề xay ngô đã trở thành tâm điểm anh tìm kiếm. Nếu thơ cổ lấy thiên nhiên làm chủ đề thì trong thơ cổ, con người là chủ đề. Hình ảnh cô gái miền núi bên bếp lửa chuẩn bị bữa cơm chiều cho gia đình là một hình ảnh đẹp và toát lên nét khỏe khoắn của người con gái miền núi. cuộc sống lao động và sinh kế của con người đáng được tôn trọng.

    thời gian đã chuyển sang màu tối, mặc dù không có từ “tối” trong bản chuyển ngữ, người đọc có thể biết rằng trời đã tối bằng cách nhìn thấy chiếc brazier “đang cháy”. “bông hồng” là nhãn, là điểm sáng của bài thơ, hình tượng thơ có sự chuyển động từ bóng tối đến ánh sáng, từ buồn sang vui, từ chết đến sống, từ cô đơn đến đoàn tụ, gặp gỡ. hình ảnh “ngọn lửa hồng” là một hình ảnh giản dị nhưng đầy ý nghĩa. nó gợi lên bao nhiêu sức nóng, làm tan đi cái lạnh của núi rừng và nỗi cô đơn của con người. người dũng cảm đó cũng khơi dậy niềm tin cách mạng mạnh mẽ rằng cuộc cách mạng nhất định sẽ thắng lợi.

    nhà tù nghĩ rằng thế giới của đá không thể làm khô tâm hồn bạn. kể cả khi bị dày vò về thể xác, Người vẫn hướng tâm hồn ra thế giới bên ngoài để hòa hợp, đồng cảm với sinh vật và con người. người quên đi những nỗi buồn của mình để tận hưởng những niềm vui nhỏ bé, giản dị của người dân lao động. tỏa sáng vẻ đẹp của một con người vĩ đại, trí tuệ tuyệt vời, lòng dũng cảm tuyệt vời. đoạn thơ đã thể hiện tinh thần lạc quan cách mạng mãnh liệt, mạch thơ và hình tượng thơ luôn hướng về sự sống và ánh sáng. Đây là một trong những đặc trưng cơ bản của phong cách thơ Hồ Chí Minh. Ngoài ra, sự kết hợp giữa màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại cũng góp phần không nhỏ vào thành công của tác phẩm.

    “đêm” cho thấy tâm hồn người chiến sĩ cách mạng và tâm hồn nhà thơ đã hòa làm một. mỗi bài thơ của bạn đều có chất thép, chất thép toát ra từ tư tưởng của một người chiến sĩ vĩ đại. không vì thế mà nhà thơ bạn viết về anh bằng những vần thơ đầy cảm xúc:

    “Tôi cảm thấy tiếc cho tấm thân mười bốn trăng chết tiệt, xanh xao và xiềng xích, chân yếu, mắt mờ, tóc bạc, nhưng thơ bay bằng cánh hạc”

    (theo dõi anh chàng)

    phân tích bài thơ Cảnh khuya – bài mẫu 3

    Ngoài sự nghiệp chính trị vẻ vang, Hồ Chí Minh còn có một sự nghiệp sáng tác vô cùng quý giá và đồ sộ. Có thể nói, trong suốt chặng đường cách mạng gian khổ, sáng tác thơ ca dường như đã trở thành một phần không thể thiếu trên con đường giải phóng dân tộc của Bác. Với chất thơ trữ tình chính trị đậm nét, tác phẩm của Hồ Chí Minh không chỉ đề cao lòng yêu nước, đánh giặc mà còn chứa đựng vẻ đẹp quý giá của tâm hồn vị lãnh tụ hào hùng. cố (mộ) là một trong những tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh, không chỉ thể hiện những gian khổ, khó khăn mà Người đã phải trải qua trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, mà quan trọng hơn là trong những năm qua. tâm hồn của nhà thơ và chiến sĩ thành phố Hồ Chí Minh.

    Sau nhiều năm lưu lạc ở nước ngoài, không lâu sau khi về nước, Hồ Chí Minh tiếp tục sang Trung Quốc để được quốc tế giúp đỡ cho cách mạng Việt Nam. sau nửa tháng vất vả băng rừng, vừa đặt chân qua biên giới, anh đã bị chính quyền bắt vì tưởng ngáo đá và phải ngồi tù 13 tháng. cuộc sống trong tù cùng với những tháng ngày lao động khổ sai đã được 134 bài thơ Nhật ký trong tù ghi lại. bình luận về tập thơ này, nhà thơ bạn đã viết một số câu thơ rất cảm động:

    “Tôi tiếc cho thân hình bị nguyền rủa của mười bốn trăng xanh và xiềng xích hoặc chân yếu, mắt hoa râm, tóc bạc, nhưng thơ bay … cánh hạc ung dung”

    Cảnh khuya là bài thơ tiêu biểu nhất trong số 134 bài thơ trong tập Nhật ký, được ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt, đó là vào một buổi chiều cuối thu năm 1942, khi người chú bị ốm, bị áp giải khỏi trại giam tinh tay. đến nhà tù thien bao (Trung Quốc). đối mặt với cảnh gông cùm, chân đứng nơi đất khách quê người nhưng với tấm lòng lạc quan, yêu thiên nhiên, người chủ tịch Hồ vẫn tự trào viết nên những vần thơ thật ấm áp, xua tan bóng tối, cô đơn nơi núi rừng. phong cách cổ điển bắt mắt và ý thơ hiện đại đã tạo cho buổi tối một vẻ độc đáo, thơ không chỉ là những cảm xúc ngẫu hứng mà còn chứa đựng vẻ đẹp tâm hồn cao cả, những hoài bão, khát vọng lí tưởng cách mạng đang nảy nở.

    “Chim hoàng quy lam tam thuc thuc co van man thien voi”

    dịch thơ:

    “Những con chim mệt mỏi đi vào rừng để tìm một nơi để ngủ.” những đám mây lơ lửng giữa bầu trời ”

    Cảnh thiên nhiên buổi tối được phác họa bằng hai hình ảnh cánh chim và đám mây, những chất liệu quen thuộc thường thấy trong thơ cổ điển khi các nhà thơ miêu tả cảnh hoàng hôn. Khi đọc những câu thơ này, người ta dễ liên tưởng đến hình ảnh nhân vật trữ tình đứng giữa đất trời, đưa mắt nhìn lên không trung, tình cờ bắt gặp những cánh chim đen trên nền trời, cùng mây trắng trong. hình dạng của một đám mây. của Mặt trăng. buổi chiều, đó là một khung cảnh đầy cảm xúc thơ mộng, đầy cảm giác tự do và phiêu lưu. nhưng ít ai biết rằng đằng sau những câu thơ ấy còn có một người tù với cùm trói cổ, cùm quanh chân. có thể nói, trong hoàn cảnh khó khăn như vậy mà Hồ chí minh vẫn có thể bình thản nhìn mây thì làm sao nhà thơ có được sự lạc quan tuyệt đối?

    Hai dòng đầu của Chiều tối là tiêu biểu cho phong cách “thơ lục bát” trong văn học cổ điển, chỉ cần hai dòng ngắn gọn thôi cũng đủ vẽ nên bức tranh thiên nhiên độc đáo và ý nghĩa. . trước hết là hình ảnh cánh chim trời, nếu trong thơ cổ, cánh chim bay lượn thường tượng trưng cho sự cô đơn, lạc lõng, mất phương hướng. Trong thơ ca, cánh chim mang màu sắc hiện đại hơn, khi nó có nơi để trở về sau ngày dài làm việc mệt mỏi, đó là tổ ấm hạnh phúc. Không chỉ vậy, ngoài chuyển động của cánh chim, người ta còn tinh ý cảm nhận được sự mệt mỏi ẩn chứa trong mỗi lần vỗ cánh. sở dĩ có được tình cảm như vậy là vì sự đồng cảm của tác giả với loài chim, với những người cùng cảnh ngộ. Em vừa trải qua một ngày dài đi bộ mệt mỏi, đôi chân rã rời, chỉ mong sớm được yên nghỉ. chỉ khác là những cánh chim ấy có chốn đi về, chẳng biết nghỉ lúc nào, điều đó cũng khơi dậy trong lòng nhà thơ những nỗi niềm.

    nhưng trên tất cả, người ta vẫn thấy được một trái tim lạc quan, yêu đời, luôn hướng đến những điều tích cực thì khi đã tìm được bến đỗ rồi vẫn thấy hạnh phúc. một chút hạnh phúc và ấm áp trong khung cảnh đơn độc tự nhiên này. hình ảnh tiếp theo là hình ảnh đám mây bồng bềnh trên nền trời xanh ngắt nhờ mặt trời lặn cũng là một trong những chất liệu quen thuộc trong thơ ca cổ điển. hình ảnh đám mây được nhiều thi nhân xưa sử dụng trong thơ ca của mình để bộc lộ tâm hồn tự do, tự tại, phiêu lưu, thoát ly thực tại, đồng thời cũng bộc lộ phần nào nỗi cô đơn, lạc lõng của nhân vật lãng tử. ý này cũng thích hợp để nói về tâm trạng của Hồ Chí Minh trong ngục tù vô cùng khắc nghiệt, nhưng dừng lại ở đó thì chưa đủ để lột tả hết vẻ đẹp của thơ Người. bởi lẽ, ngoài sự lẻ loi, cô đơn của đám mây, người ta còn thấy một tâm hồn lạc quan, thư thái và cách nhìn sự việc tích cực. hai chữ “lãng đãng” tả sự di chuyển chậm chạp của đám mây chính là thể hiện tình yêu ung dung, nhàn nhã của kẻ sĩ dù bị xiềng xích quấn lấy. hai chữ “khí trời” có nghĩa là bầu trời trong xanh, sạch sẽ như tấm lòng của người chiến sĩ cách mạng, không bị hoàn cảnh trói buộc, tù đày. Tất cả những điều đó càng làm nổi bật tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường của Hồ Chí Minh trong những ngày tháng bị giam cầm, có thể nói không gì có thể làm suy yếu ý chí đó, nhưng càng làm sáng tỏ lý tưởng cách mạng trong lòng nhân dân.

    Văn học là nhân học, từ hình tượng cổ điển như cánh chim, đám mây, có xu hướng buồn cô đơn, nhưng trong thơ lại chứa chan tình người. cánh chim hướng về hạnh phúc quê hương thể hiện khát vọng trở về quê hương để nối lại tình quê hương, còn đám mây là tinh thần lạc quan, quyết tâm chinh phục mọi cô đơn, mất mát nơi đất khách quê người, dù ở cô. ẩn náu. nỗi buồn cô đơn nơi xứ người của nhà thơ.

    “trai bao, nguoi phu nu, con ma, con ma, bao nhieu, hong”

    Ở hai câu thơ tiếp theo, anh nhìn cảnh sinh hoạt của người dân vùng cao. hình ảnh cô gái xay ngô là một hình ảnh đẹp và ý nghĩa, khi con người lao động trở thành trung tâm của bài thơ. khác hẳn với hình ảnh con người trong thơ ca truyền thống luôn bị cảnh thiên nhiên bao la, rộng lớn như cảnh thơ huyện cô liêu làm lu mờ, che khuất. thanh quan “chồm hổm dưới núi mấy chú”, hay từ huy gần “tiếng thị xa chợ chiều”. Trong thơ Hồ Chí Minh, hình ảnh cô gái xay ngô thật rõ nét và ấn tượng, tuy giản dị, đời thường nhưng lại bộc lộ sức sống mãnh liệt và vẻ đẹp khỏe khoắn của tuổi trẻ trong lao động. Có thể nói, hình ảnh cô gái xay ngô là một dấu son cho quan niệm thẩm mỹ mới của Hồ Chí Minh, khẳng định vai trò, vị trí của con người trước thiên nhiên, vũ trụ bao la, con người thống trị thiên nhiên và sống hòa hợp với thiên nhiên. tất cả đã tạo nên một vẻ nên thơ đặc biệt với nét cổ điển và nét hiện đại làm cốt lõi ấn tượng.

    Không chỉ vậy qua hình ảnh cô gái mài ngô tối, ta còn thấy được những mong muốn, kỳ vọng của tác giả khi luôn hướng về cuộc sống của người dân lao động, về mái ấm êm ấm, dù vất vả, nhưng lại ẩn chứa vẻ đẹp tiềm ẩn, mạnh mẽ, tràn đầy hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn.

    Ở dòng cuối của bài thơ “ma thuột dạ lo làm hồng”, khi cô gái vừa hoàn thành công việc xay ngô, chiếc cối xay đã rực hồng, đánh dấu thời khắc chuyển giao từ chiều sang đêm. từ “hoa hồng” đã trở thành nhãn hiệu cho toàn bộ bài thơ hai mươi tám chữ. Thông thường, khi trời nhá nhem tối đến rạng sáng, có lẽ bài thơ sẽ kết thúc bằng một khung cảnh bóng tối bao trùm cả núi rừng, bao trùm lên hình ảnh con người, bỏ lại sự cô đơn, lạnh lẽo và mênh mông. nhưng vào lúc chạng vạng, bóng tối bắt đầu bằng hình ảnh chiếc bìm bịp đã rực hồng, giống như một khởi đầu ấm áp, đại diện cho một ngày sinh mệnh vừa kết thúc, nhưng cuộc sống hàng ngày mới thực sự bắt đầu. Chính vì vậy mà người ta không còn cảm nhận được bóng tối, u ám mà cảm giác ấm áp, một cảnh mới có thể tiếp diễn ngay sau khi cô gái xay xong bắp nâu, đó là cảnh bữa cơm đầm ấm, vui vẻ bên gia đình.

    đặc biệt là từ “hoa hồng” như làm bừng sáng cả bài thơ, xua tan không khí u tịch, hiu quạnh của núi rừng, cảnh thiên nhiên bao la bỗng chốc thu nhỏ lại hình ảnh người lính tráng. , nhà tuy nhỏ nhưng đậm nghề. Mọi người. Thơ Hồ Chí Minh luôn tích cực và tươi sáng, luôn hướng về ánh sáng và sự sống. nhìn xa hơn cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, chữ “hồng” ở cuối bài hàm chứa những ý nghĩa sâu xa, hình ảnh người con gái xay ngô đầy vất vả, nhọc nhằn, như cảnh người cô nặng trĩu gông cùm. . quấn quanh cơ thể. khi cô gái xay ngô xong, chiếc bím được thắp sáng, là hình ảnh ẩn dụ cho người chú sau khi đánh ngục, ngày cách mạng tươi sáng, tương lai còn tươi sáng. có thể nói “màu hồng” còn là đại diện cho màu sắc của lý tưởng cách mạng nơi người lính, ấm áp, tràn đầy nhiệt huyết, sẵn sàng vượt qua nghịch cảnh đen tối để tỏa sáng. đó là chất thép tiềm ẩn trong thơ Hồ Chí Minh, tinh tế và ý nghĩa.

    đêm là một trong những bài thơ Hồ Chí Minh hay nhất khi có sự đan xen giữa nét cổ điển và hiện đại, tư tưởng thơ sâu sắc, tinh tế khi lời thơ ngắn gọn, súc tích nhưng giàu chất thơ, nhiều trường đoạn phát triển. về đêm, ngoài vẻ đẹp của tinh thần lạc quan, yêu đời, sống chan hoà với thiên nhiên, ta còn thấy vẻ đẹp của tấm lòng vị lãnh tụ vĩ đại khi luôn hướng về cuộc sống của người lao động. trái tim ấm áp luôn có một cảm xúc mạnh mẽ. đanh thép, vững vàng và tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng sáng ngời. trở thành động lực to lớn để người lính bước tiếp trên con đường giải phóng dân tộc nhiều vinh quang nhưng cũng không ít gian khổ sau này.

    phân tích buổi chiều – mẫu 4

    Hồ Chí Minh là cái tên mà mọi người dân Việt Nam đều khắc ghi trong tim với tình yêu thương và sự kính trọng vô bờ bến. Trong công cuộc giành lại tự do cho dân tộc, đồng chí đã phải chịu nhiều gian khổ, khó khăn, nhiều lần bị bắt, chuyển từ trại giam này sang trại giam khác, bị đánh đập, tra tấn dã man. tuy nhiên, trong hoàn cảnh khó khăn đó, con người vẫn ánh lên một tinh thần lạc quan, một niềm tin vào ngày mai tươi sáng. bài thơ “chiều thu” trích từ tập thơ “nhật kí trong tù” đã thể hiện phần nào tinh thần ấy của con người. bài thơ chỉ đơn giản là tả cảnh trên cánh đồng trong đêm tối, nhưng ẩn chứa trong đó là ước mơ tự do cho bản thân, ước mơ được trở về quê hương tiếp tục làm nhiệm vụ.

    bài thơ được sáng tác khi ông bị đưa từ nhà tù Tinh Tay đến nhà tù Thiển Bảo. hình ảnh buổi chiều qua con mắt của một người tù bị cùm chân và tay:

    “queen quy lam tam thuc thuc co van mann thien khong”

    dịch thơ:

    “những cánh chim mệt mỏi trở về rừng tìm chỗ ngủ, những đám mây bay nhẹ giữa không trung.”

