Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
65 lượt xem

TOP 10 mẫu Phân tích Hầu trời hay nhất – Văn 11

Bạn đang quan tâm đến TOP 10 mẫu Phân tích Hầu trời hay nhất – Văn 11 phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ TOP 10 mẫu Phân tích Hầu trời hay nhất – Văn 11

Analyse for Chúa gồm 10 bài văn mẫu hay đạt điểm cao của các bạn học sinh trên cả nước. qua đó học sinh lớp 11 có nhiều ý tưởng mới, ý tưởng hay, ý đẹp khi viết văn. đồng thời giúp các em có vốn từ vựng phong phú hơn khi thể hiện bản thân.

Những bài thơ phụng sự trời in trong tập “còn chơi vơi”, xuất bản lần đầu năm 1921. cho đến phút cuối, tác giả đã mạnh dạn bộc lộ cái tôi cá nhân của mình, một cái tôi rất ngô nghê, tinh thần rất tự do. , nhận thức được tài năng và giá trị đích thực của mình, đồng thời khao khát được khẳng định giá trị của mình trước cuộc đời. vì vậy đây là 10 bài luận mẫu để phân tích bầu trời theo các em ở đây.

Bạn đang xem: Phân tích bài thơ hầu trời

lược đồ phân tích thẻ thần

ví dụ lược đồ 1

i. giới thiệu:

– trình bày bài thơ phục vụ thiên đàng

với phong cách thơ lãng mạn, phóng khoáng, ngông nghênh thể hiện tình cảm, tấm lòng nhân ái của tác giả. thơ của ông nằm giữa thời trung đại và cận đại, vì vậy tác phẩm của ông mang một vẻ đẹp và nét độc đáo khác nhau. một trong những tác phẩm độc đáo thể hiện rõ sự hào phóng của tan da là công việc phụng sự trời. tác phẩm thể hiện sự cao ngạo của tác giả đối với bầu trời, coi bầu trời là bạn của mình. chúng ta sẽ khám phá ra sự nổi da gà của quá da.

ii. nội dung:

– phân tích các bài thơ phục vụ thiên đàng

1. bắt đầu bằng cách giới thiệu câu chuyện:

  • câu chuyện cứ thế trôi qua, một khoảnh khắc êm đềm và lặng lẽ
  • câu chuyện kể về ước mơ được đến vương quốc cổ tích của tác giả, thể hiện tâm trạng và cảm xúc của một thi nhân
  • tâm trạng nửa mơ nửa thực của nhà thơ

2. nhà thơ đọc thơ cho trời và các nàng tiên

  • đọc thơ một cách say mê
  • nhà thơ kể lại cuộc đời và công việc của mình
  • giọng văn hóm hỉnh và ngô nghê của nhà thơ

3. thái độ của người nghe:

  • ông trời đã tỏ ra vô cùng ngưỡng mộ và khen ngợi nhà thơ
  • các nàng tiên khi nghe bài thơ đã rất xúc động và vui mừng

4. các nhà thơ nói với thiên đường:

  • khẳng định cái tôi của mình
  • cuộc sống nghèo khó nhưng thanh nhàn của tác giả
  • cảm hứng nghệ thuật bao trùm toàn bộ bài thơ
  • ii. kết luận:

    – phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ phụng sự trời

    ví dụ:

    thiên đàng là một bài thơ cho thấy sự lém lỉnh, dí dỏm và vui tươi của tác giả đã làm cho bài thơ trở nên độc đáo và thú vị hơn.

    mẫu 2

    1. mở đầu bài viết phân tích về các vị thần

    – lời giới thiệu của tác giả tan da và bài thơ phụng sự thiên đàng

    • Tân Đa (1889-1939), tên thật là Nguyễn Khuyết hiểu, sinh ra tại thôn khe thương, xã sơn đà (ba vi, hà tay), là nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng ở Việt Nam. văn học đầu thế kỉ 20.
    • khoảng trời của tập “còn chơi vơi” thể hiện cái tôi ngớ ngẩn của tác giả, cũng như xót thương cho hoàn cảnh của chính mình nói riêng và văn nghệ sĩ đương thời nói chung.

    – dẫn đến vấn đề.

    2. nội dung bài viết phân tích các vị thần

    a) luận điểm 1: các nhà thơ đọc thơ cho bầu trời và các nàng tiên

    – thái độ của nhà thơ khi đọc thơ và cách anh ta nói về tác phẩm của mình:

    • nhà thơ đọc rất thích thú, vui vẻ và có phần tự hào: “đọc hết bài văn xuôi / từ hết lý thuyết đến tác phẩm”
    • nhà thơ kể cụ thể. , thông tin chi tiết về các tác phẩm của cô: “hai tập truyện ngôn tình lý thuyết / hai tập tình yêu và lãng mạn, văn học / cổ tích, giấc mơ và tiểu thuyết…”
    • giọng văn: đa dạng, dí dỏm, tự mãn pha chút tự hào.

    = & gt; đoạn thơ cho thấy nhà thơ ý thức rõ tài năng thơ ca của mình và cũng là một người táo bạo, dám đề cao cái “tôi” cá nhân của mình. anh cũng rất “dại dột” khi coi trời bằng vung để khẳng định tài năng của mình. đây là khát vọng chân thành trong tâm hồn thi nhân.

    – Thái độ của người nghe: khâm phục tài năng thơ ca của tác giả.

    • thái độ bầu trời: khen ngợi rất nhiệt tình: văn thật tuyệt, văn xuôi rất hiếm, văn như sao băng …
    • thái độ thần tiên: xúc động, khâm phục và trân trọng .. . mở lòng, thè lưỡi …

    = & gt; toàn bộ bài thơ đầy lãng mạn và thể hiện ý tưởng thoát ly cuộc sống.

    b) luận điểm 2: các nhà thơ nói với trời:

    – nhà thơ kể hoàn cảnh của mình = & gt; Trong văn học, thể hiện tên tuổi của mình trong một vở kịch là một cách khẳng định cái tôi cá nhân của bạn.

    – nhà thơ nói về cuộc đời: đó là cuộc sống nghèo khổ, thiếu thốn, thân phận bị nhà văn coi rẻ, khinh bỉ. Ở trần gian, anh không tìm được tri kỷ nên phải lên thiên đường để thỏa nỗi lòng.

    = & gt; đó cũng là thực trạng cuộc sống của người nghệ sĩ trong xã hội bấy giờ, cuộc sống khốn khó không có chân đứng, thân phận bị rẻ rúng, ăn không đủ no.

    = & gt; Qua bài thơ, tác giả đã cho người đọc thấy một bức tranh chân thực và xúc động về cuộc đời của chính mình và cuộc đời của nhiều nhà văn, nhà thơ khác.

    = & gt; cảm hứng hiện thực tràn ngập bài thơ này.

    c) luận điểm 3: trách nhiệm và khát vọng của nhà thơ

    + sứ mệnh được thượng đế giao: mở rộng thiên đường.

    = & gt; nhiệm vụ trên chứng tỏ rằng sự cho đi là lãng mạn, không hoàn toàn tách rời khỏi cuộc sống. anh ấy vẫn nhận thức được nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối với cuộc sống để có được cuộc sống hạnh phúc hơn.

    + nhà thơ khao khát mang được sức nặng của cuộc đời – & gt; đó cũng là một cách khẳng định bản thân đi trước thời đại.

    = & gt; vì vậy, có thể nói cảm hứng lãng mạn và cảm hứng hiện thực hòa quyện chặt chẽ trong thơ tan da diết.