    Buổi chiều thường là thời gian để gặp gỡ, nhưng cũng là lúc mọi người cảm thấy vô cùng cô đơn nếu họ không có một nơi để về. những chú chim mệt mỏi sau một ngày kiếm ăn cũng bay về tổ. chỉ còn lại một đám mây trong không khí. Giữa thiên nhiên bao la, hùng vĩ, con người và cảnh vật như dừng lại, chỉ có đám mây ấy vẫn tiếp tục trôi nhẹ làm nổi bật sự tĩnh lặng, bình yên của buổi chiều núi rừng. đám mây đó cũng giống như bạn, trong hoàn cảnh tù tội, vẫn phải bước đi một mình. cô đơn và mây tĩnh lặng, bạn cũng bình tĩnh và cô đơn. tuy nhiên, phải là người yêu thiên nhiên, phải có tâm hồn thoải mái, bình tĩnh, lạc quan, vượt qua mọi gông cùm vật chất để nhìn thiên nhiên và hòa mình với thiên nhiên theo cách đó. Thân thể kiệt quệ vì phải đi cả ngày, đường đi gập ghềnh, nhưng anh vẫn hướng mắt về tổ chim, về chiều mây trôi.

    Dù chỉ vỏn vẹn hai dòng bảy chữ, nhưng nó cũng khiến người đọc hình dung ra cảnh buổi chiều trong rừng cây thật mênh mông, âm u, vắng vẻ, hiu quạnh. đồng thời cũng thể hiện khát vọng về với đất mẹ, khát vọng được tự do như trên mây.

    Trong khung cảnh thiên nhiên bao la, đượm buồn cuối chiều nơi núi rừng, con người chợt hiện ra:

    “con trai của một thị trấn, một thiếu nữ với một hồn ma, một chiếc nhẫn ma thuật và một chiếc hồ lô màu đỏ.”

    dịch thơ:

    “Người phụ nữ miền núi xay ngô trong bóng tối, cô ấy xay tất cả mọi thứ, chiếc brazier đã có màu hồng.”

    Giữa khung cảnh thiên nhiên u buồn như trong thơ cổ, người họa sĩ hiện lên như một điểm sáng, làm cho toàn bộ bức tranh thêm sinh động, tươi vui. đó là nét cổ điển mà hiện đại của thơ Hồ Chí Minh. hình ảnh vừa có con người vừa có những hoạt động lành mạnh của con người. đó là vẻ đẹp và sự đáng quý của nhân dân lao động. cô gái đang xay ngô bên cạnh than để chuẩn bị bữa tối. ở đây, bản dịch thơ không đảm bảo tính nghệ thuật của chữ Hán. người bác lặp lại hai từ “bao trùm” ở cuối câu thứ ba và đầu câu thứ tư, như những vòng quay nối tiếp nhau của cô gái, như vòng quay của thời gian, ngày càng đen tối. bức tranh được sưởi ấm bởi cảnh lao động lành mạnh của những người phụ nữ lao động và bởi ánh hồng rực của bếp lò. đó chỉ là một niềm hạnh phúc giản đơn, nhưng tôi vẫn gạt mọi đau đớn và thể xác sang một bên để cảm nhận nó.

    nhà văn của man cao đã viết: “Khi chân đau, người ta không còn tâm trí để nghĩ đến người khác”, để nói rằng con người có xu hướng lo lắng về những đau khổ của chính mình. tuy nhiên, ở chú Hồ, một người luôn trăn trở với mối lo của dân tộc, của đất nước, vẫn quan tâm đến những điều nhỏ nhặt nhất, đơn giản nhất. đó là đức tính cao quý của nhà lãnh đạo vĩ đại của chúng ta.

    bài thơ “chiều” là một bài thơ tiêu biểu cho vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của thơ ca Hồ Chí Minh. bài thơ vừa đơn giản miêu tả cảnh vật thiên nhiên và con người nơi xóm núi trong buổi chiều tà, vừa hàm chứa khát vọng được tự do, sum vầy. đồng thời, ở anh, chúng ta luôn thấy vẻ đẹp của một tinh thần vị tha, một trái tim nhân ái, luôn quan tâm đến những điều đơn giản nhất.

    phân tích buổi chiều – mẫu 5

    “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh được viết từ ngày 2 tháng 8 năm 1942 đến ngày 10 tháng 9 năm 1943, khi chính quyền cho rằng ông bị giam cầm vô cớ và bị tra tấn trong tất cả các nhà tù ở Quảng Ninh. tây trung quốc. trong số 133 bài thơ của tập “Nhật ký trong tù” có chùm thơ ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ trong ngày: sáng sớm, trưa, chiều, chiều, tối, hoàng hôn, nửa đêm… mỗi bài là một cảm xúc trong những ngày “ác mộng”.

    Tham khảo: Tổng hợp Thơ Lớp 12 Hay Nhất ❤️ Những Bài Thơ Lớp Mười Hai – Banmaynuocnong

    “chiều” (mộ) là số 31 trong “nhật ký trong tù”. bài thơ số 32 là “ngủ đêm trong long tuyền”. nên bài hát “chiều tối” ghi lại cảnh làng núi cuối ngày trên đường từ thiển bảo về long tuyền tháng 10 năm 1942.

    Đây là bài thơ gốc:

    “kuu quy lam tuong thu thuong, co van man man do thien khoi, son thôn nữ thiếu nữ, che ma hoan lo do hong.”

    một cái nhìn thoáng qua, một ước mơ thầm kín về một mái ấm, một chốn dừng chân… của thi nhân trên con đường lưu đày xa xứ ngàn dặm được bộc lộ qua bài thơ, người đọc qua trí tưởng tượng. tả cảnh đêm phố núi xa lạ.

    Hai câu đầu miêu tả bầu trời cuối ngày. hai nét “lay động” đôi cánh mỏi mệt (chim hỗn tạp) bay về rừng xa tìm cây trú ngụ, một đám mây cô đơn lẻ loi (co van) đang trôi (lãng du). kết cấu hai câu của bài thơ song song, giọng điệu thơ nhẹ nhàng, phảng phất hơi buồn. Người lính lưu đày ngước mắt lên trời, thấy chim bay, mây trôi nhẹ mà lòng xao xuyến. rất tinh tế, các bản vẽ bên ngoài đã gợi lên tâm trạng. câu thơ dịch của nam tran tuy không thấy chữ “she” trong “co van” nhưng khá hay:

    “Những con chim mệt mỏi trở về rừng tìm chỗ ngủ. Những đám mây nhẹ nhàng bay lơ lửng trên không”.

    hai dòng 1, 2 mang vẻ đẹp cổ điển: tả ít nhưng gợi nhiều, chỉ 2 nét phác (chim bay, mây chuyển) gợi cái thần của cảnh vật, ngày tàn, đêm dần buông, tạo đối tượng dường như đang chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi và mệt mỏi. nghệ thuật vẽ mặt, lấy động để tả tĩnh được vận dụng sáng tạo. thấy chim bay, mây trôi mà cảm thấy trời đất bao la hơn, cảnh đêm vắng lặng hơn. khung cảnh buổi tối ở xóm núi này vẫn mang tính ước lệ, nó mở rộng những liên tưởng và cảm xúc thẩm mỹ trong mỗi chúng ta, … gợi nhớ đến cánh chim trong “truyện kiều”: “chim ban ngày bay lượn trên rừng”; nhớ cánh chim mỏi và hình ảnh người lữ khách trong một buổi chiều băng giá lạnh lẽo, hoài niệm:

    “gió ban mai ngàn thổi, chim bay mỏi mòn, muôn dặm sỏi đá, khách khí quật cường

    (mất tích về nhà vào buổi chiều)

    trở lại với bài hát “chiều tà”, đám mây cô đơn đang trôi, lơ lửng trên bầu trời là hình ảnh ẩn dụ về một kẻ tha hương trên con đường dài khổ ải. ngôn ngữ thơ súc tích, giàu sức biểu cảm, vừa tả cảnh vừa tả, nhẹ nhàng nhưng ấn tượng, có thừa.

    sau câu 3 – 4 cuối của cảnh bầu trời, tác giả nói về cuộc sống của con người ở miền sơn cước. cô gái và đống than hồng là trung tâm của hình ảnh này:

    “trai nghiem thien nhien, nhung nguoi phu nu co mat, ma co nhieu hoa tiet.”

    một nét vẽ trẻ trung, bình dị và duyên dáng: một cô thôn nữ đang mài ngô. ba chữ “ma bảo” cuối câu ba thu hồi “bao ma thuân…” đầu câu 4 chuyển động nhịp nhàng xay ngô, vừa tả chuyển động tròn đều của cối xay đá. . sự cần cù của phụ nữ miền núi được cảm nhận và trân trọng. nghệ thuật ám chỉ liên tục đã làm cho thơ trở nên uyển chuyển và có tính nhạc. câu thơ địch: “cô thôn nữ xay ngô tối”, với 2 chữ đã làm mất đi phong cách thơ Hồ Chí Minh; từ “tối” đã được thêm vào ý nghĩa của bài thơ, còn đâu là nghĩa của tiếng nước ngoài trong bài thơ chữ Hán này?

    mọi thứ dường như theo dòng thời gian xuất hiện: khi ngô được mài xong, than hồng đã hồng, sáng, nóng vô cùng. khi đêm tối, chiếc brazier phát sáng, cảnh tượng thu hút tâm trí của người tù bị dẫn đi. Tàn tro lạnh trong bếp buồn làm sao! Ngọn đèn, bếp hồng trong đêm lạnh giá làm sao. hình ảnh người thiếu nữ phố núi đang mài ngô và chiếc gùi thắp lửa tượng trưng cho một mái ấm sum họp gia đình, nó đã làm vơi đi bao nỗi cô đơn, vắng lặng. hướng về cảnh đời bình dị: thiếu nữ mài ngô nhìn bếp lửa bập bùng, khi chân tay bị xiềng xích nặng trĩu cõng trong buổi chiều tà tìm nơi nương tựa cho tâm hồn. dường như nỗi cô đơn, lẻ loi, lạnh lẽo tan biến. thoáng thấy ước mơ thầm kín về một mái ấm gia đình đã đến với nhà thơ trên đường đi đày khi đêm xuống. cảm hứng thơ đầy tính nhân văn. giản dị mà thơ mộng. thơ đó là tâm hồn con người và tình người. Hai nét cối xay và đốt lò là hai nét vẽ giản dị, ấm áp, khỏe khoắn, trẻ trung làm nên chất thơ với sự hài hòa giữa màu sắc cổ điển và chất hiện đại, có vẻ ngoài bình dị.

    nhiều bài thơ khác cho thấy trên con đường đày ải khó khăn, người chiến sĩ cách mạng trong “Nhật ký trong tù” gần như bớt cô đơn, tâm hồn luôn gắn bó với nhịp sống, làm chủ sự trọn vẹn của cuộc đời. phong cảnh và sự lạc quan yêu đời. trong chiều tối gió lạnh, vượt qua khó khăn. tiến về phía chuông chùa, tiếng sáo của người chăn cừu, nhưng bước tới:

    “gió sắc như gươm mài đá núi, lạnh buốt như dùi nhọn chọc thủng cành chùa xa tiếng chuông giục người vội vàng, trẻ con dắt trâu sang. tiếng sáo bay “.

    (bản dịch của người đàn ông)

    đôi khi trong cảnh bị xiềng xích, “tranh thủ trời rét” mà vẫn “vượt ngục” tìm được niềm vui nho nhỏ để nuôi tâm hồn: “tiếng bom sớm, vui nghe tiếng hát xóm” (đêm sang đêm) ngủ trên cây nhãn). điều đó cho thấy cuộc sống và tự do là khát vọng của con người. thiên nhiên và con người hiện hữu trong thơ bà bằng những nét vẽ đẹp đẽ, giản dị mà hữu tình, đó là lẽ sống mà bà đã gắn bó, yêu thương suốt đời.

    “chiều” – một bài thơ hay: màu sắc cổ điển được kết hợp một cách ngầm với chất trẻ trung, hiện đại và bình dị. các quatrains chuyển từ hiện trường sang tình yêu, từ bóng tối sang cuộc sống, ánh sáng và tương lai. nét vẽ tinh tế, thể hiện một hồn thơ “vòm trời yêu thương”. bài thơ thấm đẫm một tình yêu bao la dành cho sinh vật và con người. trong lúc khó khăn, tâm hồn bạn vẫn tràn đầy sức sống.

    xem thêm: tóm tắt phần kết bài thơ Chiều tối

    phân tích buổi chiều – mẫu 6

    Hồ Chí Minh được nhân loại biết đến không chỉ là vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc Việt Nam mà còn là nhà văn, nhà thơ lớn của thế kỷ XX. Ngoài sáng tác chính luận, ông còn để lại cho đời một sự nghiệp văn thơ đáng nể. trong đó nổi bật là tập thơ Nhật ký trong tù. tập thơ này giống như một cuốn nhật ký đầy chất thơ ghi lại những cuộc vượt ngục gian khổ của những người tù. nhưng với lòng dũng cảm, tinh thần thép đã vượt qua hoàn cảnh ngục tù bước ra ánh sáng. bài thơ chiều tối là một trong những sáng tác tiêu biểu nhất của dòng nhật kí trong tù:

    “những cánh chim mỏi rừng tìm chỗ ngủ. Mây bay nhè nhẹ. Cô thôn nữ đêm đêm xay ngô, đập nát cả lò than đã hồng”

    Tháng 8 năm 1942, chú Hồ sang Trung Quốc để tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế đối với cách mạng Việt Nam. Sau mười lăm ngày đi bộ, khi vừa đến thị xã Tu Vinh, tỉnh Quảng Tây, ông đã bị chính quyền giam giữ không lý do và bị “xích bởi mười bốn mặt trăng nhạt” trong gần ba mươi nhà tù ở tỉnh Quảng Tây. trong thời gian này, ông đã sáng tác một tập thơ trong tù hàng ngày bao gồm 134 bài thơ chữ Hán. bài thơ “mộ” (buổi chiều) được coi là một bài thơ tứ tuyệt, do những người trên đường từ tinh tay đến thien bì viết ra.

    Đoạn thơ mở đầu bằng hình ảnh thiên nhiên cuối buổi chiều trên đường nghỉ chân. chỉ bằng vài nét chấm phá, hai dòng đầu của bài thơ đã để lại một bức tranh thu nhỏ của khung cảnh thiên nhiên vùng cao lúc “xế chiều”.

    “những cánh chim mệt mỏi vào rừng tìm chỗ ngủ. Mây nhẹ bay trên không”

    thiên nhiên hiện ra với hai nét nổi bật là cánh chim và những đám mây mang màu xưa trong trẻo. hai hình ảnh này tạo không gian khoáng đạt, cao rộng, thể hiện quan điểm sống của tác giả “luôn ngẩng cao đầu trong những hoàn cảnh lao tù”. chiều hôm ấy, hình như ta đã gặp đâu đó trong thơ cổ: “bước qua bóng xế” hay “lúc chiều tà” (nàng huyện thanh quan). cánh chim và đám mây là chất liệu thơ rất quen thuộc trong thơ ca xưa thường được dùng để tả cảnh chiều tà như một kiểu tả thời tiết. ly bach trong doc tu kinh dinh san cung ghi:

    <3

    (chim bay đi, mây tự trôi)

    cái mới ở đây là nếu trong thơ cổ, chim thường bay đến vô cùng, vô tận, gợi cảm giác xa xăm, trôi dạt, chia ly, mang theo nỗi buồn sầu, thì trong thơ, chim bay, bạn gần với tình yêu hơn bao giờ hết. nó chỉ là một con chim tìm tổ ấm sau một ngày dài mệt mỏi để kiếm thức ăn. cái hay ở chỗ, nhìn cánh chim có thể thấy “chim hỗn mang”, thấy trong đường bay của chim là sự mệt nhọc. nghĩa là nhà thơ có thể nhìn thấy chuyển động bên trong của cánh của con chim kia. đây là tình cảm nhân đạo của Hồ Chí Minh. cái nhìn ấy thể hiện tấm lòng nhân ái bao la của con người đối với cảnh vật. đúng là để hu đã từng viết “chú ơi, lòng chú bao la / ôm cả non sông cả kiếp người”. qua đó ta thấy một ý nghĩa mới: người tù dường như cũng đồng cảm với con chim kia, cũng muốn dừng chân sau một ngày đày ải “năm mươi ba cây số một ngày / Áo hào, nón thủng giày dép”.

    với “quyen quy lam”, đó là “co van man man”. bài thơ được dịch khá lỏng lẻo, nhưng đã làm mất đi cái cô đơn, bồng bềnh, bồng bềnh của đám mây. người dịch đã lược bỏ từ “nàng” và chưa diễn đạt được hết ý nghĩa của hai từ “lãng mạn”. tùy theo phần nào của nguyên âm mà ta thấy hình ảnh đám mây lẻ loi, cô đơn từ từ trôi trên bầu trời. nó không chỉ làm cho bầu trời cao hơn, thoáng hơn mà còn gợi lên nỗi buồn của những người tù nơi xứ lạ. tuy buồn nhưng không sầu, không cô đơn như trong thơ cổ điển. Mặc dù câu thơ được dịch: “mây nhẹ trôi trên không” không phải là nghĩa đen, tuy nhiên, nó vẫn có vẻ đẹp riêng của nó. mây di chuyển êm đềm, êm đềm như tâm hồn người tù và người chiến sĩ, thoát khỏi cảnh tù đày, được ra tù mà được thưởng ngoạn cảnh hoàng hôn thả hồn thi sĩ, không còn là cảnh tù đày mệt mỏi. qua đó ta thấy tác giả không để lộ sự mệt mỏi, cô đơn của chính mình. đó chính là tinh thần thép cao cả của người tù: nhà thơ hồ chí minh.

    nhìn chung hai dòng đầu của bài thơ phảng phất nỗi buồn của lòng người, tâm trạng của người tù nhưng cảnh buồn mà không buồn. thạc sĩ nguyễn đức hưng bình luận rằng “những buổi tối như thế này không thiếu văn cổ; nhưng nếu cảnh vật được nhìn qua con mắt của một hồ ly hương, một vẻ u sầu bí ẩn thì chắc chắn sẽ đầy u ám, ở đây, nếu không rõ xuất xứ, nhiều người sẽ nhầm lẫn “mộ” với một bài thơ của một triều đại ”. p >

    Cảnh hoàng hôn trên núi có chút hiu quạnh gợi lên trong lòng người đọc cảm giác buồn man mác, nhưng sự thay đổi của hai câu tiếp theo đã nhanh chóng xóa đi sự cô đơn vốn có của núi rừng. Chính ánh mắt yêu thương và lòng nhân ái bao la của mọi người đã tô thắm thêm vẻ đẹp của những con người chăm chỉ:

    “trai thành phố, thiếu nữ có ma, trong đó có ma một bó hồng”

    trong thời đại Hồ Chí Minh chỉ có một điều ước lớn lao duy nhất: “Tôi chỉ có một điều ước duy nhất, điều ước cuối cùng là làm cho nước ta được hoàn toàn độc lập, đồng bào ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc” . có mặc thì ai cũng được học “. nghĩa là tâm nguyện của họ luôn hướng về nhân dân, đồng bào nơi đây không chỉ hiểu dân tộc Việt Nam chúng ta mà còn cả những người lao động trên thế giới. Đó là tinh thần nhân đạo cao cả của quốc tế cộng sản.

    Không có gì sai khi câu nguyên tác “sơn nữ thôn nữ” dịch là “em gái thôn núi” ở mức độ nghĩa của từ này. nhưng câu thơ dịch chưa thể hiện được lòng thành kính của nhân vật trữ tình đối với nhân dân; giọng điệu trang trọng của câu thơ gốc không có trong lời dịch. phụ nữ đã nhiều lần hiện diện trong thơ chữ Hán, nhưng hầu hết họ thuộc tầng lớp thượng lưu hoặc ít nhất là gần gũi với giới thượng lưu. Hầu hết các cung nữ trong thơ cổ đều buồn rầu vì chiến tranh sinh tử hay thất tình, vị vua xương máu một thời tang tóc:

    “lòng tiểu thư bất tri bất giác, xuân nhĩ ngưng trang lâu. Bắt đầu kiến, dương liễu, nương nương nương nương.”

    dịch thơ

    “gái chửa biết xuân trang điểm đi lên lầu. Trên đường đầu bỗng thấy liễu tơ xanh để chồng đi tìm hầu tước.”

    Cái mới ở đây cũng là viết về hình ảnh người phụ nữ nhưng thơ lại viết về những con người lao động với cái nhìn trân trọng, yêu thương với niềm vui của một tấm lòng nhân đạo. hai chữ “Cô” gợi lên vẻ trẻ trung, tươi tắn của người con gái cùng với hoạt động xay ngô thể hiện vẻ đẹp khỏe khoắn, nhịp nhàng khi sinh nở. hình ảnh này đã khuấy động một buổi chiều hiu quạnh, đem lại sức sống cho bài thơ và niềm vui lan tỏa. có lẽ vì vậy mà một nhà phê bình nào đó đã từng nhận xét rằng “không rõ trước Hồ Chí Minh đã có” làng trẻ em “mà thực chất là một người thợ bước vào thế giới của nàng thơ, đúng không? Tôi chỉ biết đặt hình ảnh thôi.” của “cô thôn nữ” trong trung tâm bức tranh phong cảnh về đêm đã làm cho hình tượng thiên nhiên trở thành hình tượng cuộc sống của con người. sự vận động của hình tượng thơ và quan điểm về cuộc đời. nhân loại. cuộc sống trên trái đất, đặc biệt là cuộc sống của người lao động. “

    hiện đại ở đây cũng là nghệ thuật thể hiện. cái tài của ông là tả cảnh thiên nhiên, tả cảnh ban đêm mà không cần phải dùng tính từ chỉ thời gian. toàn bộ bài thơ không có chữ nào u ám, nhưng người đọc vẫn nhận ra chữ u ám. người dùng sử dụng lửa đỏ để hiển thị thời gian (trời tối mới nhìn thấy vạch cháy). Ngoài ra, người đọc có thể cảm nhận được thời gian trôi qua từ chiều đến tối. cô gái xay ngô từ khi nó vẫn còn ban ngày; khi anh ta nói xong, trời đã tối. cụm từ liên tục (vòng tròn) “ma bao – bao bao” cho ta cảm giác thời gian trôi theo từng vòng quay của cối xay ngô. Hồ Chí Minh có khám phá gì mới về văn tự thời đại? Rõ ràng, ngay cả khi tả cảnh chiều tối, thơ Hồ Chí Minh vẫn có sự chuyển động từ bóng tối ra ánh sáng. vòng quay của cối kết thúc, công việc kết thúc (kể cả vòng ma), chiếc cối xay cũng đỏ rực (lou do hong), ánh sáng đỏ ấm áp đột nhiên xuất hiện, chiếu sáng trong đêm đen, xua tan bóng tối. những ngọn núi. đó cũng là lúc cô gái kia được quây quần bên bàn ăn ấm cúng của gia đình.

    Từ “hoa hồng” ở cuối bài thơ nhưng nó có một vị trí đặc biệt. trong nghệ thuật thơ Đường, chữ hoa hồng được coi là thiên nhãn. tạo nên tâm trạng đặc biệt cho bài thơ. Hoàng trung thông nhận xét rằng: chỉ với một chữ “hồng” đã làm sáng bừng cả bài thơ, xóa bỏ sự mệt mỏi, chậm chạp, vội vàng và nặng nề diễn ra trong ba câu. đầu, sáng lên khuôn mặt của chị gái sau khi xay xong ngô tối. . chữ “hoa hồng” trong thơ đường gọi là “mắt thơ” (mắt thơ hay chữ nhãn, chữ mắt) sáng lên, xếp hàng, là một từ đơn có hai mươi bảy chữ khác phía trước, dù nặng đến đâu. Với từ “hồng nhan” ấy, không ai còn thấy nặng nề, mệt nhọc và vất vả nữa, mà chỉ thấy sắc đỏ đã nhuộm cả đêm, cả cơ thể và cả công việc của cô gái xinh xắn ấy. là màu đỏ của tình yêu của bạn.

    thì từ “hoa hồng” rất xứng đáng là “thánh hai mươi tám” của bài thơ. Ánh hồng ấy không chỉ tỏa ra từ bếp lò bình dị của một “làng thiếu nhi”, mà chủ yếu tỏa ra từ trái tim nhân hậu và tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh. hay nói cách khác, từ “hoa hồng” cũng là một biểu hiện của sự chuyển động từ đậm sang nhạt. Thơ của Hồ Chí Minh luôn là như vậy, luôn hướng về ánh sáng. trong bài thơ cũng xuất hiện từ “hoa hồng”:

    “màu trắng của phương đông chuyển sang màu hồng, bóng đêm mờ sớm và sạch sẽ”

    từ “hồng” và từ “hồng” trong buổi chiều có cùng một nét nghĩa là ánh sáng, niềm vui và sự lạc quan của viên quản ngục. Con đường cách mạng của Việt Nam cũng đi từ đêm nô lệ, trải qua chông gai đến con đường vinh quang.

    “mặt trời mọc sớm trên vách tường, chiếu sáng cửa ngục, cửa vẫn đóng; trong ngục còn tối, ánh hồng trước mặt đã chiếu rọi.”

    (từ nhật ký trong tù)

    thành công của bài thơ là sự kết hợp giữa yếu tố cổ điển với hiện đại, giữa tâm hồn thi sĩ và bản lĩnh hiên ngang của người tù cách mạng. Bài thơ đã khiến người đọc xúc động bởi tấm lòng nhân ái bao la của người chiến sĩ cộng sản bị tù đày Hồ Chí Minh dù bị giam cầm nơi đất khách quê người nhưng Người vẫn vượt lên trên mọi nỗi đau đày ải về thể xác để mang đến cho người đọc những vần thơ tuyệt vời. Qua bài thơ, chúng ta càng thêm hiểu và thêm kính yêu vị lãnh tụ Hồ Chí Minh của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tôi xin mượn bốn dòng của nhà thơ để thay cho lời kết:

    “Tôi cảm thấy tiếc cho thân thể mười bốn trăng đẫm máu, tê liệt và xiềng xích. Chân yếu, mắt mờ, tóc bạc, nhưng một cánh hạc bay thong thả”

    xem thêm: tóm tắt mở đầu thơ chiều tối

    phân tích buổi chiều – mẫu 7

    Bác Hồ thường nói: “Thôi làm thơ / Mà ngồi tù thì chẳng biết làm gì // Ngày dài ngâm thơ cho vui / Ngâm thơ chờ ngày tự do”. trong lời giải thích, ông vốn dĩ không thích làm thơ, nhưng trong thời gian ở tù, ông đã viết thơ ngâm vịnh để vơi bớt nỗi buồn, đồng thời, làm thơ cũng là thể hiện ý chí sắt đá của người chiến sĩ cách mạng. Trong Nhật ký trong tù, người ta không thể không nhớ đến bài thơ Đêm khuya được sáng tác khi Người chuyển từ trại giam Tình tay sang trại giam Thiêng bao. bài thơ đã nêu cao tinh thần kháng chiến của người tù cách mạng.

    phần mở đầu của tác phẩm mở ra khung cảnh, hình ảnh thiên nhiên lúc chiều tà:

    <3

    hình ảnh buổi chiều được gợi lên từ hai hình ảnh: cánh chim, đám mây. Cánh chim là chất liệu thơ quen thuộc trong thơ ca xưa như: “gió lùa chim xa” (bà huyện thanh quan) hay “chim bay về rừng” (nguyễn du). tiếng chim thường gợi nỗi cô đơn, nhớ nhung, nhớ nhung một thời khắc nào đó. còn loài chim trong bài thơ của chú ho thì lại có vẻ hoàn toàn khác, sau một ngày kiếm mồi mệt mỏi, chúng trở về tìm nơi nghỉ ngơi. chúng bay có mục đích, có phương hướng chứ không vu vơ như trong thơ cổ. con chim đó nhắc tôi về sự tương phản với hoàn cảnh của bạn. mây cô đơn trên bầu trời, bồng bềnh giữa không gian bao la, sự cô đơn của đám mây, cũng như nỗi cô đơn, lẻ loi của bạn. hình ảnh thiên nhiên không còn giới hạn ở tả ngoại hình mà còn là chiều sâu của tâm trạng, ta thấy được tình yêu thiên nhiên của người tù. bằng sự quan sát rất tinh tế, anh đã nắm bắt được cái thần, cái hồn của cảnh vật, một chiều không gian mộng mơ và bình yên. Không chỉ vậy, ta còn thấy được sự cô đơn, mệt mỏi của người tù, khi phải trải qua một chặng đường dài, di chuyển từ trại giam này sang trại giam khác. nhưng đằng sau sự đơn độc đó còn có một chiến binh dũng cảm mặc áo sắt.

    bức tranh của bạn không dừng lại ở đó, từ không gian của thiên nhiên, người tù chuyển góc nhìn của mình để thấy được hơi thở của cuộc sống bình dị, đời thường và vô cùng ấm áp:

    <3

    ở đây mọi người đã trở thành trung tâm của hình ảnh. Có thể nhìn thấy trong bức tranh tĩnh vật là một thiếu nữ làng núi đang xay ngô. hình ảnh hiện thực, bình dị và vô cùng bình thường, nhưng sáng và bóng. đó là ánh sáng của tuổi trẻ, của sức sống rực lửa của người con gái; ánh sáng tỏa ra từ công việc bình dị; đồng thời là vẻ đẹp của mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên: con người là trung tâm, là chủ thể của vũ trụ. Trước thiên nhiên bao la, con người không hề u tối mà càng trở nên nổi bật.

    câu thơ cuối là sự kết hợp hài hòa giữa nét vẽ cổ điển và lãng mạn. chủ nghĩa cổ điển được phản ánh trong phong cách sử dụng ánh sáng để nói về bóng tối. hình ảnh của một chiếc brazier bằng sợi đốt, tỏa ra không gian, đã cố gắng tái tạo lại bóng tối bao quanh nơi này. nhưng đồng thời cũng là một bài thơ rất hiện đại. những chữ cái màu hồng là chữ cái thẻ của bài thơ, chiếu sáng tất cả không gian tối tăm mà nó bao trùm. “hồng” đại diện cho sự chuyển động theo chiều từ chiều đến tối, từ lạnh sang nóng (âm u của cuộc sống, của hoạt động lao động của con người), từ cô đơn đến đoàn tụ và từ buồn sang vui. . đây là sự chuyển động từ bóng tối ra ánh sáng thể hiện niềm tin và sự lạc quan của người chiến sĩ cách mạng vào tương lai tươi sáng.

    bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, ngôn ngữ cô đọng, súc tích. những nét vẽ tượng trưng cho thiên nhiên rất đơn giản, tự nhiên nhưng vô cùng chân thực. có sự đan xen nhẹ nhàng giữa màu sắc cổ điển và hiện đại.

    Đêm đã khắc họa thành công hình ảnh thiên nhiên và hình ảnh cuộc sống con người nơi núi rừng hoang vu. đằng sau hình ảnh ấy là vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh: luôn mang trong mình tinh thần lạc quan, tin tưởng dù khó khăn vẫn luôn tin rằng ánh sáng đang chờ dân tộc, đất nước ở cuối con đường.

    phân tích buổi chiều – mẫu 8

    Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng, một chiến sĩ quốc tế luôn mang trong mình tình yêu Tổ quốc và khát vọng giải phóng dân tộc. không chỉ vậy, ông còn là một nhà văn hóa lớn có nhiều đóng góp trên lĩnh vực văn học. cảm hứng thơ đến với người chiến sĩ cộng sản bất cứ lúc nào, dù tù đày, tù đày nhưng nó không thể giam cầm tâm hồn anh. bài thơ “buổi chiều” là tác phẩm được sáng tác khi chú Hồ bị nhà cầm quyền bắt giam vô cớ, nhưng chú vẫn thể hiện tình yêu thiên nhiên, con người, lạc quan, có niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước. / p>

    vào tháng 8 năm 1942, cô đến Trung Quốc để nhận được sự hỗ trợ của quốc tế, sau nửa tháng đi bộ đến tỉnh Quảng Tây, và bị chính quyền chiang kai-shek bắt giam trong mười ba tháng, ngày và ngày. khi bị giam cầm đã sáng tác tập thơ “Nhật ký trong tù” bằng chữ Hán với số lượng 134 bài. trong đó bài thơ “chiều tối” là bài thứ 31 khi người được chuyển từ trại giam tinh tay sang trại giam thiển báo năm 1942. vào lúc hoàng hôn bao la với tâm hồn thi nhân đã truyền cảm hứng cho người tù. sáng tác những bài thơ gửi gắm tâm trạng, tình cảm của mình. nổi lên trong bài thơ là hình ảnh thiên nhiên và con người lao động nơi đất khách quê người.