    3. kết bài phân tích bài thơ Gần trời

    – nêu tóm tắt giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ

    – đưa ra nhận xét và cảm nhận của bạn

    – mở rộng suy nghĩ vấn đề và suy nghĩ về mỗi cá nhân

    phân tích tử vi tốt nhất

    nếu cái tôi của xuan dieu “là một, là riêng, là trước” thì cái tôi của tân da là cái tôi lãng mạn, ngang tàng, phóng khoáng, thể hiện khát vọng khẳng định mình trong cuộc sống. mong ước đó đã được ông thể hiện trong bài thơ “tôi tớ của trời”. đây là bài thơ in trong tập “chơi” xuất bản năm 1921.

    Chúng ta đã từng biết đến ước muốn được lên thiên đàng của tan da diết qua bài thơ “Tỏ lòng sang hèn”. chốn bồng lai, chốn bồng lai tiên cảnh trở thành đề tài quen thuộc của văn học trung đại. dường như thi sĩ tan da không tìm được người tri kỷ với mình trong lĩnh vực thơ ca ở hạ giới nên đành lặn lội tìm kiếm tri kỷ trên thiên đàng. thơ ông như bình mới rượu cũ với những đổi mới về hình thức, thủ pháp nghệ thuật và ông được coi là “cầu nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại”. “phụng mệnh trời” được viết dưới dạng văn tự sự, kể lại việc nhà thơ tưởng tượng lên trời gặp tiên nữ để đọc thơ:

    “Đêm qua không biết có phải mình đang hoảng loạn hay không, không phải đang nằm mơ, thật sự rất tuyệt! Quá tuyệt! Thật quá! Thật là thiên đường, hạnh phúc đến kỳ lạ.”

    câu chuyện mà nhà thơ kể xảy ra trong một khoảng thời gian tĩnh lặng của “đêm qua”, không gian vắng lặng nhưng “không biết có phải hay không”, nửa thực nửa ngờ. Chuyện đi đến vương quốc cổ tích của tan da có thể khiến nhiều người không tin vào độ chính xác của nó, nhưng nhà thơ khẳng định đó là sự thật, không “mơ”, không “loạn”. thông điệp “có thật” một lần nữa chứng minh rằng câu chuyện mà tác giả sắp kể không phải là hư cấu. tan da gặp tiên và có cảm giác “sướng lạ” khó tả. tình cảm ấy đã làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện mà nhà thơ sắp kể. tan da khôn khi “đột nhiên vào câu đầu, còn định nghi vấn khách quan, nghi theo khoa học, để ba câu cuối đều là câu nói, ức hiếp người ta” (xuan dieu). Thực tế, cách mở đầu câu chuyện của nhà thơ rất hấp dẫn và độc đáo, tạo được sự chú ý và tò mò ở người đọc.

    chi tiết cách gọi của nó bởi các vì sao. tác giả nằm một mình canh ba dậy đun nước uống, rồi đọc. nhưng “chơi ngâm thơ cũng chán, chơi với trăng”, anh bất ngờ gặp hai nàng tiên và nói:

    “bầu trời lắng nghe thế giới ngân nga âm thanh của cả non sông và dải ngân hà, bầu trời lắng nghe, bầu trời mắng hay đọc, bầu trời lắng nghe”.

    đó cũng là lý do vì sao trời xuống gọi tan da đọc trời. do đó, ước nguyện xa xưa của tan da đã được thực hiện. chàng theo chân hai nàng tiên “lên mây” vừa thấy “cánh cửa son đỏ rực, rực rỡ” và nhìn thấy cánh cửa bí ẩn lên thiên đường. các tiên nữ ngồi im, trời “sắc phong cho các văn nhân đọc và nghe”.

    nhà thơ đã có cơ hội thể hiện niềm đam mê văn học của mình:

    “Tôi đọc tất cả văn vần, tất cả lý thuyết và trò chơi. Khi tôi đọc nó với niềm tự hào, tôi thích nó hơn.

    và bày tỏ lòng biết ơn đối với lòng hiếu khách của trời khi thần truyền lệnh cho các văn nhân ngồi vào một chiếc ghế dễ dàng và thưởng thức trà của trời thể hiện tất cả tài năng của họ. văn xuôi và văn vần của than da làm cho thiên đàng thú vị, “làm tốt lắm”. điều này được thể hiện qua hành động “tim như mở, cơ thè lưỡi”, tiên nữ trên trời hóa thiên nga, hai thiếu nữ ở thành song sinh, ngọc nữ nhỏ của mẹ vua phương tây, hay cô hầu gái. quá “nghe nói”. để lắng nghe và cổ vũ. tan da không dám nói dối trời khi nói tên các tập thơ của mình như “khói tình”, “khối tình”, “thần tiền”, “mộng”, “tháp gương”, “sáu năm “. ông già “,” người phụ nữ Trung Quốc “,” tám tuổi “, tổng cộng có mười tác phẩm lớn bao gồm” văn học lý luận “,” văn học chơi “,” văn học đời thực “,” văn học viễn tưởng “,” văn học dịch “. Không chỉ thể hiện ở một thể loại văn mà được thể hiện phong phú ở nhiều thể loại khác nhau, chỉ trong văn chương mới thể hiện được hết những khát khao, đam mê, khao khát của mình, đồng thời tác giả cũng bày tỏ lòng biết ơn trời đất của mình qua câu thơ. :

    “Ơn trời bạn vẫn có thể bán nó, bạn có biết bạn đã in bao nhiêu thập kỷ không?”

    Không biết in bao nhiêu tác phẩm để bán, tan da nhận được lời mời của các tiên nữ: “Cô đến đây bán chợ trời”. chắc chắn văn chương của bạn sẽ trở thành món hàng đắt giá ở chợ trời chứ không phải “rẻ như rác” trên đời.

    thưởng thức tài năng của tan da, trời và tiên nữ khen ngợi:

    “trời khen ông:” văn chương tuyệt vời! văn chương quá tuyệt vời! chắc ít có nhà văn nào đẹp như thiên thạch! bầu không khí mạnh mẽ như những đám mây chuyển động! êm đềm như gió, thanh khiết như sương !, lạnh như tuyết! ”

    Nhà thơ đã không ngần ngại mượn lời trời để khơi nguồn thơ của mình. cái tôi của anh ấy là một cái tôi dũng cảm và kiêu hãnh. tuy giọng điệu và ca từ có chút hài hước và cao ngạo nhưng trên hết, anh ý thức được tài năng của mình và rất tự tin thể hiện cái tôi của mình. Cách so sánh thơ của tan da “đẹp như sao băng”, “hùng vỹ như đám mây lay động”, “mềm mại như gió thoảng”, “trong vắt như sương”, “lạnh như tuyết” đã cho thấy thơ anh đẹp từ những ngôn từ . đến từ ngữ khí chất.