    “Cảnh khuya” được viết bằng chữ Hán dưới dạng một câu thơ lục bát bảy chữ. hai câu thơ đầu miêu tả khung cảnh thiên nhiên núi rừng với hai hình ảnh tiêu biểu là cánh chim mỏi và đám mây cô đơn:

    “Chim hoàng quy lam tam thuc thuc co van man thien voi”

    bản dịch:

    <3

    Với phong cách tô đậm của con mắt, quy ước biểu tượng cổ điển của thơ ca phương Đông thể hiện hình ảnh những con chim mệt mỏi bay đi tìm chỗ ngủ. nó là chi tiết gợi không gian rộng lớn, gợi khoảnh khắc chiều đã về. trong thơ ca ta đã nhiều lần thấy hình ảnh cánh chim ấy, đó là “truyện kiều” của cụ Nguyễn Du đã viết: “chim bay về rừng” hay của nàng. thì trong “trang giang” của Huian là hình ảnh “con chim có đôi cánh nhỏ và bóng chiều xa”. chữ “mix” trong câu thơ có nghĩa là mệt mỏi, chỉ trạng thái tồn tại của con người, nó là nét nghĩa của danh từ “chim”, dùng để chỉ hình ảnh cánh chim. cánh chim ở đây không chỉ được quan sát khi chuyển động mà còn được cảm nhận từ bên trong như “cánh chim mỏi”. nhà thơ đã dùng sự hữu hạn của cánh chim để nói lên cái vô cùng của bầu trời. Trên bầu trời bao la ấy, chỉ có những chú chim nhỏ mỏi cánh bay. ông đã sử dụng bút pháp để miêu tả những cảnh ngụ ngôn và những hoạt động trong tự nhiên để gợi lên thân phận và trạng thái của tâm hồn ông. ở đây có sự tương phản và tương đồng. ngược lại, nếu con chim lạc bầy, chán bay sau một ngày kiếm ăn vất vả mà vẫn tự do vào rừng tìm chỗ ngủ thì nhà thơ vẫn bị giam cầm, giam cầm. nét hài hước giống nhau giữa viên quản ngục và tiếng chim chiều. phải chăng sau một ngày dài rong ruổi với cổ chân vướng vào gông cùm, mỏi mòn, mới nao nao khi nhìn thấy đàn chim bay, anh cũng muốn được nghỉ ngơi sau ngày tù dài lê lết ”năm mươi. năm ba cây số một ngày / áo hào, mũ thủng giày dép ”. nguồn gốc của sự hòa hợp đó là tình yêu vô bờ bến mà bạn dành cho sự sống của vạn vật.

    Không chỉ vậy, người ta còn nhìn hình ảnh những đám mây từ từ chuyển động trên nền trời bao la gợi liên tưởng đến sự du hành và sự cô đơn. đây cũng là chất thơ rất quen thuộc trong thơ cổ. thiêu nguyệt đã từng viết: “bạch vân thi nạp phi du” (mây trắng ngàn năm cứ bay) hay chính là mây xanh trong thơ văn nguyễn có câu “mây lơ lửng trên trời xanh”. tuy nhiên mây trong thơ chú ho không gợi sự vĩnh hằng mà mang tâm trạng lẻ loi, cô đơn của người khách băn khoăn không biết tương lai sẽ đi về đâu, nhưng bản dịch chưa thực sự chuyển tải hết ý nghĩa của từ “nàng”. chỉ bằng một vài nét chấm phá, được thổi hồn vào thiên nhiên để vẽ nên bức tranh chiều thu tĩnh lặng. những cánh chim và những đám mây đã xuất hiện trong thơ trữ tình: “gác cao / lẻ loi một mình”. đó là nét đặc trưng cổ điển mà thành phố Hồ Chí Minh kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại thể hiện khát vọng được tự do, được nghỉ ngơi như cánh chim, như mây trên trời.

    Ở hai câu thơ đầu chỉ miêu tả khung cảnh thiên nhiên, nhưng đằng sau lớp ngôn từ ấy ẩn chứa tư thế và tâm hồn của nhà thơ. ta không thấy chân dung người tù khổ sai mà chỉ thấy phong thái ung dung, tao nhã của nhà thơ, dù đôi chân bị xiềng xích mỗi bước đi, cảnh chiều mênh mông choáng ngợp nhưng tâm hồn vẫn hướng về Người. , gần đến từng chi tiết chuyển động của khung cảnh. Nếu không phải là người nhiệt thành yêu thiên nhiên, là người có nghị lực phi thường, có ý chí vượt lên hoàn cảnh thì làm sao có được tự do tinh thần? ngục tù, xiềng xích có thể giam cầm thể xác nhưng không thể trói buộc tâm hồn nhà thơ.

    Trên nền cảnh sắc thiên nhiên, hình ảnh con người chợt hiện lên trong thơ. con người nơi đây chính là những thiếu nữ lao động giữa bạt ngàn núi rừng như một điểm sáng làm cho hình ảnh cuộc sống thêm sinh động và vui tươi:

    “trai bao ve tinh yeu, nhung nguoi phu nu tre trung voi ma tuy, co gai ma co nhieu hoa hong”

    (cô gái xóm núi xay ngô, xay cả đống than hồng đã cháy)

    Hình ảnh con người và cuộc sống được nối tiếp nhau qua hai câu thơ. thiếu nữ ở đây là một cô gái (girl) đang ở độ tuổi mới lớn chứ không như nhiều bài phân tích khác cô ấy là một cô gái. hình ảnh cô gái xay ngô trong đêm tối là trả lời con chim lẻ loi, lẻ loi trên chiếc cối xay cô đơn trước cối xay. ngòi bút của nó hướng tới chuyển động của con người. Đây là một nét hiện đại và mới mẻ trong thơ ca Hồ Chí Minh. người thiếu nữ miền sơn cước giữa núi rừng bao la không những không hòa tan với thiên nhiên mà nổi bật rực rỡ giữa không gian ấy. Không giống như những phân tích khác, tôi thấy rằng thông qua cấu trúc liên tục của các từ “ma bảo” ở câu trên và “trường ma” ở câu dưới cho thấy người dân nơi đây phải làm việc chăm chỉ và bền bỉ. , dai dẳng, kéo dài suốt đêm. Trong sự vận động của thời gian trong nguyên tác không nói đến chữ “tối”, nhưng trong bản dịch thơ, người dịch đã thêm vào làm mất đi cái hay của ý thơ, làm cho câu thơ mất đi vẻ đẹp ý nghĩa của. bài thơ không cần nhắc đến tiếng nước ngoài, nhưng dường như vẫn là đêm đen. trong câu thơ “phủ ma hoon lo do hong”, theo tôi đó là sự tiếp nối của tác phẩm, kết thúc một tác phẩm và mở ra một tác phẩm mới, nhà thơ đã dùng hình ảnh bếp lửa hồng để nói về vận may. . thời tiết. từ thời xa xưa, hầu hết mọi người đều hiểu nó theo nghĩa là hoa hồng, tức là chiếu sáng hình ảnh con người vào ban đêm, nhưng theo nguyên văn chữ Hán thì hoa hồng của động từ có nghĩa là hành động đốt cháy cho từ “ma”. . “(nghiến). Đây là hiện tượng đồng âm trong tiếng Hán, nếu không tìm hiểu kỹ người ta sẽ nhầm lẫn với các nghĩa khác. Qua hình ảnh con người về đêm cho thấy cuộc sống nơi đây vất vả, khó khăn khiến tác giả đồng cảm. và cảm thông. Người chú dùng sự quay của cối xay gió để thể hiện tâm trạng nặng nề của mình, dùng hình ảnh cô bé để nói lên cảm xúc cuộc sống. người khác “, nhưng đối với thành phố Hồ Chí Minh thì ngược lại. Anh chàng là một người có tình yêu thương đồng loại cao cả, không chỉ với đồng bào việt nam mà còn với biết bao nhiêu người cơ cực trên hành tinh này. Như người bạn đã từng viết:” Người ơi , trái tim của bạn ón bao la / ôm trọn non sông, muôn kiếp con người “.

    bài thơ là một thành công của nghệ thuật kết hợp hài hoà giữa phong cách cổ điển và cách tân hiện đại trong ý thơ. đặc biệt chữ “hoa hồng” ở cuối bài thơ được coi là chữ nhãn, thần nhãn của tác phẩm với ý nghĩa sâu sắc, được Hoàng trung thông nhận xét rằng: “Chỉ với một chữ ‘hoa hồng’, chú đã soi sáng cho cháu. .trong cả bài thơ, nó làm mất đi sự mệt mỏi, uể oải, vội vàng, nặng nề trôi qua trong ba dòng đầu, nó bừng sáng trên khuôn mặt của người chị sau khi xay xong bắp ngô nâu ”. . Đồng thời, từ “hoa hồng” còn tượng trưng cho niềm tin và hy vọng của bạn vào một tương lai tươi sáng trong tương lai, đó là điều đáng quý và xứng đáng. dù ở trong hoàn cảnh tù tội nhưng con người đó không bao giờ khuất phục trước hoàn cảnh, số phận. trong thơ ca của Hồ Chí Minh luôn có sự chuyển động từ bóng tối ra ánh sáng, chữ hồng xuất hiện nhiều lần như trong bài “tao giai” đã xuất hiện: “phương đông trắng hóa hồng / bóng đêm sớm tan. . không “hay có câu bạn viết:” ngục tù còn tối / đèn hồng trước mặt đã rọi “đó chính là niềm lạc quan, niềm tin của các bạn vào con đường cách mạng của đất nước, ngày càng tốt đẹp hơn. cuộc sống trong tương lai.

    Như vậy, chỉ với 28 câu thoại tuyệt vời kết hợp hài hoà giữa phẩm chất cổ điển và hiện đại, giữa tâm hồn thi sĩ và trái tim thép của người chiến sĩ, bài thơ đã lay động người đọc với tinh thần lạc quan, yêu đời, chân thành. lòng yêu đời và sự đồng cảm, yêu thương con người của vị cha già dân tộc. Bác Hồ là tấm gương sáng cho biết bao thế hệ đồng bào Việt Nam học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

    phân tích bài đăng buổi chiều – mẫu 9

    Theo Nhật ký trong tù, trên đường di chuyển từ trại giam Tinh Tay đến trại giam Thiển Bảo, ông đã viết năm bài thơ, và bài thơ đêm là bài thơ thứ ba trong tập thơ đó. như tên cho thấy, bài thơ là một bức tranh của một buổi chiều tà.

    Đêm này không giống như đêm khác. đây là cảnh tối hôm qua với con mắt của một tù nhân thành phố Hồ Chí Minh “tay bị trói, cổ bị cùm” bị lính áp giải qua một vùng rừng núi. đã hết ngày, nhưng người tù vẫn phải đi bộ. nhà tù mới xa, hình phạt còn nhiều. bài thơ được hình thành trong hoàn cảnh khắc nghiệt đó:

    những con chim mệt mỏi trở về rừng tìm chỗ ngủ, những đám mây bay nhẹ trên không trung

    (Queen bird quy lam tam suu thuong, co van man man do thien khoi.)

    Con chim bay về tổ là biểu tượng dùng để miêu tả cảnh hoàng hôn thường thấy trong thơ ca cổ điển, nhưng cánh chim ở đây không chỉ là một nét vẽ bình thường. Có vẻ như vào ban đêm, người tù nhìn lên bầu trời và đột nhiên thấy những con chim mệt mỏi đang cố gắng bay về tổ của chúng và một đám mây từ từ di chuyển trên bầu trời. cái nhìn của nhà thơ không chỉ là cái nhìn hân hoan mà còn gửi gắm sự lưu luyến, tình cảm của một trái tim yêu thương vô bờ bến. con chim nhỏ đó dường như có một tâm hồn và một cuộc sống riêng tư. cả ngày vất vả kiếm ăn, đêm mệt mỏi lại vào rừng tìm chỗ trú để sáng mai bay lại. những người tù cũng thấm mệt sau một ngày đi đường vất vả. có sự đồng điệu, giao cảm giữa tâm hồn thi nhân với cảnh vật thiên nhiên. nguồn gốc của sự đồng cảm đó là tình yêu sâu sắc của anh ấy đối với tất cả cuộc sống trên thế giới.

    đám mây di chuyển nhẹ nhàng giữa bầu trời. nguyên bản chữ Hán đẹp như một bài thơ tang: co van man man do thien khong. đám mây này không có sắc màu phong phú, nhàn nhã gợi lên sự cô đơn, thanh cao của thơ xưa: mây trắng ngàn năm vẫn bay (hạc lâu – dừng lại) mà chỉ là đám mây lãng đãng lơ lửng trên bầu trời khi bóng chiều. trời tối dần, càng làm tăng thêm sự bao la và tĩnh lặng của màn đêm nơi núi rừng. cần một tâm hồn tĩnh lặng, thư thái để người tù có thể tạm quên đi nỗi đau thể xác để theo một cánh chim, một đám mây trên bầu trời lúc chiều tà như thế.

    Đám mây đó khiến không gian dường như vô tận và thời gian dường như đứng yên. Ngoài ra, đám mây còn mang tâm trạng của con người. hiu quạnh, vắng lặng, ẩn hiện nỗi buồn trong cảnh chia tay: cánh chim mải miết bay về rừng xanh, đám mây lững lờ trôi như muốn đọng lại giữa không gian bao la.

    Cảnh đêm trong tự nhiên là như thế này. cánh chim, đám mây cô đơn. chim bay, mây trôi. bầu trời không có giới hạn Người xưa cho rằng đó là một cách lấy điểm rất tinh vi để mô tả khuôn mặt, lấy chuyển động sang trái và sang phải. Bài thơ tuy không tả màu sắc, âm thanh nhưng người đọc vẫn cảm nhận được cảnh rừng về đêm thật u tịch, hiu quạnh. hai câu thơ đều thấm đượm nỗi buồn vì cảnh buồn và người buồn, vì cánh chim bay về tổ gợi niềm khát khao đoàn tụ, đám mây cô đơn lơ lửng gợi thân phận trôi dạt nơi xứ lạ, vì mình không. ‘Bạn không biết khi nào người tù sẽ được tự do như cánh chim và đám mây?!

    Tuy nhiên, hai câu thơ trước cũng thể hiện sự kiên cường của nhà thơ bị tù đày, bởi nếu không có ý chí, nghị lực thì không có sự bình tĩnh, tự chủ và hoàn toàn tự do tinh thần. Chúa không thể viết ra những câu thơ sâu sắc và tinh tế về thiên nhiên trong điều kiện giam cầm khắc nghiệt.

    Ở hai câu thơ cuối, bức tranh về đêm bỗng có những suy tư bất ngờ: giữa khu rừng âm u, một cái lò bỗng rực hồng, sáng lên hình ảnh một cô gái đang chuẩn bị bữa cơm tối cho gia đình:

    <3

    (trai phuong, trai nghiem, trai nghiem ma, hong.)

    Nếu ở hai dòng đầu, cảnh vật hiện lên qua nét cọ có phần ước lệ, thì ở hai dòng này, hình ảnh người phụ nữ lao động được tác giả miêu tả một cách chân thực và sống động. . bài thơ chuyển từ hình ảnh thiên nhiên sang hình ảnh cuộc sống. đó là khuynh hướng vận động trong cấu trúc của bài thơ, là lôgic của hình tượng thơ và cũng phản ánh lôgic lớn trong tâm hồn tác giả. Điều đáng tò mò là những câu thơ hiện thực này, gần như bằng văn xuôi, lại có một sức sống phi thường. Sức sống đó đến từ hình ảnh khỏe khoắn của một thiếu nữ hay từ sự rực lửa của người thợ may? hình ảnh cô gái đang xay ngô trở thành trung tâm của bức tranh. bằng những nét vẽ thanh đậm, mạnh mẽ, nhà thơ đã đặt con người vào vị trí chủ thể, bỏ lại cảnh vật làm nền. tư thế của người thợ xay ngô toát lên vẻ trẻ trung, khỏe khoắn và cuộc sống lao động trở nên đáng quý biết bao! nó mang lại cho các tù nhân sự ấm áp của cuộc sống và niềm vui, hạnh phúc khi đối mặt với cuộc sống bình dị của những con người cần cù nhưng tự do.

    trời sắp tối. buổi chiều là thời gian sum họp gia đình, nhưng người tù tội vẫn chưa biết điểm dừng. người tù quên đi nỗi cô đơn, buồn tủi vì bơ vơ để chia sẻ với những niềm vui nhỏ nhoi trong cuộc sống thường ngày của người dân lao động, với bếp lửa hồng nơi xóm núi. khi màn đêm buông xuống, cảnh vật dần thu nhỏ lại thành một ngọn lửa đỏ rực rồi tỏa hơi nóng theo âm thanh nồng nàn của những con chữ hồng. chữ hồng kết thúc bài thơ một cách tự nhiên như ngỡ ngàng. nếu hình dung cả bài thơ như một bức tranh, thì chính điểm lửa đỏ mà người nghệ sĩ tài hoa khoác lên đó đã làm tăng thêm tâm trạng cho toàn cảnh, dường như nó càng làm tăng thêm niềm vui và sức mạnh của người tù ngục. đi bộ trên con đường sâu.

    Hình ảnh người con gái và chiếc bếp đỏ tượng trưng cho sự sum họp trong gia đình. thấp thoáng trong những hình ảnh ấy là ước mơ thầm kín về mái ấm gia đình của những người xa quê, xa quê hương. đó là tâm hồn của người chiến sĩ cách mạng đã vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để đồng cảm với những niềm vui đời thường. bài thơ đã đi từ ánh chiều tà mờ ảo sang ánh lửa hồng ấm áp, từ nỗi buồn sang niềm vui. thể hiện góc nhìn của một vĩ nhân đầy lạc quan yêu đời và yêu thương con người.

    nghệ thuật tả cảnh trong bài thơ mang nét cổ điển (cách ngắt câu, ước lệ với các văn bản thơ cổ) và nét hiện đại (bút pháp hiện thực sinh động với những hình ảnh mộc mạc đời thường), ở đây chủ yếu là gợi hình chứ không phải miêu tả. rất ngắn gọn và súc tích.

    ngôn ngữ trong bài thơ được sử dụng linh hoạt và sáng tạo. một số từ vừa gợi tả vừa gợi hình (chim hỗn tạp, chim công). chữ hồng trong nghệ thuật thơ tang gọi là mắt thơ (chữ kịch) hay chữ thẻ (chữ có mắt). Với những nét chữ màu hồng, bài thơ không còn cảm giác nặng nề, mệt nhọc, khắc nghiệt mà chỉ có sắc đỏ đã ánh lên trong bóng tối, trên thân hình và công việc quen thuộc của người thiếu nữ xinh đẹp ấy.