    Ý thức rõ ràng về tài năng của mình, Tản Đà đã mạnh dạn trả lời câu hỏi về tên tuổi và nơi ở của Trời:

    “Vâng, lạy chúa tôi xin nói tên tôi là người hiếu thảo, họ là nguyenqua ở châu á và đất, sông đà và núi ở nam việt nam.”

    những lời mở đầu của anh rất rõ ràng, minh bạch nhưng cũng rất táo bạo khi bị “đày xuống trần gian vì tội ngu ngốc”. tân da tự hào là một người con của đất nước nam việt nam có quê hương ở châu á và trái đất. do đó, ông cũng giới thiệu riêng về lý do tại sao ông có bút danh “tan da” vì quê hương của ông là nơi gặp nhau của núi tan và sông Đà. ông đã kết hợp tên núi và tên sông để lấy nó làm bút danh. từ đó thể hiện tình yêu sâu sắc của nhà thơ đối với đất nước của mình:

    “sông đà, núi non trùng điệp, nên trên đời ai cũng vậy, thủy chung son sắt với hai khối cao bằng ngọc trắng và một cành mai.”

    nhưng trời không “đầy đủ” việc rải da xuống đất, đúng hơn là trời sai chàng đi làm việc “thiên lương của loài người”. lương trời ở mỗi người tùy thuộc vào sự tu luyện của chính mình, ông trời đã giao cho anh ta nhiệm vụ bằng cách nào đó làm cho lương thực trời sinh của con người sinh sôi trong thế giới trần thế. Đó cũng là trách nhiệm và trách nhiệm của các nhà văn, nhà thơ vì văn học là “vũ khí cao quý và hữu hiệu mà chúng ta có, vừa để tố cáo, thay đổi một thế giới dối trá, độc ác, đồng thời làm cho lòng người trong sáng và phong phú hơn.” ( màu xanh lam).

    biết rằng đó là nghĩa vụ của người viết, nhưng Đa cũng thẳng thắn trình bày những nỗi khổ của bản thân khi kiếm sống bằng nghề này:

    “chết tiệt, cảnh con mình trên trần gian nghèo thật, ngày xưa đâu có được ơn trời, vốn học nhiều, còn có cái bụng học văn. Người ta làm giấy thuê cho người ta”. để in người cho thuê cửa hàng bán hàng rong. văn chương rẻ tiền. rất khó kiếm lãi thực. kiếm ít thời gian, dành nhiều thời gian làm việc quanh năm bạn không kham nổi. lo ăn, mặc mỗi ngày đến trường, ngày càng già đi, từ trong ra ngoài cũng yếu đi. lại cử tôi đi làm một công việc nặng nhọc mà tôi biết làm nhưng tôi không dám tiếp tục. “

    Nhà thơ đã chân thành bày tỏ những nỗi niềm, khó khăn của con người nói chung và con người nói riêng trong cuộc sống trần gian để trời thấu hiểu họ. cuộc đời của các nhà văn, nhà thơ không giàu sang phú quý mà rất nghèo khổ, thiếu thốn. văn chương là một nghề để kiếm sống, nhưng rẻ như rác, không có lợi nhuận. vả lại, tiền “kiếm được” thì ít mà tiêu thì nhiều, cả năm tiêu không hết. cuộc sống đã nghèo, nay lại càng nghèo hơn. đó cũng là thực tế của xã hội chúng ta lúc bấy giờ. chính vì lẽ đó mà tan da muốn lên thiên đường để tỏ tình trên thiên đàng, tìm tiếng nói trong thế giới thần tiên ấy. cuộc sống của nhà thơ phải xoay quanh việc lo cơm áo, gạo tiền, “học càng ngày càng già” mà ông đã được giao phó “một công việc quá nặng nhọc” mà tan da cũng chưa chắc đã làm được. không phải “mà là dám tiếp tục”.

    Qua những lời cay đắng của nhà thơ, Trời đã khuyên bảo và an ủi rằng:

    “rằng: Ta không nói trời đã biết đất, tuy trời cao, ta chỉ có thể trở về mà làm ăn, không ngại sương gió!”

    lời khuyên của thần rất sâu sắc và thấm thía. những cảm xúc của các tầng trời được biết đến và “được hiểu”. người nghệ sĩ chân chính cần biết chấp nhận và vượt qua thực tế phũ phàng, đồng thời họ cũng phải thực hiện nhiệm vụ làm cho con người sinh sôi nảy nở. đó cũng là nghĩa vụ cao cả của các văn nhân, thi sĩ thiên hạ.

    đoạn thơ kết thúc cũng là lúc câu chuyện khép lại bên trời. Trời đã cử một con bò cái khiên để chế tạo một cỗ xe để đưa Da trở lại thế giới nether. Trở về hạ giới, lòng nhà thơ chất chứa bao nỗi ân hận. tác giả mong muốn mình có thể lên thiên đường mỗi đêm để bày tỏ tất cả những nỗi niềm thầm kín của mình.

    “một năm, ba trăm sáu mươi đêm, làm sao họ có thể lên thiên đàng mỗi đêm?”

    bài thơ “tôi tớ của trời” đã thể hiện được cái tôi của người da rám nắng và khát vọng khẳng định tài năng của mình. tác phẩm này được viết theo thể thức khá tự do, với giọng văn dí dỏm, hóm hỉnh và lời lẽ giản dị. “phụng mệnh thiên hạ” đã thể hiện rõ tư tưởng của tan da về văn học trong thời kỳ quá độ. anh ấy thực sự xứng đáng với danh hiệu “người đàn ông của hai thế kỷ” (hoai thanh).

    phân tích bài thơ tan da phụng mệnh trời bằng mấy chữ

    quét bầu trời – mẫu 1

    Khi đất nước này còn đang yên ả vào những năm đầu thế kỷ 20, bỗng người ta thấy một nhà thơ đã khiến cả giới văn học náo động. ông được gọi là người đã “vượt qua hai thế kỷ”, “cầu nối giữa hai thế kỷ”, người đặt những nền móng đầu tiên của nền thơ mới. Anh ấy là da rám nắng. cái mà ông mang đến là một hồn thơ lãng mạn, bay bổng nhưng vẫn đầy trắc ẩn, phong cách tài hoa, độc đáo nhưng vẫn giữ được cốt cách của thơ ca dân tộc. một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của cái tôi trong bài thơ ấy là phụng mệnh trời. bài thơ in trong tập vẫn tái bản xuất bản năm 1921 đã gây ấn tượng đặc biệt và khẳng định tài năng của nhà thơ.

    được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt khá tự do, phóng khoáng, đậm chất tự sự với các yếu tố cốt truyện, tình huống, nhân vật, lời kể … đã tạo nên một kết cấu rất đặc biệt của tác phẩm này. là một câu chuyện “đầy tớ của trời” mà nhân vật chính là tác giả – một nhà thơ, hoàn toàn hư cấu, tưởng tượng, nhưng được kể với giọng điệu say mê, tự nhiên và rất đỗi bình dị. Kết hợp cảm hứng lãng mạn và hiện thực, câu chuyện có thể được tóm tắt qua ba sự việc theo trình tự thời gian: giới thiệu lí do lên trời đọc thơ, cảnh đọc thơ hào hứng của tác giả và thái độ của tác giả. khen ngợi, tán thưởng của các vị thần và các nàng tiên, và một cuộc chia tay dài và đầy xúc động.

    Tôi chắc rằng nhiều người vẫn quá ấn tượng với cách nhà thơ mở đầu câu chuyện này:

    “tối hôm qua, không biết có phải hay không, không phải là hoảng sợ, ta không có nằm mơ. thật cảm động! thật tuyệt! thật là một thân!

    Đây chỉ là một thông báo về sự cố “hạnh phúc phi thường” đêm qua mà nhiều người trong chúng ta cho rằng đó là một lời nói dối. nhưng cách nói lái của nhà thơ khiến người ta tin rằng đó là điều có thật, nhưng tự nhiên, không gượng ép. ông cũng đặt câu hỏi có phải về mặt khoa học hay không, nhưng vẫn tuyên bố rằng: không hoảng sợ, không mơ mộng và có bốn sự thật khiến người ta phải tin. cách mở đầu câu chuyện thật khéo léo và duyên dáng khiến cho chính thi sĩ xuân sắc cũng phải trầm trồ thán phục. những tình huống câu chuyện độc đáo và hấp dẫn được diễn ra.