    đêm mang một vẻ đẹp giản dị nhưng sâu sắc. Bài thơ miêu tả cảnh vật thiên nhiên và cuộc sống một cách chân thực, súc tích, đồng thời thể hiện một khía cạnh lớn trong tâm hồn Hồ Chí Minh, đó là lòng nhân ái đạt đến độ vị tha. nhà thơ trong hoàn cảnh khốn khó vẫn để tâm hồn hướng về thiên nhiên và hạnh phúc bình dị của con người. Vàng nào có thể thay đổi được khoảnh khắc xúc động trước khung cảnh tăm tối như khoảnh khắc trái tim lớn của Thành phố Hồ Chí Minh này?!

    phân tích cú pháp bài đăng vào ban đêm – mẫu 10

    cảnh khuya ”là bài thơ ra đời trong thời gian đầu khi ông ở trong tù, cũng trong thời kỳ đầu đó, có rất nhiều bài thơ ghi lại hình ảnh“ trên đường ”dời giáo (“ năm mươi ba cây “) số một ngày / Mũ đội mưa suốt ngày”). mới vào tù thien bao) và đây cũng là dòng thơ “lên đường”. đoạn thơ thể hiện một sự nhất quán về phong cách nghệ thuật, đó là sự thống nhất trong đa dạng của “Nhật kí trong tù”, đó là sự vận động của hình tượng thơ, trong thơ nó luôn chuyển từ bóng tối sang ánh sáng, từ lạnh sang nóng, từ buồn sang buồn. điều này cũng được minh chứng trong bài thơ “chiều”.

    Trong bức tranh thiên nhiên núi rừng xa lạ, có chút gì đó man mác buồn ẩn hiện những liên tưởng mơ hồ:

    <3

    (những con chim mệt mỏi trở về rừng tìm chỗ ngủ. Mây bay lơ lửng giữa không trung)

    câu thơ mang đậm màu sắc thơ cổ bởi lối viết miêu tả và chất liệu thơ quen thuộc từ thơ xưa. không nói đến thời gian chính xác, nhưng hình ảnh “cánh chim” cũng đủ gợi tả không gian và cũng mang ý nghĩa về thời gian. hai câu đầu tả cảnh trong đêm tối. hình ảnh cánh chim và đám mây giàu tính minh họa gợi cho tôi liên tưởng đến câu thơ cổ điển quen thuộc. sự mòn mỏi của những cánh chim, nỗi cô đơn của những đám mây chiều, là cảnh được nhìn thấu tâm trạng của người tù bị đày ải. tuy mệt mỏi nhưng viên quản ngục vẫn có một tình yêu thiên nhiên lớn lao đã vẽ nên một bức tranh cổ điển đẹp đẽ. nó là biểu tượng của hoàng hôn, buổi chiều thu êm đềm, nhưng cảnh vật trông thật buồn, mệt mỏi và cô đơn.

    Cảnh ấy hòa với lòng người. rõ ràng sự giao hòa giữa thiên nhiên và tâm trạng con người được thể hiện khá đậm nét. tuy nhiên, hình tượng thơ không dừng lại ở đó mà có sự chuyển động rất độc đáo. Từ một hình ảnh của thiên nhiên, bức thư đã trở thành một hình ảnh của cuộc sống hàng ngày.

    thời gian buổi chiều đã thay đổi thành thời gian buổi tối. cảm xúc của con người không còn buồn nữa mà là vui. không gian cũng bừng lên màu đỏ “rực lửa” của hoa kim châm:

    <3

    Hình ảnh cô gái xay ngô tối trở thành hình tượng trung tâm của bài thơ, toát lên vẻ trẻ trung, khỏe khoắn và đầy sức sống. vẻ đẹp của bức tranh thể hiện qua hình ảnh người lao động. Tâm hồn Hồ Chí Minh luôn hướng về tương lai, về nơi có ánh sáng ấm áp cuộc đời, bài thơ mang hơi hướng hiện đại. tác giả sử dụng thành công cấu trúc lặp lại liên tục: “ma bao bao”, “bao ma” hành động xay ngô được lặp đi lặp lại diễn tả chu kỳ của cối xay ngô. ở đó người ta nhận ra nhịp thời gian trôi chảy nhưng điều kỳ diệu là nhịp thời gian hòa cùng nhịp sống. buổi tối yên tĩnh đã qua đi để bước vào đêm đen, nhưng đêm đen không một gợn mây mà sáng rực ngọn lửa hồng.

    từ hai câu đầu đến hai câu cuối của bài thơ “chiều” là sự chuyển động của bốn khổ thơ từ buồn sang lạc quan, từ bóng tối sang ánh sáng. hai câu trong cảnh buồn mà lòng không vui. trong khung cảnh ấy, tình yêu ấy được thể hiện qua hình ảnh những cánh chim mệt mỏi trở về rừng và những đám mây cô đơn chầm chậm len lỏi khắp bầu trời. hai câu thơ là niềm vui được thể hiện qua hình ảnh ngọn lửa đỏ bỗng bừng sáng ngọn lửa hồng là niềm vui của con người, xua tan đi nỗi cô đơn, mệt nhọc của buổi chiều nơi núi rừng hiu quạnh. đó cũng là nét cổ điển nhưng vẫn khá hiện đại của bài thơ.

    sự chuyển động của hình ảnh thơ từ thiên nhiên hoang vắng sang con người lao động, từ cuộc sống đến ánh sáng và tương lai được thể hiện một cách rất tự nhiên và giàu cảm xúc. sự vận động này trong tư tưởng Hồ Chí Minh được tìm thấy trong các bài thơ “Nhật ký trong tù”.

    Bài thơ kết thúc bằng từ “hoa hồng”, đây chính là điểm nhãn của bài thơ thu hút tất cả linh hồn và sức sống của cả bài thơ. toàn bộ hình ảnh được chiếu sáng bởi từ “hoa hồng”. nó thể hiện niềm tin, ý chí và sự kiên cường của những người tù cộng sản Hồ Chí Minh. đoạn thơ kết thúc bằng hình ảnh chú lạc đà hồng mang đến cho người đọc cảm giác ấm áp và vui vẻ. ngọn lửa cuộc sống cứ cháy và cháy mãi.

    Đoạn thơ vừa mang phong cách cổ điển vừa đậm chất hiện đại, đầy ắp cảm xúc của nhà thơ đối diện với thiên nhiên và những con người lao động giản dị mà cao đẹp. hoàng hôn trên núi trong ánh mắt của những người tù trên đường vượt ngục, sự chuyển giao của thời gian, cảnh vật… khiến hình ảnh “buổi chiều” không dứt với đêm đen, với cái lạnh của núi rừng, nhưng với hơi ấm của ngọn lửa hồng: ngọn lửa của một trái tim, một trái tim yêu đời, yêu đời, yêu đất nước và yêu con người vô bờ bến.

    phân tích cú pháp bài đăng vào buổi chiều – mẫu 11

    Nguyễn ái quốc không chỉ là nhà văn hóa lớn, anh hùng dân tộc mà còn là nhà văn, nhà thơ lớn. người đã để lại một con đường văn học phong phú về thể loại, đa dạng về văn phong và sâu sắc về tư tưởng. trong đó bài thơ “mồ” là một ví dụ. Bài thơ “Mộ” của Nguyễn Ái Quốc thể hiện tình yêu sâu sắc đối với thiên nhiên, quê hương đất nước.

    “king quy lam tam thuc thuc co van man man do thien khong. trai bao lam ma, che do hong.”

    Hình ảnh thiên nhiên được hiện lên trong không gian quen thuộc của rừng cổ thụ rộng lớn và bầu trời bao la mà tác giả nhìn thấy trên đường từ Trại giam Tịnh Tây đến Trại giam Thiên Bảo:

    <3<3

    Tác giả đã sử dụng lối viết mang tính chất ngắt câu và truyền kì, thay vì miêu tả cụ thể, tỉ mỉ khi miêu tả thiên nhiên, cảnh vật. hình ảnh của những con chim lúc hoàng hôn cho thấy điều này. tác giả đã lấy không gian để gọi thời gian vì hình ảnh cánh chim bay về rừng già gợi ra thời gian chiều tà.

    Khi một ngày làm việc mệt mỏi kết thúc, đàn chim bay về rừng già để tìm nơi nghỉ ngơi. mặt khác tác giả đã thả hồn vào cánh chim để cánh chim mang tâm trạng “mỏi mòn”. điều này tương tự như nhà thơ trên con đường dài.

    “Năm mươi ba cây số một ngày, mũ ướt đẫm nước mưa, giày của tôi bị hỏng”

    <3

    Ở câu thơ thứ hai, hình ảnh đám mây cô đơn thể hiện một tâm trạng khác của nhà thơ. từ “cô ấy” trong câu dịch là “cuông” dường như đã mất sức diễn tả tâm trạng. nó không chỉ là một đám mây trôi đơn thuần mà còn đứng lẻ loi, đơn độc trên bầu trời cao rộng. con người chúng ta cũng vậy, khi đất nước còn trong vòng nô lệ, không ai cảm thấy an toàn, vui vẻ và hạnh phúc. Với một tâm hồn yêu nước lớn như Hồ Chí Minh thì điều này càng khó hơn. Qua đây, chúng ta có thể thấy được sự hài hòa tuyệt đối giữa con người và thiên nhiên.

    hai dòng sau giọng thơ và hình ảnh và sự thay đổi hoàn toàn. không gian trở nên gần hơn và thời gian bắt đầu mờ đi:

    “Trên núi, có một cô gái ma trong làng, với chiếc nhẫn ma màu đỏ.”

    <3

    bối cảnh thay đổi theo quan điểm của cuộc sống con người. người trở thành chủ thể. hơn nữa, chủ đề đó còn là “cô thôn nữ”, một hình ảnh rất quen thuộc với người dân miền sơn cước. thời tiết u ám nhưng không có vẻ gì là cô đơn, mà bức tranh thật ấm áp với hình ảnh một con chim vành khuyên đang phát sáng.

    Ánh sáng ấy dường như làm tan đi bóng tối, không khí lạnh lẽo và sự hiu quạnh của núi rừng mà ta tìm thấy ở 2 câu thơ trước. từ “ma bảo” được lặp lại ở cuối câu thơ thứ nhất và trùng với câu thơ thứ hai tạo nên một chu kỳ liên tục như một chuỗi nhịp điệu liên tục của người con gái.

    Cô gái ấy dường như đang làm việc chăm chỉ, tràn đầy sức sống và tràn đầy niềm vui vì sự cống hiến. cái nhãn “hồng” rất đặc biệt, nó thể hiện phong cách văn chương nguyễn ái quốc, luôn hướng về ánh sáng, hướng tới tương lai. bếp than là cảnh thực nhưng mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.

    tượng trưng cho cuộc chiến đấu lâu dài của dân tộc. bếp than cháy hàng đêm chờ đúng thời khắc bùng lên ngọn lửa rực rỡ nhất. Nguyễn ái quốc đã gửi gắm tất cả niềm tin và sự lạc quan vào cuộc đấu tranh của dân tộc. và điều này thực sự đã được chứng minh trong lịch sử.

    Tóm lại, bài thơ “Lăng Bác” có nhiều đặc sắc nghệ thuật: giàu màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại, từ ngữ giàu sức gợi, nội dung mới mẻ, cách diễn đạt giản dị mà sâu sắc… qua đó tác phẩm thể hiện hình ảnh thiên nhiên, an hình ảnh tâm trạng và hình ảnh tấm lòng nhân hậu của một bậc đại hiền triết. Thơ Hồ Chí Minh luôn thể hiện niềm tin vào công lý và khát vọng chân – thiện – mỹ.

    phân tích bài buổi chiều – mẫu 12

    Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một người con vĩ đại của dân tộc mà khi nhắc đến cái tên đó, trong lòng ai cũng có những nỗi niềm riêng. chú không chỉ là nhà chính trị lỗi lạc, tài ba, người cha già giàu lòng nhân ái, nghĩa tình mà còn là nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc. phần tử đã viết:

    “câu thơ của bạn là một bài thơ đanh thép nhưng đầy tình người”

    Thực ra, thơ của chú là kết tinh tình cảm của một tấm lòng cao cả cống hiến cho dân tộc. bài thơ “chiều thu” là một bài thơ như thế, tiêu biểu cho phong cách thơ của ông. bạn phải đặt bài thơ vào hoàn cảnh bạn bị bắt và bị đưa từ trại giam tinh tay đến trại giam thien bì mới thấy hết giá trị của nó.

    “những cánh chim mệt mỏi vào rừng tìm chỗ ngủ. Mây lơ lửng giữa không trung”

    Hoàng hôn thường mang dư vị buồn nên người xa quê càng trĩu nặng nỗi nhớ da diết khi màn đêm buông xuống càng nhiều. những chú chim trời sau một ngày dài kiếm mồi mệt mỏi đã bay nặng nhọc bay về tổ của mình để nghỉ ngơi. đám mây cũng nhỏ bé, vô định giữa không gian bao la và choáng ngợp. những đám mây bồng bềnh trôi nhẹ nhàng, thật bình yên nhưng gợi lên nỗi buồn mênh mang.

    Chẳng phải thiên nhiên ấy mà chất chứa tấm lòng của người tù cách mạng một mình nơi núi rừng nơi đây, lấy cánh chim nọ, đám mây kia làm tâm sự để gửi gắm nỗi lòng. thiên nhiên dường như mang tâm hồn thi sĩ, đôi khi nó mệt mỏi, nhưng trên hết vẫn là khát vọng trở về quê hương như cánh chim bay tự do về tổ sau một chặng đường dài mệt mỏi.

    “cô gái phố núi xay ngô xay cả đống than hồng đã cháy sáng”

    Nếu hai câu trước là cảnh thiên nhiên đượm buồn, hiu quạnh, hiu quạnh thì hai câu cuối mang dáng dấp của kiếp người. bức tranh hoàn thiện và sống động hơn bao giờ hết. phong cảnh và con người hòa trộn. Giữa khu rừng ấy là hình ảnh cô gái xay ngô với sự tập trung, cần mẫn, siêng năng.

    Dưới ánh lửa giữa bầu trời đêm, cô gái hăng say làm việc. hình ảnh cuộc sống bình dị, đời thường nhưng lành mạnh, gợi lên sự sinh động trong cuộc sống của con người. giữa thiên nhiên bao la, cô trở nên nổi bật và cuốn hút đến lạ kỳ. Đó có phải là mong ước của ông trong những vần thơ về niềm tin một ngày đất nước hòa bình, nhân dân được bình yên, tự do lao động, nâng cao giá cả sản xuất, không phải lo nước mất nhà tan?

    “nghiền tất cả các than đang cháy”

    từ “hoa hồng” trở thành tiêu đề của bài thơ, một từ đơn giản nhưng nó chứa đựng biết bao ý nghĩa. than hồng làm tan đi màn đêm lạnh lẽo, làm tan đi nỗi cô đơn của người tù xa xứ. than hồng là ánh sáng của cách mạng, là niềm tin vào tương lai, than hồng chứa đựng hy vọng, ấm áp, thắp lên ngọn lửa của niềm tin, tình yêu, lòng yêu nước cháy bỏng, hướng về cuộc sống, về tương lai. ngày mai là một ngày tốt lành. than hồng ấm áp và yêu thương như trái tim của bạn.

    Bài thơ chỉ dài bốn dòng, nhưng sao có ý nghĩa sâu sắc đến vậy? từ trong gông cùm, trong đau đớn, khó khăn, anh vẫn không bi quan, chán nản mà ngược lại rất lạc quan, luôn hướng về niềm vui, hướng về cuộc sống với nhiều hy vọng. không ngại vất vả, quên đi nỗi đau của thực tại mà viết nên những vần thơ hay và đầy yêu thương.

    Tham khảo: Top 3 bài nghị luận văn học Chiều tối siêu hay – Nghị luận về bài thơ Chiều tối

    Nếu trong văn chính luận, văn phong của tác giả sắc sảo, chắc chắn, giàu sức thuyết phục với những lập luận chính xác, khách quan thì trong thơ ông lại lay động lòng người bởi sự giản dị mà sâu lắng. Sự hòa quyện nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp cổ điển và hiện đại đã giúp thơ của chú Hồ mang một phong cách độc đáo, tài hoa và có một không hai.