    Xem thêm: Soạn văn lớp 8 bài trong lòng mẹ siêu ngắn

    Ngay sau đó, nhà thơ đã đưa ra một lời giải thích kỳ lạ về lý do tại sao ông được thăng hạng nhất. trong đêm trăng khuya, canh ba, nằm một mình, tác giả ngồi đun nước uống và ngâm thơ. Tôi chợt thấy hai nàng tiên giáng trần, vì tiếng ngâm thơ vang vọng cả thiên hạ khiến ông trời không ngủ được nên ông trời mời tôi lên đọc cho nghe. Sự thật, có vẻ khó tin, nhưng cách giải thích tài tình và tự nhiên như vậy khiến người đọc thấy thú vị, thường ngày và cũng đáng tin. câu chuyện vì thế mà khơi dậy trí tò mò và mưu mô. khi đó, đối diện với bầu trời, nhà thơ sẽ thể hiện mình như thế nào?

    được tiếp đón nồng hậu và long trọng, ngồi trên ghế bành như mây tuyết, uống trà thiên hạ và ca hát, thi sĩ bước vào cuộc thi tài, trong đó khán giả không ai khác chính là trời và tiên nữ. . Chỉ nghĩ đến thôi, đó là một câu chuyện hư cấu thú vị và độc đáo chưa từng thấy. Leo lên trời và lên trời không phải là một đề tài xa lạ, ngay cả với bản thân thi sĩ cũng da diết, nhưng lên đó ngâm thơ, đọc thơ thì chắc chắn chỉ có mình anh. Chính vì lẽ đó, với lối viết lãng mạn, nhà thơ đã tái hiện lại cảnh đọc thơ cho tiên nữ nghe đầy xúc động và tự hào:

    quét bầu trời – mẫu 2

    Kịch bản tan da, bản lề mở đầu và kết thúc giữa hai thời kỳ của văn học Việt Nam. ông đã để lại một sự nghiệp sáng tác đồ sộ và phong phú với nhiều thể loại. các tác phẩm của anh thể hiện cái tôi lãng mạn, bay bổng và biết đón nhận. Đây là những yếu tố đã tạo nên ấn tượng riêng cho thơ Văn Đa. trời có thể coi là một trong những tác phẩm hay nhất, kết tinh giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm tân da.

    cách mở đầu ngày làm việc rất đặc biệt:

    “Tối hôm qua không biết có phải hay không hoảng sợ, ta thật sự không có nằm mơ! thực sự tuyệt vời! thật là một cơ thể tuyệt vời! thật tuyệt vời khi đứng đầu. “

    Câu đầu tiên là một câu hỏi rất chân thực, không biết đêm qua là thật hay chỉ là một câu chuyện ngụ ngôn. hãy tự hỏi mình câu đó, rồi để câu 2, 3, 4 tự trả lời: tan da xác giấc mộng đêm qua bằng cách phủ định liên tiếp, từ “thực” lặp lại bốn lần: hồn thực. . đây là cách tan dẫn người đọc đến thế giới trong mơ, đến giấc mơ đêm qua.

    Trong đêm trăng thanh gió mát, giữa canh ba vắng lặng, đang mải miết uống nước, ngâm thơ thì bỗng thấy hai nàng tiên xuống đón mình về trời. câu chuyện tưởng như hư cấu hoàn toàn, khó tin nhưng qua những lời giải thích dí dỏm và hài hước, tan da đã biến lý do ấy thành sự thật, đồng thời khẳng định tài năng của chính mình: “trời nghe ai ngâm thế gian / tiếng muôn phương. thế giới ”. sông ngân vang / lộ trời, trời mắng / có đọc nhiều, trời nghe ”.

    Trước sự chào đón nồng nhiệt và nhiệt tình từ trời, nhà thơ đã tỏ ra hào hứng:

    “đọc tất cả các vần trong văn xuôi, hoàn thành lý thuyết và chơi”

    và người ta đã tuyên bố, ca ngợi tài năng văn chương của chính mình “văn chương là tốt”, “văn chương phong phú về nhiều mặt.” ông khẳng định tài năng của mình không chỉ về nội dung, nghệ thuật mà còn ở văn học đồ sộ về số lượng, phong phú về thể loại. Trước tài năng của tan da, ai nấy đều cảm thấy vui mừng khôn xiết: ông trời “đắc ý”, “buồn cười”. các nàng tiên “mở lòng” (vui sướng), “lè lưỡi” (ngưỡng mộ), “nháy lông mày” (nhìn chăm chú), “lắng nghe” (chăm chú), “chắp tay” (đánh giá cao), khao khát được chiếm hữu. những bài thơ đó và họ đã tranh luận với nhau:

    – “Tôi đang đem nó ra chợ trời bán”

    những lời ca tụng, ngợi ca của các tiên nữ một lần nữa khẳng định tài năng của tan da:

    “Nhờ lối viết đẹp như sao băng, khí thế mạnh mẽ như mây chuyển động! Bình tĩnh như gió, trong như sương, mặc như mưa, lạnh như tuyết.”

    Hàng loạt hình ảnh so sánh đẹp nhất, trong sáng nhất: sao băng, mây chuyển động, pha lê như sương, đầm lầy như mưa, lạnh như tuyết đã miêu tả những vẻ đẹp đa dạng và phong phú của thơ ca, văn học. đồng thời thể hiện sự say mê, ngưỡng mộ của ông đối với nhà thơ. niềm đam mê văn chương của anh đã xóa nhòa khoảng cách giữa người phàm trần và những người ở phương trời. dường như khi nói đến nghệ thuật, chính cái đẹp và cái đẹp là sợi dây kết nối tâm hồn người nghệ sĩ, giữa văn học không có người của trời với đất, không có bề trên cũng không có kẻ hầu người hạ mà chỉ có mối quan hệ giữa tác giả và các người đọc.

    câu thơ đã cho người đọc thấy được một con người da diết, anh ta là một con người hào hoa, tự trọng với chính tài năng của mình, anh ta ý thức được giá trị của bản thân. nhưng đồng thời, chuyến bay đến xứ sở thần tiên này cũng thể hiện sự cô đơn, xa lánh cuộc đời của anh. cô khao khát tìm được một người có ba người để có thể hiểu được mọi tâm tư và tình cảm của anh. đây cũng là nguyện vọng chung của các nghệ sĩ đương đại.

    Sau khi trổ tài với mọi người, Tản Đà cũng đã chia sẻ nỗi niềm của mình với trời tiên: “Trời ơi, cảnh mình nghèo thật / Trời còn chưa đất đã đành. cái mà anh ta có chỉ là “cái bụng văn chương” nhưng anh ta bị ép bằng nhiều cách: thuê giấy, mực, in ấn, thuê tiệm, giá thành văn chương rẻ mạt, “lãi thật khó lắm”. làm ăn thôi chưa đủ. ”câu thơ chứa đầy cảm xúc tiếc nuối và nghi ngờ về sứ mệnh của người viết. Rồi sau đó, trời đã động viên rất chân thành:“ hãy về làm ăn / xin đừng sợ sương ”. những lời động viên cũng là lời an ủi ông và những người cầm bút cùng thời. Bài thơ này một lần nữa thể hiện sự “ngông” chắc và tự hào về giá trị của bản thân, đồng thời cũng có tinh thần trách nhiệm với cuộc sống.