    đọc bài thơ “buổi chiều”, tôi càng khâm phục các bạn, tôi càng trân trọng tự do và hòa bình ngày nay. và tự hứa với bản thân dù trong khó khăn thử thách của cuộc sống cũng không phụ lòng người, luôn giữ tinh thần lạc quan và niềm tin chắc chắn sẽ chiến thắng để ngày càng cố gắng hơn nữa để xứng đáng là thế hệ trẻ bản lĩnh, tài năng. cách mọi người sống.

    phân tích bài thơ Cảnh khuya – văn mẫu 13

    Trong Nhật ký trong tù Hồ Chí Minh, sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển và yếu tố hiện đại, giữa tâm hồn chiến sĩ và thi sĩ luôn được thể hiện tinh tế, sâu sắc và thấm thía qua nhiều bài thơ. nhưng có lẽ tiêu biểu và đặc sắc nhất vẫn là ở những bài thơ Chiều tối.

    Đây là bài thơ có vị trí rất quan trọng trong toàn tập thơ Nhật ký trong tù, là một bộ phận quan trọng trong bức chân dung tự họa của Hồ Chí Minh, thể hiện ở tinh thần lạc quan, luôn hướng về cuộc sống trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào.

    chiều (mộ) là bài thơ số 31 trong số 134 bài thơ trong Nhật kí trong tù. Nó được sáng tác vào cuối mùa thu năm 1942, khi Hồ Chí Minh bị bắt và bị áp giải từ nhà tù Tịnh Tây đến Thiên Bảo, Trung Quốc. đêm là trung tâm của thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian chuyển đến nhà tù khi trời nhá nhem tối.

    bài thơ được viết bằng chữ Hán, thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, tiêu biểu cho nền thơ trữ tình Hồ Chí Minh. nhà thơ không bộc lộ nội tâm một cách trực tiếp mà thông qua cách cảm thụ hình ảnh, cảnh vật để bộc lộ tình cảm của mình. hai dòng đầu là hình ảnh thiên nhiên trên núi lúc hoàng hôn:

    “Những con chim mệt mỏi đi vào rừng để tìm một nơi để ngủ.” những đám mây lơ lửng giữa bầu trời ”

    bài thơ nói về một bài thơ rất cổ điển và quen thuộc là cảnh chiều tà, đã xuất hiện nhiều lần trong thơ ca từ thời xa xưa, chẳng hạn như cảnh “bước qua bóng xế” trong bài thơ. thơ qua đoạn qua huyện của bà. thanh quan hay trong câu “nhat to yen quang ha xu thi? / yen ba giang thuong su nhan buồn” tại hoàng hạc lau trường.

    Bên cạnh những bài thơ cổ điển còn có những chất liệu thơ cổ điển thường xuất hiện trong nhiều bài thơ như cánh chim, góc rừng, gốc cây cổ thụ, mây trời, xóm núi nghèo, v.v. Những tư liệu thơ ấy có thể coi là chút hương xưa của đất nước, là hoài niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh mà Người muốn nâng niu, gìn giữ trong thơ Người, chúng cũng là sợi chỉ dẫn đường cho cánh diều thơ ca của Người với cội nguồn thơ ca truyền thống. / p>

    Tuy mang nhiều nét cổ điển truyền thống nhưng thơ ông vẫn phảng phất nét hiện đại và tinh thần thời đại sâu lắng. câu “con chim mỏi trở về rừng tìm chỗ ngủ”, ở đây cánh chim của bạn không phải là con chim lạc đường mất phương hướng trong thơ cổ mà là con chim mỏi mòn cả ngày dài vất vả kiếm mồi. ẩn náu trong rừng.

    Kể từ lúc đó, tôi nghĩ đến hoàn cảnh hiện tại của bạn, bạn đã bị áp giải, bạn phải đi một đoạn đường dài băng rừng, vượt suối, nên cũng giống như con chim kia, bạn muốn dừng lại nghỉ ngơi, tránh xa. . xua tan đi những mệt mỏi hành hạ vốn là chất hiện đại trong thơ. hình ảnh đám mây lơ lửng trên không trung thể hiện phong thái thoải mái, tản mạn, tự do của tâm hồn nhà thơ, giống với nhiều cách diễn đạt cổ điển nhưng cũng có thể hiện đại, so sánh với tâm trạng của người tù lúc này.

    hình ảnh đám mây lạc lõng là tâm trạng cô đơn, lẻ loi của nhà thơ trước cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ của đất nước. kết hợp lại, hai câu thơ đầu thể hiện sự mệt mỏi, cô đơn, mất phương hướng và kèm theo đó là tình yêu chân thành của tác giả đối với thiên nhiên, thông qua lối suy tưởng ngụ ngôn để gửi gắm cảm xúc.

    hai câu thơ tiếp theo, màn đêm không còn là hình ảnh thiên nhiên chỉ với cảnh vật mà ở đây là hình ảnh cuộc sống, sinh hoạt, với cuộc sống con người, hơi ấm của tình yêu thương đã bắt đầu xuất hiện.

    “Cô gái phố núi xay hết bắp, còn cái bìm bịp thì cháy hết rồi”

    ở đây có sự chuyển động rất rõ ràng và chuyển động của thời gian, từ chiều đến tối, từ khung cảnh thiên nhiên thông thường đến hình ảnh rất gần gũi và thực của cuộc sống, từ không gian lạnh lẽo của khu rừng đến không gian ấm áp của phố thị. . hình ảnh con người: trung tâm của hình tượng là thiếu nữ xóm núi đang mài ngô, tỏa sáng cùng ba mỹ nhân. đầu tiên là vẻ đẹp của tuổi trẻ tràn đầy sức sống, vẻ đẹp của những công việc bình thường hàng ngày.

    nếu trước đây, hình ảnh thiếu nữ thường được gắn với chốn thư phòng, rèm che, liễu yếu đào tơ thì trong thơ, hình ảnh thiếu nữ dường như rất khác. và mới, cô gái bên cối xay ngô, lao động chân tay mạnh mẽ, tỏa sáng vẻ đẹp của sức trẻ, chạy đua với thời gian, mài giũa để kịp trước khi màn đêm buông xuống.

    cuối cùng, vẻ đẹp của mối quan hệ thẩm mỹ mới giữa con người và thiên nhiên, so với thơ cổ, con người thường rất nhỏ bé, biến mất giữa thiên nhiên, thường mang nỗi buồn. nhưng trong bài thơ, con người hiện ra giữa thiên nhiên, với vị trí trung tâm nhất, nổi bật giữa thiên nhiên, con người và thiên nhiên giao hòa với nhau.

    Hình ảnh cuộc sống trong hai câu thơ là sự kết hợp giữa hai nét cổ điển và hiện đại. thứ nhất, nét bút cổ điển được thể hiện ở việc ông dùng bút lông sáng để miêu tả cảnh tối, đây là một phong cách rất cổ điển của thơ ca phương Đông. lấy hình ảnh “lò than hồng”, lấy màu hồng tươi làm nổi bật sự chuyển giao của thời gian, trời đã tối, đó là lý do tại sao brazier lại sáng như vậy.

    những nét vẽ cổ điển ấy đan xen, xen lẫn những nét vẽ hiện đại, nhưng tựu chung lại, cuối bài chỉ có một chữ “hồng nhan”. Nếu 27 từ đầu tập trung nói về cảnh chiều tà, mang không khí se lạnh thì màn đêm với màu “hồng” của cây bàng lại mang đến cảm giác ấm áp của con người, của con người. . chuyển từ cảm giác cô đơn và mệt mỏi sang cảm giác đoàn tụ gia đình, từ nỗi buồn sang niềm vui tươi sáng.

    còn là sự chuyển động từ bóng tối ra ánh sáng, một cái nhìn rất tích cực về cuộc đời của người chiến sĩ cách mạng, thể hiện niềm lạc quan, niềm tin yêu cuộc sống. Mặc dù trong những tháng ngày gian khổ, mệt mỏi, hoang mang vì không biết mình sẽ bị giam trong bao lâu nhưng Hồ Chí Minh vẫn rất lạc quan, quan sát vẻ đẹp của thiên nhiên và quan tâm đến cuộc sống của người dân Trung Quốc, thể hiện tình trạng của một vĩ nhân, một con người luôn dành tình yêu thương cho mọi người không phân biệt đất nước.

    Qua bài thơ Cảnh khuya hình ảnh thiên nhiên, hình ảnh đời thường của con người ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh. đó là một tâm hồn luôn hướng về sự sống và ánh sáng trong bất kỳ hoàn cảnh nào. tinh thần lạc quan luôn gắn liền với lòng nhân ái và tình yêu chân thành của người lính với thiên nhiên. nhà thơ xuất sắc.

    Về nghệ thuật, nét vẽ miêu tả thiên nhiên tinh tế, giản dị, kết hợp với thiên hướng tả cảnh ngụ tình, với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất cổ điển và nét hiện đại trong từng câu thơ, từng hình ảnh, hình tượng thơ, mọi thứ đã tạo nên một bài thơ xuất sắc. mang đậm dấu ấn của vị lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh.

    phân tích bài thơ Cảnh khuya – văn mẫu 14

    Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc mà còn là một trong những nhà thơ có nhiều tác phẩm nổi tiếng. trong đó tập thơ “Nhật ký trong tù” được đánh giá là viên ngọc quý của nền văn học, thơ ca Việt Nam. đặc biệt nhất là bài thơ “Chiều” do chú sáng tác trên đường đi đày từ trại giam tinh tay đến trại giam thien bì.

    Hình ảnh thôn quê bình dị lúc chập choạng tối được chú miêu tả rất chân thực nhưng ẩn chứa trong đó là ước mơ, khát vọng tự do để có thể tiếp tục sứ mệnh giải phóng đất nước rất rộng lớn.

    “Chim hoàng quy lam tam thuc thuc co van man thien voi”

    dịch thơ:

    “Những con chim mệt mỏi bay vào rừng tìm một nơi để ngủ.” những đám mây chuyển động nhẹ giữa bầu trời ”

    Hình ảnh đàn chim bay về tổ vào lúc hoàng hôn, trên nền trời một làn mây bay nhẹ càng làm toát lên vẻ đẹp dịu dàng, êm đềm của một buổi chiều miền quê, núi rừng. Cô tự so sánh mình như một đám mây trôi lặng lẽ, đơn độc, không nơi quay về, nhưng trên con đường khó khăn khi di chuyển đến nhà tù, cô vẫn giữ một thái độ sống thoải mái và lạc quan.

    Chỉ với hai câu thơ mở đầu ngắn gọn nhưng ẩn chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc, không những thế, cảnh sắc thiên nhiên còn được khắc họa vô cùng sinh động. Nó không chỉ mang ý nghĩa cô đơn mà hình ảnh đám mây nhẹ còn được người chú dùng để nói lên niềm khao khát, khát khao được tự do, được trở về quê hương của các anh chị em.

    Cảnh núi rừng hoang vắng, hoang vắng được hiện lên rất chân thực qua con mắt của một con người bị tù đày, xiềng xích và xiềng xích. trong hoàn cảnh đó, viên quản ngục vẫn thể hiện một vẻ hiền lành kiêu hãnh và một phong thái kiêu ngạo. Ở hai dòng cuối của bài thơ, hình ảnh người thiếu nữ được đưa vào như một nét chấm phá bất ngờ mà tác giả muốn mang đến cho người đọc.

    “con trai của một thị trấn, một thiếu nữ với một con ma, với một con ma, với một con ma.”

    dịch thơ:

    “Cô gái ở làng trên núi đang xay ngô, và chiếc bìm bịp đã bốc cháy.”

    như một điểm sáng hiện ra giữa núi đồi hùng vĩ, càng làm cho bức tranh hoang sơ thêm sinh động, tươi vui. Đây là vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại đặc trưng trong sáng tác của Hồ Chí Minh. sự xuất hiện của hình ảnh người hoạ sĩ càng tôn thêm vẻ đẹp khoẻ khoắn, đặc biệt là vẻ đẹp vô cùng đáng quý của con người lao động.

    bản dịch thơ dường như không có khả năng diễn đạt hết nghệ thuật và ý nghĩa mà tác giả sử dụng. bạn có thể thấy rằng anh ấy đã lặp lại từ “bao gồm” trong hai dòng cuối, nó mô tả sự liên tục, chu kỳ như sự luân chuyển của cô gái miền núi. Cô gái đang xay ngô bên bếp than hồng để chuẩn bị bữa tối, đây đều là những hình ảnh rất đơn giản nhưng lại có sức hút rất lớn.

    Kết luận, bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh cho ta thấy tấm lòng yêu nước, yêu thiên nhiên, yêu con người quên mình. luôn quan tâm đến những điều bình dị và thân thuộc nhất, đó là một trong những đức tính đáng quý và cao quý nhất của người lãnh đạo.

    phân tích bài thơ Cảnh khuya – văn mẫu 15

    “chú ho, chú là tình yêu nồng nàn nhất trong trái tim của con người và trong trái tim của nhân loại.” trong cuộc sống thường ngày giản dị với lối sống thanh cao. trong công việc, bạn là một người nghiêm túc và chu đáo. Đối với thơ ca, tâm hồn và vẻ đẹp của chị được thể hiện rõ nét qua những vần thơ có sức truyền cảm mạnh mẽ.

    “Tôi đã đọc hàng trăm bài báo với hàng trăm ý tưởng hay. Ánh sáng chiếu trên mái tóc xanh. Những bài thơ của các bạn là những vần thơ đanh thép nhưng vẫn dạt dào tình cảm”

    Thơ Bác không chỉ đẹp mà còn đẹp, đẹp bởi hồn thơ, bởi tinh thần “thép” trong thơ, và bởi cả tấm lòng của bài thơ. buổi chiều là một bài thơ tiêu biểu cho thơ Bác Hồ, thể hiện rõ sự kết hợp giữa nét cổ điển và tinh thần hiện đại, một tác phẩm thành công của văn học nước nhà.

    Bài thơ đêm khuya được sáng tác năm 1943, trong thời gian bị tù vì chính sách tư tưởng đúng đắn, chịu nhiều đày ải, khi chuyển từ trại giam tinh tay sang trại giam thiển báo, cảm hứng trong ca chiều. . bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, tứ tuyệt độc đáo, chuyển động tài tình. những người tù đang bị áp giải giữa bạt ngàn núi rừng, chiều buông dần khiến lòng người không khỏi bùi ngùi, xót xa. có lẽ, trong những khoảnh khắc trong ngày, buổi chiều là lúc con người chất chứa nhiều tâm trạng và cảm xúc hơn, chính vì vậy mà trong thơ cổ, loài chim thường dùng cánh chim hoàng hôn để gợi nỗi buồn.

    “bird queen quy lam tam thuc thuc co van man sky man”

    Cảnh được gợi lên bằng những ước lệ tượng trưng quen thuộc của thơ ca cổ, những cánh chim mòn mỏi trong đêm gợi lên nỗi ngậm ngùi, thương cảm “nàng văn lãng” giữa muôn vàn mây trời. mây, một mình giữa không gian. đó là hình ảnh ẩn dụ về người tù đày nơi xứ lạ, dường như giữa cảnh và người có sự đồng điệu, đồng cảm, đồng điệu giữa hồn và cảnh. “cảnh buồn có bao giờ vui”, cảnh tượng thể hiện tâm trạng, có gì đó cô đơn, day dứt trong lòng người lính. hai dòng thơ theo lối thơ song thất lục bát nhưng vẫn chứa đựng những nét riêng trong thơ lục bát. thiên nhiên có nét buồn nhưng không buồn. Nếu bạn mệt mỏi, hãy nghỉ ngơi để ngày mai bạn có thể dấn thân vào một con đường mới, một cuộc sống mới. Đó là sự nỗ lực, là tâm hồn hướng tới cuộc sống, khát vọng thoát ra khỏi sự trói buộc, vươn tới tự do như cánh chim trời, nhu mì nhưng bình yên.

    nếu hai câu đầu là hình ảnh thiên nhiên thì hai câu cuối là hình ảnh đời thường

    “trai nghiem thien nhien, nhung nguoi phu nu co mat, ma co nhieu hoa tiet.”

    hình ảnh người con gái được thể hiện rất nhiều trong thơ ca, nếu trong văn học trung đại, một cô gái tài sắc vẹn toàn nhưng yếu đuối và số phận đầy trắc trở, thơ mộng trôi nổi, nếu họ phảng phất nỗi buồn thì trong cô ấy. thơ là một con người giản dị, đời thường, vất vả nhưng duyên dáng và đáng trân trọng. hình ảnh “cô em gái” hiên ngang chống chọi với thiên nhiên, con người đảm đang, trẻ trung, tràn đầy sức khỏe, chăm chỉ lao động thật đáng quý biết bao. hình ảnh thiên nhiên quyện vào hình ảnh con người dường như sống động và ấm áp hơn. “ma’s cover … ma’s cover”, sự sáng tạo trong âm tiết tạo nên nhịp điệu trong chu trình làm việc. không gian giữa đất trời rộng lớn, bao la, thu hẹp dần về không gian sinh hoạt gia đình – bếp lửa “than trời”. chỉ với một chữ “hoa hồng”, được coi là khắc tinh của bài thơ và lối bút pháp chấm phá khiến bao cảm xúc, ý tưởng như bị dồn nén, cất giữ bấy lâu nay mới được giải tỏa. “hồng” – là ánh sáng của niềm tin, hi vọng, là ngọn lửa xua tan bầu trời đêm, ngọn lửa sưởi ấm xua tan giá lạnh, cô đơn, ngọn lửa của niềm vui, niềm vui và hạnh phúc, là niềm lạc quan xua tan đi bao buồn phiền, mệt mỏi. của thực tế. . tâm hồn nhà thơ lúc này chan chứa tình cảm yêu quê hương đất nước, về khát vọng ngày đất nước hoà bình, ánh sáng ấy thật lớn lao và cao đẹp biết bao. Bác vẫn vậy, dù thực tế có khó khăn đến đâu, con người vẫn luôn hướng về thiên nhiên, vẫn quan tâm đến cuộc sống ấm no của dân tộc.