    Bằng thể thơ bảy chữ, ngôn ngữ trong sáng, giọng điệu tự nhiên, da diết đã mạnh dạn thể hiện cái tôi của mình. đó là cái tôi: kiêu ngạo, phóng khoáng, ý thức sâu sắc về tài năng, về giá trị đích thực của mình, khao khát khẳng định giá trị của mình trước cuộc đời.

    phân tích bầu trời – mẫu 3

    tan da được coi là “người nằm ngửa hai thế kỷ”, là gạch nối giữa thơ mới và thơ cũ, đồng thời là người đặt nền móng cho thơ mới. Những đánh giá này đã khẳng định vị trí quan trọng của Tản Đà đối với nền văn học Việt Nam trong thời kỳ quá độ. là đại diện tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kỳ này, thời kỳ nền văn học dân tộc có những bước chuyển mình, bắt đầu thời kỳ hiện đại hóa nhanh chóng. hầu trời là bài thơ có nhiều điểm mới. Đoạn thơ thể hiện đậm nét cá tính sáng tạo của Tản Đà. mạch thơ mở ra theo logic của một câu chuyện với những tình tiết cụ thể, rõ ràng khiến bài thơ trở nên hấp dẫn, thuyết phục: nằm một mình, buồn nên dậy đun nước rồi ngâm thơ, cảm động trời, người đầu xuống. đặt câu hỏi và sau đó họ được đưa lên gặp trời, trời và các tiên nữ được long trọng tiếp đón, mời đọc thơ, giới thiệu về bản thân, sau đó đọc thơ và giải thích hoàn cảnh của mình với trời, được trời giải thích, khen ngợi và gửi lại cho. thế giới. nhà thơ đã chọn một cách rất độc đáo để bày tỏ cảm xúc của mình.

    câu chuyện phục vụ trời bằng trí tưởng tượng đã giúp nhà thơ khẳng định tài năng của bản thân và bộc lộ quan niệm mới về nghề văn, đồng thời thể hiện ý thức cá nhân đầy cá tính của mình. nhà thơ đã mở đầu câu chuyện của mình bằng một giọng văn dí dỏm rất hấp dẫn, bịa đặt nhưng rất tự nhiên:

    “Đêm qua, không biết có phải hay không, ta thật sự trở thành thần tiên, vui vẻ lạ thường.”

    Lý do ông trời mời phục vụ cũng rất thật và đáng tin: nằm đun nước uống, rồi ngâm thơ, chơi với trăng. và “tiếng vang vang cả sông ngân hà” khiến đất trời dậy sóng. để bạn có thể lên thiên đường.

    Cuộc gặp gỡ giữa trời và các nàng tiên được kể lại một cách chi tiết, hồn nhiên và nghe tự nhiên như thực. tác giả đã chọn lối kể chuyện dân gian để tái hiện lại câu chuyện phụng mệnh thiên hạ.

    nhà thơ tưởng tượng ra một hoàn cảnh gặp gỡ bầu trời để hiện thân. ghi rõ ràng và chính xác tên, nơi xuất xứ, quốc gia, nghề nghiệp và tên tác phẩm của họ. nhà thơ đã chọn một tình huống độc đáo: gặp trời, ngâm thơ cho trời nghe với tiên nữ, từ đó khẳng định tài năng của mình. khẳng định một cách rất tự nhiên:

    “Tự nhiên, khi tôi tự hào đọc nó, tôi thích âm thanh của trà nhất có thể. lời văn dài, hơi hay!… ”

    hãy tự khen ngợi tài năng của mình, nhưng hãy lựa chọn hình thức để trời và tiên nữ khen ngợi. đây là một phong cách ngớ ngẩn dễ thương.

    sau khi giới thiệu các tác phẩm, được phân chia rõ ràng thành các thể loại theo quan điểm của riêng bạn (văn học lý luận, văn học sân khấu, tiểu thuyết, văn học thế tục và phong cách dịch thuật), hãy đưa ra nhận xét, kèm theo lời bình từ thiên hạ “chúng ta giàu rồi, nhưng có nhiều cách ”(đa dạng về thể loại, âm điệu). nhà thơ thậm chí còn mượn lời trời để khẳng định tài năng của chính mình:

    “bầu trời lại cao vời vợi:“ văn học thật tuyệt vời, có quá ít!… ăn mặc như mưa, lạnh như tuyết! ””

    nhà thơ đã tự hào khẳng định cái tôi của mình, gắn liền với tên tuổi thật của mình. đó là thái độ khờ khạo của một kẻ hiền tài, biết quý trọng và khẳng định tài năng của mình. Trong thời đại tan da, đất nước đang mất dần chủ quyền, thể hiện mình là biểu hiện của lòng tự tôn, tự tôn dân tộc. tài tình hơn, nhà thơ còn khẳng định được phong cách ngông cuồng của mình:

    – “tên là nguyen khac hieu” bị đày xuống trần gian vì sự ngu ngốc. “

    thông qua cuộc đối thoại tưởng tượng với bầu trời, nhà thơ cũng khẳng định nghĩa vụ và trách nhiệm cao cả của mình nói riêng và của người nghệ sĩ nói chung là chăm lo cho nhân loại “lương trên trời rơi xuống”:

    trời nói: “không phải trời, ông trời định gửi cho ta một thứ này, đó là nhân gian” thần thánh “thủ công, đưa ta xuống tận thế.”

    Tạo tình huống tưởng tượng này để tự an ủi bản thân và cũng để thể hiện ý nghĩa cao cả của văn học và nhà văn.

    cũng nhân dịp này, nhà thơ đã bộc bạch những tâm sự của mình về nghề văn. Tản đà được coi là người đặt nền móng cho nền thơ mới, không chỉ bởi thơ ông mang hơi thở hiện đại của thời đại với cái tôi cá nhân ở giữa trang, mà còn vì ông là nhà thơ đầu tiên “đem lại sức sống cho cuộc sống. “văn học”. bán dạo ”, anh coi văn chương là nghề để kiếm sống. Giải thích về hoàn cảnh của mình với trời, nhà thơ đã nói rất chi tiết về nghề kiếm sống này. / p>

    đến trời, tan da mang đến một không khí mới cho văn học Việt Nam đầu thế kỷ 20. dưới hình thức một bài thơ, một câu chuyện tưởng tượng vui nhộn, hấp dẫn, nhà thơ đã khẳng định được cái tôi cá nhân của người nghệ sĩ. nhà thơ đã tự tin khẳng định tài năng của mình và bày tỏ quan điểm của mình về việc làm văn, tức là viết văn để phụng sự trời. viết hay để làm đẹp cho đời là nhiệm vụ mà ông trời đã giao cho người nghệ sĩ.

    Sáng tạo nghệ thuật độc đáo của tan da là đưa ngôn ngữ đời thường giản dị, dễ hiểu, giản dị nhưng vẫn rất gợi cảm vào thơ. ngôn ngữ thơ trong thiên hạ đã có sự thâm nhập của giọng điệu văn xuôi và ngôn ngữ bình dân. không quá khắt khe với những quy tắc, mạch cảm xúc phát triển rất tự nhiên và cái tôi cá nhân được tự do bộc lộ, bộc lộ. Cái độc đáo và thành công của bài thơ còn thể hiện ở chỗ nó tạo cớ là hoàn cảnh trời cho để khẳng định tài năng và quan niệm sống của mình. Nó là một loại ngỗng rất nghệ thuật, hài hước và đáng yêu. bài thơ cũng phác họa chân dung thi sĩ tan da theo phong cách ngô nghê độc đáo, dung tục của một nhà Nho tài tử ở thời điểm mà lương tâm cá nhân mới bắt đầu được tôn trọng và khẳng định.

    quét bầu trời – mẫu 4

    Tân da (1889 – 1939) tên khai sinh là Nguyễn Khản, ông sinh ra và lớn lên trong thời kỳ quá độ, học hành đã kết thúc, tây học mới bắt đầu nên tính cách của ông bao gồm cả học thức và tác phong. cuộc đời và sự nghiệp văn học đều mang dấu ấn của “những con người của hai thế kỷ” (hoai thanh). những năm hai mươi của thế kỷ XX, tên tuổi của tan da nổi lên như một ngôi sao sáng trên cây đàn piano, một số tác phẩm tiêu biểu của ông là: “thơ than” (1925); “giấc mơ lớn” (tự truyện – 1928); “còn chơi vơi” (thơ và văn xuôi – 1921)… thơ than da thể hiện một cái “tôi” bay bổng, lãng mạn, vừa phóng khoáng, vừa giao cảm, đó là lý do nó được giới phê bình văn học ca tụng xưa nay. “Thi nhân Việt Nam”. một bài thơ thể hiện rõ nhất phong cách tan da này là bài thơ “phụng mệnh thiên hạ”. bài thơ được in trong tập “Còn chơi”, xuất bản năm 1921, thể hiện rõ hơn cái “tôi” cá nhân hào hoa, phóng khoáng, cầu thị và khao khát khẳng định giá trị bản thân trước cuộc đời xô bồ.

    đoạn thơ “đầy tớ của trời” gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc khi nhập đề, cách dẫn dắt khá bất ngờ và thú vị, cuốn người đọc vào câu chuyện mà tác giả sắp kể:

    “Tối hôm qua, không biết có phải là sợ hãi hay không, ta không có nằm mơ, thật sự rất tuyệt! Thật sự rất tuyệt!”

    bản thân tác giả là chủ thể của giấc mơ cũng không dám khẳng định giấc mơ là thật hay không, thật hay ảo. nhưng ở những câu thơ sau với việc sử dụng ngữ điệu mạnh mẽ như để khẳng định yếu tố thực của giấc mơ. từ “thực” cũng được lặp lại bốn lần để nhấn mạnh tính chân thực của các chi tiết và hình ảnh trong mơ.

    Trong những khổ thơ sau, tác giả cho biết lý do của mình để được làm “tôi tớ của trời”:

    “Vừa nhìn đồng hồ thứ ba, tôi nằm vắt chân một mình dưới bóng đèn xanh, tôi buồn bã lên giường, ngồi đun nước, uống xong ấm nước, tôi ngồi xuống. để đọc văn .. … và thấy trời, quỳ xuống bái lạy, truyền lệnh cho tiên nữ trèo lên ghế, trải như tuyết, như mây, cho các văn nhân ngồi chơi. ” p>

    Truyện hoàn toàn hư cấu nhưng giống truyện có thật vì có đủ tình huống, không gian, thời gian của các tình tiết và tác giả là nhân vật chính. tác giả giải thích sở dĩ có phiên “hầu trời” là vì “tiếng vang cả non sông thiên hạ” khiến trời phải thức giấc. sau đó trời sai một nàng tiên gọi thi nhân và đọc văn tế lên trời. sở dĩ đến phiên “người hầu trời” mà tác giả đưa ra như một lời khẳng định rằng: may rủi được lên trời gắn liền với những khoảnh khắc thú vị trong thơ của nhà thơ.

    khi lý do được đưa ra, tác giả tiếp tục kể về quá trình hoạt động của “tôi tớ của trời”. Diễn biến câu chuyện rất tự nhiên và logic. Theo lệnh của trời, các nhà thơ đọc và ngâm thơ của họ cho trời và các nàng tiên nghe.

    “đào tạo các nhà văn đọc văn học và lắng nghe, tạ ơn chúa, xin hãy đọc.”

    Đúng với tâm huyết của mình, nhà thơ đọc với tất cả tâm huyết và cảm xúc. có lẽ chưa bao giờ nhà thơ cảm thấy xúc động và thăng hoa đến thế, hãy đọc một lần:

    “Tôi đọc hết bài văn xuôi, hết lý thuyết và cả vở kịch. Đọc xong tôi thích cả tiếng trời và giọng đọc nhất có thể”.

    thái độ của người nghe rất chú ý và mọi người đều vỗ tay, bày tỏ sự ngưỡng mộ qua cử chỉ, nét mặt và điệu bộ: “hoa tâm”; “cơ lưỡi”; “vị nữ ngày nào cũng cau mày”; “song thanh, tiều ngọc đứng” và cuối mỗi bài hát, mọi người đồng loạt vỗ tay. nhà thơ còn nhắc đến một số tập thơ của mình như: “khối tình”, “tháp gương”, “lên sáu”… ông nhận được sự ngưỡng mộ, thần bảo nhà thơ: “Ta đây lấy. chợ bán trời “.

    phân tích bài thơ về bầu trời đầy đủ nhất

    quét bầu trời – mẫu 1

    tan da (1889 – 1939) là người có lối sống và sự nghiệp văn học được ghi dấu bởi “người của hai thế kỷ”. những năm 1920, tan da được so sánh như một ngôi sao sáng trong thơ ca và văn học Việt Nam, với những tác phẩm tiêu biểu như: “hơn da thơ” (1925); “giấc mơ lớn” (tự truyện – 1928); “còn chơi vơi” (thơ và văn xuôi – 1921) … hồn thơ của than da thể hiện một cái “tôi” bay bổng, lãng mạn, vừa phóng khoáng, vừa giao cảm. hầu gái của trời là một trong những bài thơ tiêu biểu của tuyển tập “tĩnh vật” thể hiện rõ hơn tâm hồn phóng khoáng, đôi khi dại khờ, đồng thời cũng giúp khẳng định lòng tự trọng trước cuộc đời da diết.

    cách nhập đề của “thợ săn trời” cũng rất độc đáo, gây ấn tượng mạnh với người đọc bởi cách nhập đề, đưa họ vào thế giới thơ một cách hấp dẫn. bằng những câu thơ, thì thầm vào lòng như đang kể cho người đọc nghe một câu chuyện như vừa mới xảy ra, câu chuyện đó bắt đầu từ một giấc mơ mà tác giả không thể biết được là thực hay mơ, thực hay ảo. sự tương phản nảy sinh khi bốn từ “thực” được sử dụng trong hai câu, sự miêu tả của tác giả không phải là mơ mà thực ra là một giấc mơ, vậy tại sao lại có sự mâu thuẫn như vậy? nhưng dẫu sao, nó vẫn mang lại niềm vui và hạnh phúc cho chính tác giả.

    “Tối hôm qua, không biết có phải là sợ hãi hay không, ta không có nằm mơ, thật sự rất tuyệt! Thật sự rất tuyệt!”

    Trong những khổ thơ sau, tác giả kể lý do mình trở thành “đầy tớ của trời”, bằng những câu thơ đầy sức mạnh và bằng ngòi bút của mình, anh ấy đã vẽ nên một câu chuyện giống như câu chuyện vừa xảy ra:

    “khi xem đến canh ba, tôi đứng khoanh chân một mình dưới bóng đèn xanh, buồn, ngồi đun nồi, uống ấm, ngồi thiền …

    Khi ta vào xem trời, rơi xuống bái trời, tiên nữ dẫn ta nâng một cái ghế bành như mây tuyết, bảo các văn nhân ngồi xuống chơi. “

    không gian và thời gian của truyện tuy là mộng nhưng rất rõ ràng, tác giả giải thích sở dĩ có “bầu trời hầu” là bởi vì “tiếng ngân hà vang vọng” khiến cho bầu trời mất hút. giấc mơ. . sau đó trời sai một nàng tiên gọi thi nhân và đọc văn tế lên trời. sở dĩ đến phiên “hầu hạ trời” mà tác giả đưa ra như một lời khẳng định rằng: may mắn được trời ban cho là do những phút cao hứng trong thơ của thi nhân.

    câu chuyện về phiên “người hầu của trời” trôi qua rất tự nhiên và logic, như thể chính tác giả vừa trở về từ nơi ấy: “theo mệnh lệnh của trời”, nhà thơ đã đọc cho anh ta cái văn chương và nhân tính của anh ta. và các tiên nữ lắng nghe.