    bằng bút pháp kết hợp hài hòa giữa hình ảnh cổ điển với tinh thần hiện đại, cách diễn đạt ngắn gọn nhưng súc tích và những cảm xúc dồn nén bên trong ý tưởng. Bằng một lối văn giàu sức gợi với những hình ảnh giản dị, thân thuộc nhưng giàu cảm xúc, bài thơ Chiều đã thể hiện được tâm hồn của Bác Hồ, con người dù đau khổ trong xiềng xích nhưng vẫn có niềm tin ở phía trước, vẫn giữ trong mình tinh thần thép của đời sống đồng thời thấy được tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước và ý chí sắt đá của người chiến sĩ. Đồng thời, bài thơ cũng thể hiện nét độc đáo của phong cách thơ, như một nhà thơ đã từng lưu ý rằng “thơ đi từ ngôn ngữ đến hình tượng thơ luôn có sự vận động hướng tới sự sống, ánh sáng, tương lai.”

    phân tích bài thơ Cảnh khuya – văn mẫu 16

    Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà văn hóa, một anh hùng dân tộc, một vị cha già dân tộc mà còn là một nhà văn, nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam. người đã để lại cho đời một tập thơ đồ sộ, phong phú về thể loại, đa dạng về văn phong và sâu sắc về tư tưởng. thơ bác ho đẹp vì vần và đẹp vì hồn thơ, tinh thần “thép” trong bài thơ. và buổi chiều là bài thơ tiêu biểu của bạn, đây là bài thơ thể hiện thành công việc kết hợp nét cổ điển với tinh thần hiện đại

    hai dòng đầu của bài thơ là khung cảnh thiên nhiên núi rừng bao la, thanh bình với những chú chim đang mỏi mệt bay về tổ dưới đám mây ánh sáng chuyển mình:

    <3

    (những con chim mệt mỏi trở về rừng tìm chỗ ngủ. Mây bay nhẹ giữa không trung)

    Cánh chim và đám mây là hai hình ảnh thường xuất hiện trong các bài thơ xưa và nay. Đó là hai hình ảnh chỉ không gian nhưng gợi liên tưởng về thời gian. buổi tối thường là thời gian sum họp, khi mọi người hối hả trở về đoàn tụ với gia đình, nhưng cũng là lúc con người ta cảm thấy vô cùng cô đơn không nơi quay về. giữa không gian rộng lớn, dường như con người và cảnh vật đang nghỉ ngơi, nhưng mây trời vẫn nhẹ nhàng trôi hờ hững càng làm nổi bật sự yên bình nơi núi rừng về đêm. đám mây đó cũng giống như bạn, trong nhà tù, vẫn phải bước đi một mình. một đám mây cô đơn lặng lẽ và một người bác cô đơn lặng lẽ xen lẫn chút lo lắng không biết tương lai của người tù sẽ đi về đâu trên đất khách quê người. nhưng có lẽ chỉ người có lòng yêu nước nồng nàn như anh mới có thể kiêu ngạo, bình tĩnh, lạc quan vượt qua mọi gò bó vật chất để hòa mình vào thế giới tự nhiên, mây trời ngoài kia.

    bằng một câu thơ bảy chữ, ông đã vẽ ra một khung cảnh tối tăm, hoang vắng, mênh mông, hiu quạnh, bình lặng đến lạ lùng. đồng thời, ẩn sau những câu thơ, người đọc thấy được ý chí vượt khó với niềm khao khát, khát vọng được tự do như mây trời, được về với đất mẹ, được hòa thuận và được sống trọn vẹn. với thiên nhiên.object. hình ảnh đại diện cho thiên nhiên, nhưng nó cũng có linh hồn: linh hồn của con người hòa mình vào thiên nhiên trong đó.

    Trong khung cảnh thiên nhiên bao la, đượm vẻ u buồn của buổi chiều trên núi, bỗng xuất hiện một con người:

    con nguoi dan ong, mot nguoi ban gai, mot nguoi mau ma, mot con ma, mot co gai hong

    (cô gái phố núi xay hết ngô, quả bí đã hồng rồi)

    .Trong hình ảnh thiên nhiên rộng lớn, thanh bình như trong thơ cổ, hình ảnh người em gái miền núi hiện lên như một điểm sáng làm cho bức ảnh thêm phần rực rỡ, tươi vui. bức tranh là sự giao hòa giữa thiên nhiên và con người với những công việc thường ngày trong cuộc sống, như tô đậm và đại diện cho cái đẹp, cái đáng quý của những con người cần cù lao động. con người trong thơ Bác là người lao động và cũng là trung tâm của bài thơ. cô gái hiện lên với vẻ đẹp của người dân lao động, khỏe khoắn, tràn đầy sức sống. hình ảnh “bông hồng đỏ” là hình ảnh bình dị của cuộc sống thắp sáng và xua tan đi cái lạnh giá nơi núi rừng vì lửa là biểu tượng của sự sống, như ngọn đèn soi sáng cho cuộc sống thường ngày của con người. đối với một người tù như anh, hình ảnh anh vũ nữ sáng hồng như sưởi ấm trái tim nơi ngục tù lạnh lẽo và hiu quạnh, mang đến cho con người sự ấm áp, niềm vui và hạnh phúc của cuộc sống đời thường. một lần nữa chúng tôi nhận ra ánh mắt yêu thương của anh đối với cuộc sống. người quên đi những đau khổ của chính mình để chia sẻ nó với những người tự do và tự túc. bánh xe thời gian quay chầm chậm từ chập choạng tối vì ba chữ “ma bảo” được khoanh tròn ở câu cuối. sự kết nối liên tục và nhịp nhàng của âm thanh mô tả sự quay không ngừng của chuyển động xay ngô và mô tả dòng chảy của thời gian.

    bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa phong cách cổ điển và hiện đại, giữa vẻ đẹp giản dị mà sâu sắc. đoạn thơ đã miêu tả chân thực, súc tích cảnh sắc thiên nhiên và cuộc sống, đồng thời thể hiện tình yêu thương, gắn bó với con người, thiên nhiên và lòng nhân ái đến mức quên mình. người đã làm thơ khi bị giam giữ trong nhà tù, nhưng vẫn thả hồn mình về với thiên nhiên với niềm khao khát ngày được tự do. nhà văn nam cao đã viết: “Khi chân đau, người ta không còn tâm trí để nghĩ đến người khác”, để nói rằng con người thường có xu hướng lo lắng về những đau khổ của chính mình. nhưng ở chú Hồ, một người luôn lo lắng cho dân tộc, cho đất nước, luôn dành một chút thời gian để lo lắng cho những điều nhỏ nhặt nhất, đơn giản nhất. đó là nhân cách cao đẹp của vị lãnh tụ, vị cha già vĩ đại của đất nước

    Bài thơ Chiều tối đã thể hiện được tâm hồn của người chú, một người dù chịu bao xiềng xích nhưng vẫn có niềm tin ở phía trước, vẫn giữ được một tinh thần thép trong cuộc sống. đồng thời thấy được tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước và ý chí sắt đá của người chiến sĩ.

    phân tích bài thơ Cảnh khuya – văn mẫu 17

    “muộn” là một bài thơ được viết gần cuối của một cuộc hành trình. đoạn thơ là hình ảnh cảnh đêm núi rừng, một cảnh đẹp bởi nó phản ánh cuộc sống ấm no của nhân dân. từ đó bộc lộ tâm hồn thơ nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, tấm lòng nhân hậu đối với con người, thái độ sống chậm rãi luôn hướng về cuộc sống, ánh sáng và tương lai. hay nói đúng hơn nó là một thực thể của sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại.

    Cảnh đêm là một chủ đề quen thuộc trong văn học. cảnh chiều tối thường dễ say đắm lòng người nên cảnh chiều tà đã trở thành nhiều bài thơ kim cổ, tạo nên những kiệt tác. thơ cổ điển chiều tối thường mang một nỗi buồn man mác, hoang vắng trong sự mục nát của thời gian, hay mang nỗi buồn tha hương. ở đây, với một vài nét chấm phá của phong cách tượng trưng thông thường, tác giả đã tạo nên một bối cảnh tuyệt vời cho khung cảnh buổi tối:

    quuyen quy lam to dang sinh song, van con man man tren duong pho;

    (những con chim mệt mỏi trở về rừng tìm chỗ ngủ. Mây bay nhẹ giữa không trung)

    “Cánh chim” và “đám mây” là hai hình ảnh quen thuộc thường xuất hiện trong thơ ca xưa và nay. Vì vậy, đó chỉ là hai hình ảnh của không gian đã mang ý nghĩa của thời gian. những cánh chim ở đây được lấy từ thế giới của nghệ thuật cổ đại phương Đông. trong thế giới thẩm mĩ ấy, hình ảnh cánh chim bay về rừng ít nhiều mang ý nghĩa biểu tượng gợi tả cảnh chiều tà: “chim yến rơi”; “hoàng điểu quy lâm” là những nhóm từ thường thấy trong thơ chữ Hán. trong “truyện kiều” tả cảnh chiều tà, nguyễn du chỉ vào hình ảnh cánh chim bay về rừng: “chim bay về rừng”. Câu thơ của anh ở huyện thanh quan cũng vậy: “gió đưa chim bay ban mai” và huy cận cảm nhận được bóng chiều tà khi sà xuống từ những cánh chim nghiêng dần xuống cuối chân trời. : “con chim nghiêng cánh trong bóng chiều tà”. dường như trong nhận thức của các thi nhân xưa khi tả cảnh chiều tà mà không thấy hình ảnh cánh chim, không thấy rõ bóng người.

    Cánh chim trong thơ cổ thường chỉ là một chi tiết nghệ thuật thuần túy để tả cảnh chiều tà, và thường gợi cảm giác xa cách, phiêu du, chia ly:

    “chúng cao quá” – li bạch “chim núi thian không tuyệt” – liễu tông nguyễn

    Tất cả chúng ta đều nhận thấy rằng loài chim trong thơ của li bach và liễu tông nguyên là “không xuất sắc”, “không vô tận”. tất cả đều không có điểm kết thúc mà đều ở trạng thái bay về một nơi xa xôi và vô tận, gợi lên một khái niệm siêu hình nào đó. và những con chim trong bài thơ “buổi chiều” của bạn có phương hướng, điểm dừng và mục đích rõ ràng:

    Con chim chán trở về rừng tìm chỗ ngủ.

    vậy là bạn đã mang đôi cánh của con chim từ thế giới siêu hình đến thế giới thực. Tôi nhìn thấy trong ánh nhìn của bạn một ánh mắt yêu thương, trìu mến trước những biểu hiện nhỏ nhặt của cuộc sống. nhìn cánh chim đang bay, anh cảm thấy mỏi cánh sau một ngày hoạt động. trong sâu thẳm tâm hồn bạn là tình yêu cuộc sống, tình cảm của bạn là tình cảm nhân đạo.

    Câu thơ thứ hai cũng đậm chất thơ. nó rất gần với câu thơ: “Cô vân quá khứ nhàn” của li bai. hình ảnh đám mây đơn độc lơ lửng trên bầu trời đã trở thành một mô-típ quen thuộc trong thơ ca cổ, thường gợi lên sự cô đơn cao cả, phiêu diêu, thoát tục và lo lắng của con người trước sự trống trải. và trong bài hát “chiều tối” của bạn, hình ảnh một đám mây đơn lẻ lướt nhẹ trên bầu trời chỉ là một nét chấm phá tạo nên không gian cao rộng của bầu trời chiều giữa núi rừng. bầu trời hôm ấy phải thật cao, thật trong xanh để ta có thể nhìn thấy hình ảnh đám mây cô đơn gợi lên hình ảnh cô đơn nơi đất khách quê người. từng chi tiết của cảnh buổi chiều đều nhuốm màu hài hước. lũ chim chán tìm tổ, tù binh mệt nhoài sau một ngày rong ruổi vẫn chưa tìm được chốn dừng chân. Mây cô đơn lơ lửng, người tù lẻ loi giữa một buổi chiều nơi đất khách quê người. hai dòng đạt đến mức độ huyền diệu của miêu tả ngụ ngôn. ở đó ta tìm thấy một tâm hồn giàu cảm xúc trước thiên nhiên và cuộc sống. từ đó chúng tôi thấy được một nghị lực phi thường và đó cũng chính là chất thép trong thơ anh.

    nếu trong hai dòng đầu tiên của bài thơ, theo phong cách cổ điển, bạn đã tạo ra một nền lớn cho hình ảnh, thì trong hai câu tiếp theo, bạn tập trung làm nổi bật hình ảnh trung tâm của hình ảnh. từ phong cách viết cổ điển, bạn hoàn toàn chuyển sang phong cách hiện đại.

    trai bao ve tinh yeu, co gai tre trung, bao ve ma tuy va nhieu hoa hau

    (cô gái xóm núi xay ngô trong bóng tối, xay cả đống than hồng đã cháy hồng)

    “Làng núi” là hình ảnh giản dị tượng trưng cho cuộc sống thanh bình của người dân. xóm núi đẹp hơn, ấm áp hơn với hình ảnh thiếu nữ. vẻ đẹp tươi trẻ tràn đầy sức sống của một thiếu nữ trong tư thế lao động (xay ngô) trở thành tâm điểm của bộ ảnh thiên nhiên buổi chiều. Điều đáng chú ý ở đây là hình ảnh thiếu nữ trong thơ Bác hoàn toàn khác với hình ảnh thiếu nữ trong thơ ca cổ. người phụ nữ trong thơ cổ thường được ví như “liễu yếu đào tơ” sống trong “phòng kín”, chỉ biết “có, có, có thi, có họa” là đủ. còn người thiếu nữ trong thơ Bác gắn với cuộc sống giản dị, hàng ngày, khỏe khoắn tràn đầy sức sống. Có phải chính sức sống của người phụ nữ trẻ đã làm cho hình ảnh tỏa sáng?

    Trong thơ cổ, những hình ảnh tượng trưng cho cảnh chiều tà có bóng người, nhưng sao lẻ loi, đơn độc và lẻ loi. ở đây người ta mang nặng một nỗi nhớ, một nỗi sầu muộn:

    “Lác đác dưới núi mấy chàng, lác đác bên sông, mấy nhà”

    (qua đèo – bà thanh quan huyện)

    có:

    “Mái nhà đánh cá đi về thành phố xa, sừng người chăn cừu về thổi phố”

    (Chiều vô gia cư – cô. huyện thanh quan)

    và con người trong bài thơ là một con người cần cù, tràn đầy sức sống. chính hai từ “thiếu nữ” đã làm cho hình ảnh trở nên sống động. cô gái đang mải miết xay ngô và dường như không để ý đến những gì xung quanh mình. cối xay cứ quay đi quay lại với tiêu đề “ma bảo bao” rồi “bao ma” và khi xay xong ngô thành “ma bao bảo” thì thấy “chiếc cối xay cháy hồng”. hình ảnh “lò than cháy đen” hiện lên trong đêm đen càng làm nổi bật hình ảnh người thiếu nữ. toàn bộ khung cảnh thiên nhiên được bao bọc trong một màu xám nhạt mờ dần đến tối. chính vì vậy mà hình ảnh chiếc lò than rực sáng có một sức hấp dẫn đặc biệt. đoạn thơ kết thúc bằng từ “hoa hồng”, đây có thể nói là đoạn đẹp nhất của bài thơ. đó là ngọn lửa đỏ của cuộc sống ấm no, hạnh phúc gia đình, ngọn lửa hồng của sự sống, của sự lạc quan. từ “hoa hồng” đặt ở cuối bài thơ đã làm sáng rõ vẻ đẹp của người thiếu nữ, tỏa ánh sáng và hơi ấm, xua tan nỗi buồn của hình ảnh buổi tối trong rừng.

    hai câu thơ đã cho ta thấy cái nhìn ấm áp, yêu thương và trân trọng của Người đối với nhân dân lao động. trong “buổi chiều” nơi miền núi vắng vẻ, vắng vẻ, trước những người tù, bị xiềng xích và mang theo bao nỗi nhọc nhằn, đó lại là tiếng rao. . từ “hoa hồng” ở cuối bài hát đã tạo nên tiếng kêu vui sướng đó, tạo cho bài thơ một âm hưởng ấm áp và giàu âm hưởng.