    “đào tạo các nhà văn đọc văn học và lắng nghe, tạ ơn chúa, xin hãy đọc.”

    với sự hào hứng và thích thú của mình, sự say mê trong giọng đọc thơ, cũng hàm ý niềm say mê trong văn chương đã khiến tác giả rất tự tin, thể hiện được khát vọng và đam mê của tác giả. và qua những câu thơ, bạn cũng có thể thấy tài năng của anh ấy khi biết nhiều thể loại:

    “Tôi đọc tất cả văn vần, tất cả lý thuyết và trò chơi. Khi tôi đọc nó với niềm tự hào, tôi thích nó hơn.

    mọi người sau khi đọc thơ của tan da đều rất thích thú, ai cũng bày tỏ sự vui mừng và cảm ơn, thậm chí có chúa cũng phải thốt lên những lời khen ngợi, nhưng nghe xong lại cảm thấy vui và hạnh phúc. .

    Thái độ của người nghe được thể hiện qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ: “tấm lòng như nở rộ”; “cơ lưỡi”; “vị nữ ngày nào cũng cau mày”; “song thanh, tiều ngọc đứng” và cuối mỗi bài hát, mọi người đồng loạt vỗ tay. nhà thơ còn nhắc đến hàng loạt bài thơ của mình như: “khói hương tình”, “đài gương”, “sáu năm” … họ nhận được sự ngưỡng mộ, thần bảo nhà thơ:

    “anh ấy mang nó đến đây để bán ở chợ trời.”

    Câu thơ sau đây thể hiện rõ ràng ý thức cao cả của tác giả về cái “tôi” cá nhân:

    “ông trời tốt cho ngươi: văn chương tuyệt thế! văn trần hay như vậy, hẳn là có mấy văn nhân đẹp như sao băng! khí thế cường đại như mây chuyển động! Thanh tĩnh như gió thoảng, thanh khiết như sương!” lạnh như tuyết! “

    những câu thơ giúp thể hiện cái “tôi” phóng khoáng, tác giả đã cố ý mượn lời trời cho để khơi gợi ý thơ của mình. Điều đó không chỉ chứng tỏ Tản Đà ý thức rõ tài năng văn chương kiệt xuất của mình mà còn khẳng định chính Tản Đà đã mở đầu một cuộc cách mạng về thơ ca, đúng với danh xưng “người đàn ông của hai thế kỷ” mà Hoài Thanh gọi. Tác giả đã so sánh cái hay cái đẹp trong thơ Tản Đà với cái đẹp tuyệt vời của các hiện tượng, sự vật trong vũ trụ như sao băng, mây, gió, sương, tuyết, v.v. Cũng có thể thấy thái độ của tác giả rất tự hào về tài năng văn chương của mình. theo yêu cầu của trời, nhà thơ tuyên bố tên và trạng thái của mình:

    “- vâng, tạ ơn trời đất, con xin nói rằng con tên là hiếu thảo, họ là nguyenqua ở châu á về thế giới, sông đà, núi non, nam việt nam”

    trời sinh nghi hồi lâu rồi sai thần đèn kiểm tra lại. thần đèn tìm kiếm cuốn sách và báo cáo:

    “- sinh ra với cái tên nguyễn khốc bá đạo bị đày xuống trần gian vì sự ngu ngốc.”

    “- trên trời, dưới đất tôi không có nghèo thật … trời sai tôi đi làm những công việc nặng nhọc mà tôi biết làm nhưng dám làm theo”

    Khi ông trời hỏi hắn, sau một câu trả lời, hắn cũng tiết lộ một điều: nguyên lai, tán nhân ở hạ giới chỉ là do ngu xuẩn mà ra. bài thơ tái hiện một bức tranh hiện thực được vẽ bằng nét vẽ chân thực, tỉ mỉ và rất cụ thể, phản ánh chân thực cuộc sống cơ cực của tầng lớp văn nghệ sĩ và tình cảnh hỗn loạn của thị trường văn học thời bấy giờ. cảm xúc trong đoạn thơ khi đọc bài thơ lên ​​trời càng rạo rực bao nhiêu thì đoạn văn này càng thể hiện tâm trạng đáng thương và chua xót bấy nhiêu. ước mơ “được hầu trời” như thể hiện khát vọng thể hiện tài năng của nhà thơ. Dường như ông trời hiểu hoàn cảnh của nhà thơ và khuyên nhủ:

    “rằng: Tôi không nói trời biết đất biết trời cao đất rộng biết hết, cứ yên tâm làm ăn, đừng sợ sương”

    Lời khuyên của ông trời tuy ngắn gọn nhưng lại vô cùng quý giá. cuộc chia tay giữa trời và tiên nữ mà tác giả vẫn còn lưu luyến.

    “hai hàng giọt sương riêng rẽ hướng mặt đất ngàn dặm, để trời ngự, vẽ tiên nữ giáng trần”

    Dù đã thức dậy sau giấc ngủ, tôi vẫn tiếc vì một năm có bao nhiêu ngày, may ra chỉ có 1 đêm hầu hạ ông trời. điều này càng chứng tỏ mong muốn của tôi sử dụng thơ và niềm đam mê của tôi để được mọi người và những người đánh giá cao nó biết đến.

    “một năm ba trăm sáu mươi đêm, làm sao bạn có thể lên thiên đàng mỗi đêm?”

    Từ một câu chuyện có vẻ sai sự thật, “đầy tớ của bầu trời” đã phản ánh rõ nét tính cách của tan da, đã bộc lộ một cách táo bạo cái “tôi” cá nhân của mình, một cái “tôi” ngốc nghếch và phóng khoáng, thiếu thốn. qua đó tác giả cũng nhận thức rõ về tài năng của mình, dám làm cho tài năng văn học của mình được nhiều người biết đến. bài thơ “phụng mệnh trời” là một bài thơ hay và độc đáo, thể hiện tính chất giao thời giữa cái mới và cái cũ trong nghệ thuật thơ tan da. phong trào thơ mới.

    quét bầu trời – mẫu 2

    “quá da người của hai thế kỷ”. toàn bộ cuộc đời, lối sống và sự nghiệp văn học của ông mang đậm dấu ấn của hai thời đại: trung đại – cận đại. Ông sinh ra trong một gia đình quan lại thời phong kiến, giữa thời đông tây kim cổ, Hán học ngày càng sa sút, tây học mới bắt đầu nên nhà thơ không theo nghiệp văn thơ làm quan nữa mà thay vào đó là sự nghiệp làm quan của mình. sống sáng tác thơ và viết báo, viết văn. thơ của ông có thể được xem như một dấu gạch ngang giữa hai thời đại. trong đó nổi bật là bài thơ “servo del cielo” thể hiện cái tôi cá nhân buông thả, tự do khẳng định mình bằng cảm hứng lãng mạn nhưng không thoát ly hiện thực xã hội. không giống như các nhà thơ thời trung đại sử dụng thể thơ cổ như: bảy tiếng tám lần, bảy tiếng bốn thất tuyệt, lục bát hay song thất lục bát nhà thơ sử dụng bảy dạng động từ tự do không ràng buộc. mạch cảm xúc được bộc lộ rất thoải mái, xuyên suốt toàn bộ bài hát.

    mở đầu tác phẩm thơ bằng một câu chuyện độc đáo và quyến rũ gồm bốn dòng:

    “Tối hôm qua, không biết có phải là đang hoảng sợ hay không, thật sự là không nằm mơ! thực sự tuyệt vời! thật là một cơ thể tuyệt vời!

    tác giả là chủ thể của câu chuyện nhưng lại không biết “có hay không”, điều này càng khiến người đọc hoang mang hơn vì hai từ phủ định “không”, “không” tạo ra sự nghi ngờ và khơi dậy sự tò mò, nửa tin nửa ngờ, nhưng nhà thơ đã ngay lập tức xác nhận câu chuyện là có thật bằng bốn chữ “thật” được lặp đi lặp lại nhằm củng cố niềm tin của độc giả vào câu chuyện mà nhà thơ sắp kể, tạo nên sức hấp dẫn về “quả là một sự ngất ngây”. đúng như lời nhận xét của xuan dieu, “tự dưng câu đầu còn định nghi vấn khách quan, nghi ngờ về mặt khoa học nên ba câu cuối hoàn toàn mang tính chất khẳng định và bêu riếu người ta”.

    Tham khảo: TOP 21 bài văn Tả giàn cây leo lớp 5 – Tả cây cối

    Sau đó, nhà thơ trình bày lý do, thời gian và không gian mà anh ta đang ở “thiên đường” vì đêm anh không ngủ được nên anh dậy uống nước và vẫn không ngủ được nên anh ra ngoài. để “chơi đùa” với mặt trăng “. Bỗng có hai nàng tiên xuống và nói:

    <3

    đó là lý do tại sao các nhà thơ được phép ngâm thơ thay vì “ngàn thần”. Với tất cả cảm hứng của mình, nhà thơ tài hoa tan da đã ngâm thơ cho trời và các nàng tiên nghe với một sự hài lòng và tâm huyết nhất.

    “Đọc tất cả các vần trong văn xuôi, giọng của bạn càng hay thì càng hay”

    <3

    Thơ của tân da diết được ông trời ca tụng “trời nghe, trời cũng hay” và cảm động bởi thần tiên nghe “lòng như dạ, cơ thè lưỡi”, “mày”, “nghe”. đọc từng bài, vỗ tay khen ngợi “. một nhà thơ tự do, tự do khẳng định tài năng và cái tôi cá nhân của mình bằng cách liệt kê những tập thơ như:” khối tình yêu “, văn học lí luận” khối tình yêu “, bài thơ trò chơi” khối tình yêu “, tiểu thuyết” cổ tích “,” giấc mơ “, đời văn “đài gương”, “sáu năm” và cuối cùng là cuốn “tám năm”. Văn chương của nhà thơ được trời khen “nghĩa khí, trời phú hơn là nhiều cách”, “văn chương thật tuyệt vời”, “hẳn là rất ít văn chương trên đời “, trong khi bọn yêu tinh lại khao khát thi nhau:” Tao lấy đây mà bán. Ði chợ trời “. Qua lời ca tụng của trời và tiên nữ dành cho thi nhân, người đọc có thể thấy được tài năng văn chương hiếm có của tan da, khiến chốn thần tiên cũng phải cảm động và khen ngợi văn chương hay.

    Khi nhà thơ nghe Chúa hỏi tên mình, người cùng quê quán đã không ngần ngại thú nhận thân phận của mình:

    “Con trai tên là bất hiếu, họ là nguyenqua ở châu á, trên đất, sông đà, núi và nước ở nam việt nam”

    trong thơ ca trung đại với đặc điểm làm lu mờ cái tôi, cũng có nhiều trường hợp người tự cao tự đại không ngại tự xưng là hồ ly hương “cau nhỏ, miếng trầu này / của mùa xuân”. hương đã lau rồi “hay nguyễn công truân với bài thơ” bác chào văn tài đã vào lồng “tuy nhiên cách nói của tân da đặc biệt hơn so với các nhà thơ đi trước. với đầy đủ họ tên, quê quán, quốc tịch, châu lục, hành tinh … thậm chí chỉ qua vài dòng truyện của tan da, ta có thể thấy được những con người tài hoa và những phẩm chất đáng quý của họ. ngập ngừng, không những thế ta còn thấy được lòng yêu nước sâu sắc của người trí thức hào hoa đã công khai mình ở “sông núi da diết” trong hoàn cảnh chủ quyền đất nước bị xâm lược và nền độc lập dân tộc bị đe doạ, điều đó khẳng định tinh thần tự hào dân tộc của nhà thơ.

    mặc dù cảm hứng chủ đạo của bài thơ là lãng mạn, nhưng nhà thơ không thoát khỏi hiện thực cuộc sống bằng sự thăng hoa của nó. nhà thơ không ngại trình bày hoàn cảnh của mình như bao nhà văn khác trên thế giới:

    “Chết tiệt, tôi tội nghiệp lắm … nếu biết cách thì tôi còn dám tiếp tục nữa”.

    nhà thơ đang sống trong cảnh “văn chương rẻ như rác”, việc so sánh văn chương với bèo cho thấy giá trị của thơ không có chỗ đứng, số phận của anh cũng giống như bao nhà văn, nhà thơ khác. thời đó: không có ruộng đất để trồng que, rất khó kiếm lời vì giấy người, mực người, thuê người in, làm thuê quanh năm không đủ ăn, tuổi già sức yếu. . học hành sa sút từng ngày, cuộc sống bấp bênh. nhà thơ vốn là một người tài hoa trong lĩnh vực văn học, nhưng cả đời phải sống trong cảnh nghèo khổ, lo cơm áo gạo tiền vẫn chưa xong: “Hôm qua nhà không có tiền / Cả đêm Tôi không thể nghĩ ra thơ. Thật là một cụm từ “. chính xã hội thuộc địa nửa phong kiến ​​đã đối xử bất công với những nhà văn tài năng chẳng kém gì giới văn học nghệ thuật, người ta đi theo con đường tây phương lố bịch mà quên mất giá trị của văn học dân tộc.

    lời trời cho rằng ông không bị đày ải xuống trần gian mà do trời gửi đến “là việc của loài người” cùng với lời động viên: “cứ đi làm ăn / hiểu biết đi đừng sợ sương tuyết” Nó đã củng cố niềm tin, tiếp thêm hy vọng vào cuộc sống. từ đó cho ta thấy nhà thơ có cái nhìn tích cực về cuộc sống của những con người chân chất lương thiện. nếu như giọng thơ trước rất vui, hào hứng khẳng định cái tôi cá nhân thì ở đây ta lại thấy bùi ngùi, ngậm ngùi và cũng là nỗi buồn khi gà trống gáy, khi người tỉnh giấc cũng là lúc nhà thơ trở về. ra thế giới thực trong sự tiếc nuối:

    “Một năm ba trăm sáu mươi đêm, làm sao bạn có thể lên thiên đàng mỗi đêm?”

    Vở kịch đã kết thúc thành công khi thể hiện cái tôi cá nhân táo bạo, mãnh liệt. nhà thơ mượn lời trời cho để bộc lộ tài năng của mình với cảm xúc tự do, thoải mái thể hiện bằng cách chọn hình thức thơ lục bát dài hơi. ngôn ngữ gần gũi với đời thường, ít ước lệ nhưng giàu sức gợi. lối dẫn chuyện lôi cuốn, giọng kể bình dân, hài hước, dí dỏm nhưng duyên dáng lôi cuốn người đọc vào câu chuyện một cách rất tự nhiên và lôi cuốn.

    bài thơ “tôi tớ của trời” đã thể hiện phong cách thơ rất “dại” của tan da nhưng vẫn có tâm hồn lãng mạn phù hợp với nhận xét của xuan dieu “chủ nghĩa lãng mạn với cá nhân đã bị phá vỡ trong Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX. Kỷ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu ”. tác phẩm đã để lại cho chúng ta nhiều ấn tượng về phẩm chất và tài năng của một người đàn ông được coi là kịch bản giữa hai thế kỷ.

    phân tích bầu trời – mẫu 3

    Tân Đa (1889-1939), tên thật là Nguyễn Khuyết hiểu, là một nhà thơ, một nhà viết kịch, đồng thời là một trong những dịch giả xuất sắc nhất của thơ cổ Việt Nam (đặc biệt là thơ đường phố). Trong nền văn học nước ta đầu thế kỷ 20, sự đô hộ của thực dân Pháp cùng với sự bất lực của triều đình phong kiến ​​trước thời đại đã làm cho lịch sử dân tộc nhiều biến động dữ dội, không chỉ về kinh tế và thuật ngữ chính trị, mà còn là văn hóa. Nho giáo mất