    “Chiều” là một tác phẩm cổ điển nhưng rất hiện đại, giàu màu sắc thể hiện một cách tự nhiên và giàu vẻ đẹp của hình tượng người tù, nhà thơ, người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh. bài thơ đã nói lên tình yêu thiên nhiên chân thành của anh. điều đặc biệt ở đây là ý thức tự nhiên của anh ấy gắn liền với ý thức nhân đạo, ý thức sống của anh ấy.

    phân tích bài thơ Cảnh khuya – văn mẫu 18

    ho chi minh là một cái tên gắn liền với mọi người Việt Nam. Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà cách mạng lỗi lạc, một nhà lãnh đạo tài ba, Hồ Chí Minh còn là một nhà thơ, nhà văn lớn. người đã để lại cho di sản văn học Việt Nam rất nhiều giá trị cao quý. “Nhật ký trong tù” là một trong những tập thơ nổi tiếng của ông. trong đó “chiều” là bài thơ tiêu biểu của tờ báo đó, thể hiện tình yêu thiên nhiên, cuộc sống và ý chí vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt.

    bài thơ Chiều tối được viết vào một buổi chiều ở nông thôn, khi chú Hồ bị bắt từ nhà tù Tinh Tay đến nhà tù Thiển Bảo. ngay từ những câu thơ đầu tiên, ông đã vẽ nên bức tranh đêm khuya dưới con mắt của người tù chính trị bị cùm chân, tay chân:

    <3

    bản dịch:

    <3

    Hình ảnh thiên nhiên được Bác Hồ vẽ lên một cách chân thực với những hình ảnh “cánh chim mỏi”, “những đám mây”. Buổi chiều là thời điểm vạn vật nghỉ ngơi, đàn chim trở về tổ sau một ngày dài kiếm ăn. cái mỏi của cánh chim đi liền với cái mệt của những người tù chính trị phải đi liên miên. nhưng chim dù có mệt cũng về tổ nghỉ ngơi, những người tù chính trị dù mệt vẫn phải tiếp tục bước đi. tổ là động cơ để chim tiếp tục cố gắng, và người tù không có động lực. dường như qua hình ảnh cánh chim ấy ẩn chứa bao nỗi niềm, nỗi nhớ da diết. nỗi nhớ sâu thẳm trong tim nhưng tôi không thể làm gì được.

    bóng đêm gợi lên sự u sầu

    nói đến mây, khi cánh chim về tổ, mây vẫn “lững lờ trôi giữa không trung”. những đám mây trườn mình giữa bầu trời chiều ấy, như nỗi cô đơn của người tù giữa không gian núi rừng mênh mông, bước đi vu vơ không biết dừng lại ở đâu. nhưng có lẽ đám mây đó cũng là ước nguyện của Hồ Chí Minh. khao khát được tự do bay khắp nơi, thoát khỏi nanh vuốt của kẻ thù.

    Chỉ bằng hai câu thơ, Hồ Chí Minh đã phác họa nên một hình ảnh thiên nhiên vô cùng giản dị, gần gũi. Dù ở trong hoàn cảnh bất hạnh nhưng Bác vẫn có cái nhìn vô cùng tinh tế, nhạy bén về thiên nhiên xung quanh. anh ấy phải là một người yêu thiên nhiên, dũng cảm làm sao anh ấy có thể lạc quan như vậy.

    trong khung cảnh thiên nhiên bao la, đầy u sầu, Hồ Chí Minh chợt nhận ra hình ảnh đời thường thật bình dị mà cũng thật đẹp:

    con nguoi dan ong, mot nguoi ban gai, mot nguoi mau ma, mot con ma, mot co gai hong

    dịch thơ

    <3

    Giữa không gian bao la của đất trời, giữa sự hiu quạnh của thiên nhiên, một thiếu nữ miền núi bất ngờ xuất hiện. nó giống như một điểm sáng khiến bức tranh tĩnh lặng đến lạ thường trở nên sống động, tươi vui và xúc động hơn.

    Hình ảnh “cô thôn nữ xay ngô đen” thể hiện vẻ đẹp đáng quý trong lao động của con người. khi mọi thứ đã tìm được bến đỗ, mọi người lại tiếp tục với guồng quay của công việc. đó là một vẻ đẹp vô cùng quý giá, thể hiện sự chịu khó của những người lao động chân thành. ở đây, tôi đã nhắc lại hai từ “bao hàm” như muốn nói lên vòng quay của thời gian, sự bền bỉ của con người. đó là sự tinh tế chỉ có thể tìm thấy trong thơ.

    Bức tranh sống động nhờ hình ảnh người chị miền núi lao động mạnh mẽ, được sưởi ấm bên bếp than hồng. hình ảnh chiếc bìm bịp cháy bỏng giữa bạt ngàn rừng đen như nhen nhóm trong lòng tôi biết bao niềm vui, sự lạc quan, yêu đời. Chính nhờ ngọn lửa bện đã làm tan đi cảm giác lạnh lẽo, cô đơn của những người tù chính trị nơi xa. Hồ Chí Minh đã khéo léo sử dụng nghệ thuật lấy sáng tối, lấy không gian để miêu tả thời gian làm cho bức ảnh thêm sinh động.

    ở đây, Hồ Chí Minh đã khai thác một mạch thơ rất tinh tế, được miêu tả từ tối đến sáng, từ buồn đến vui. nó là sự thể hiện niềm lạc quan và khát vọng tương lai của tác giả. Dù đang ở trong hoàn cảnh tù tội nhưng niềm hy vọng về một ngày mai tươi sáng hơn vẫn luôn nhen nhóm trong lòng mọi người.

    bài thơ Chiều mưa thấm đượm tinh thần Hồ Chí Minh là tinh thần lạc quan, yêu đời, biết vượt lên mọi hoàn cảnh để thấy cuộc đời tươi đẹp hơn. tinh thần đó khó có được. Đặc biệt, bài thơ đã thể hiện tài năng nghệ thuật của Bác. Với lối viết tinh tế, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình sâu lắng, cùng với cách sử dụng ngôn từ linh hoạt, Hồ Chí Minh đã mang đến cho người đọc những cảm xúc rất thật. Không nhất thiết phải dùng quá nhiều từ, nhưng mỗi từ được sử dụng đều gợi ra nhiều ý nghĩa sâu sắc.

    “Chiều” là một bài thơ Hồ Chí Minh thực sự thành công khi vẽ nên một bức tranh thiên nhiên, con người hoàn hảo và lồng ghép những ý niệm sâu sắc vào đó. Càng phân tích bài thơ Cảnh khuya, chúng ta càng cảm phục tài năng và phẩm chất của nhà thơ, nhà văn, nhà cách mạng lỗi lạc Hồ Chí Minh.

    phân tích cú pháp bài đăng vào ban đêm – mẫu 19

    “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh là một tập thơ ghi lại những cảm xúc trong chuỗi ngày bị giam cầm trong nhà tù Trung Quốc. Khi đọc thơ Hồ Chí Minh, người đọc nhận ra những dòng cảm xúc rất đỗi bình dị, đời thường. “nghiêm túc” là một trong những bài thơ tái hiện khoảnh khắc cuối ngày, đó là buổi chiều.

    bài thơ “mộ” ghi lại khoảnh khắc Hồ Chí Minh chuyển từ ngục thiển về long tuyền vào năm 1942. Cảm hứng chủ đạo là bức tranh và khung cảnh thiên nhiên trong buổi chiều tà và hoàng hôn sắp buông xuống. nó phải tinh tế, sâu lắng và ho chi minh mới lột tả được nhịp sống nhẹ nhàng của núi rừng một cách tài tình.

    bài thơ gốc như sau:

    Queen dieu quy lam tuc thuc thuc co van man do thien khong son Village mai bao bao ma hoan toan hong.

    Hai dòng đầu của bài thơ như một nét chấm phá làm cho bầu trời buổi tối hiện lên trong veo và mang một nỗi buồn man mác:

    những con chim mệt mỏi trở về rừng để tìm một chỗ ngủ. những đám mây nhẹ nhàng bay lơ lửng trên không

    nỗi buồn dường như hơi lan tỏa, lan tỏa ra cả đôi đường khiến giọng thơ như lắng lại và cảm xúc của tác giả như dâng lên. những cánh chim đêm cũng “mỏi mòn” tìm nơi ngủ. một cánh chim lẻ loi lạc vào bầu trời rộng dài, khiến người đọc có cảm giác như đang trăn trở về cuộc đời của con người hiện tại. hoàn cảnh tù túng và hạn chế khiến thành phố Hồ Chí Minh khao khát một nơi bình yên và ấm áp nhất để trở về.

    Hình ảnh “mây trôi” gợi tả sự chuyển động uyển chuyển, tinh tế của thiên nhiên. nhịp thơ trở nên chậm, rất chậm và có lẽ lòng người cũng vậy.

    chỉ với hai dòng thôi cũng đủ để người đọc nhận ra ước muốn được như làn mây ấy, chỉ cần lướt nhẹ, không phụ thuộc, không cần phải tù đày.

    Thiên nhiên trong thơ ca thành phố Hồ Chí Minh luôn hiện lên nhẹ nhàng nhưng chất chứa bao tình cảm.

    Trong hai câu thơ tiếp theo, một tia sáng dường như tỏa sáng và một bóng người thấp thoáng:

    <3

    mặc dù bản dịch của bài thơ không thực sự bám sát và thể hiện tâm trạng và con người trong bức tranh này với màu sắc cổ điển và hiện đại.

    Chỉ bằng một nét cọ tinh tế, tác giả đã vẽ nên một bức tranh bình dị về cuộc sống của người dân dưới chân núi. hành động “xay ngô” dường như là công việc thường ngày của người dân nơi đây. giản dị nhưng ấm áp và tràn đầy yêu thương. Có thể nói, trong kịch bản bị xiềng xích này, Hồ Chí Minh rất muốn có một nơi để trở về bình dị như thế này.

    Đến cuối dòng, người đọc nhận thấy một chuyển động rất nhẹ và một ngọn đèn chiếu sáng toàn bộ bài thơ. Vào thời điểm cô gái từ vùng đồi đất xuống hết ngô, chiếc brazier đã rực hồng. một quá trình chuyển đổi suôn sẻ hàng ngày. giữa sa mạc lạnh giá, khi mặt trời lặn, hoàng hôn buông xuống, hình ảnh “lò than” hiện ra làm bừng sáng cả không gian và sưởi ấm lòng người. có thể nói, việc xây dựng hình tượng người chị miền núi và người thợ sơn cước dường như là một tâm huyết thầm kín của tác giả. Đó là hiện thân của một mái ấm gia đình hạnh phúc, đong đầy tình yêu thương và đó cũng là tâm nguyện của Hồ Chí Minh.

    Bài thơ “tảo mộ” của Hồ Chí Minh là một bài thơ vừa mang màu sắc cổ điển vừa mang màu sắc hiện đại, mang lại ấn tượng đặc sắc riêng. bài thơ là tâm sự, là ước muốn nhỏ nhoi để có thể thoát khỏi gông cùm, hướng về cuộc sống bình yên nơi phố thị.

    phân tích kích thước siêu ngắn – mẫu 20

    Bài thơ chiều tối thành phố Hồ Chí Minh là bài thơ thể hiện hình ảnh buổi chiều tà và hình ảnh miêu tả một cô gái lao động vô cùng xinh đẹp. Bài thơ được tác giả Hồ Chí Minh viết trong những ngày bị giam cầm trong nhà tù của chế độ thánh chiến khi bị áp giải từ nhà tù này sang nhà tù khác.

    bài thơ “buổi chiều” chỉ có bốn dòng nhưng lại miêu tả hai hình ảnh hoàn toàn khác nhau. đó là hình ảnh của thiên nhiên và hình ảnh của những con người hoàn toàn đối lập nhau. Qua bài thơ ta thấy dù trong hoàn cảnh khốn khó bị tù đày nhưng tác giả Hồ Chí Minh vẫn thể hiện tinh thần yêu thiên nhiên, tinh thần lạc quan, tin yêu vào cuộc sống.

    “những con chim mệt mỏi vào rừng tìm chỗ ngủ. Mây bay nhẹ giữa không trung”.

    Trong hai câu thơ này, tác giả Hồ Chí Minh đã miêu tả hình ảnh một buổi chiều tà và hoàng hôn rất buồn, thể hiện tiếng chim vội vã muốn tìm về tổ ấm sau một ngày mệt mỏi, kiếm mồi, mưu sinh. những con chim nhỏ đối lập với bầu trời bao la, thể hiện sự cô đơn của cảnh vật, thể hiện một nỗi buồn lớn trong lòng.

    Trên bầu trời xanh bao la đó, những đám mây trôi lơ lửng, tương phản với sự vội vã của những chú chim đang mệt mỏi đó. khung cảnh thiên nhiên nơi núi rừng cao nguyên hoang sơ, hiểm trở vô cùng đẹp đẽ, thơ mộng, lãng mạn, có chim muông, mây trời nhưng lại gợi chút buồn man mác, khiến tâm trạng người đọc trở nên cô đơn.

    Trong hai câu thơ này, tác giả Hồ Chí Minh đã tinh tế sử dụng rất tài tình nghệ thuật thư pháp cổ điển, lấy cánh chim làm biểu tượng cho cảnh chiều tà, chiều tà. và lấy hoàng hôn để giãi bày nỗi buồn trong lòng. bởi người ta thấy hoàng hôn bao giờ cũng gợi lên một nỗi buồn nhẹ trước khi ngày gần tàn, ánh nắng biến mất, màn đêm bao trùm gợi lên nỗi cô đơn. trong hoàn cảnh của tác giả hồ chí minh lúc này, người ta khó vui vì người ta bị mất tự do, tay chân bị xiềng xích, bị xiềng xích, bị áp giải ra đường cho một ngày mệt mỏi. Trong lòng tác giả vẫn trĩu nặng không biết diễn tả nỗi buồn khi nghĩ về quê hương đất nước, khi quê hương còn bị ách nô lệ của thực dân.

    thiên nhiên và con người lúc này dường như có sự đồng cảm bởi thiên nhiên, chim muông và mây trời thể hiện nỗi buồn sau một ngày dài mệt mỏi. người bị mất tự do không biết mình sẽ bị áp giải đi đâu và ở đâu. sự mệt mỏi về tinh thần và thể chất của một tù nhân.

    trong tâm trạng của tác giả cũng bộc lộ nỗi buồn vì phải xa quê hương thân yêu. Đối diện với cảnh đẹp núi rừng, lòng người vẫn không khỏi sung sướng. tuy nhiên, trong hai dòng tiếp theo, không gian hình ảnh ngang:

    “cô gái phố núi xay ngô xay cả đống than hồng đã cháy sáng”

    Hai câu thơ tiếp theo thể hiện phong cách “tag character” của tác giả thành phố Hồ Chí Minh, khi nhà thơ sử dụng từ “hong” để tạo nên “tag character” của riêng mình. Hình ảnh một cô gái trẻ chăm chỉ làm việc đến khuya, trên mặt lấm tấm những giọt mồ hôi toát lên vẻ đẹp giản dị nhưng cuốn hút của một cô gái chăm chỉ.

    Cô gái xay ngô bên than, quên trời đêm đã thể hiện một hình ảnh rất sinh động và đẹp đẽ về một cuộc sống gia đình đầm ấm, hạnh phúc, viên mãn và bình yên. hình ảnh sinh động này làm cho bài thơ trở nên sống động, mang màu sắc vui tươi lay động lòng người. một hình ảnh ấm áp của cuộc sống hàng ngày.

    hình ảnh cái lò hồng là hình ảnh trung tâm, là nhan đề của bài thơ khiến người con gái trở nên trong trẻo, tươi tắn hơn. Lò hồng cũng đã nung nóng toàn bộ bài thơ với những nét vẽ đượm buồn trước đây, tạo nên một bước đột phá mới trong thơ Hồ Chí Minh. cái lò đỏ rực lửa bên cạnh một cô thôn nữ đang chăm chỉ, lao động hăng say làm cho bài thơ nổi bật hơn, tươi trẻ hơn, có sức sống hơn. đồng thời thể hiện tinh thần lạc quan của tác giả Hồ Chí Minh, dù trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn nhưng tác giả vẫn nhìn cuộc đời rất trẻ trung và tràn đầy lạc quan cho tương lai.

    Bài thơ “chiều” của Hồ Chí Minh là sự kết hợp tài tình giữa phong cách cổ điển và hiện đại, giữa thiên nhiên và con người. bài thơ đã xây dựng nên hai hình ảnh thiên nhiên và con người vô cùng đẹp đẽ đối lập nhau nhưng lại tương hỗ lẫn nhau. Qua bài thơ, chúng ta càng khâm phục tác giả bởi ông có một tinh thần vô cùng lạc quan, một trái tim giàu cảm xúc với thiên nhiên và cuộc sống.

    Tham khảo: TOP 17 bài Phân tích bài thơ Thương Vợ

    XEM THÊM:  Soạn văn bài tức nước vỡ bờ siêu ngắn

    Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Phan tich bai chieu toi ngu van 11. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

    Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

    Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

    Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *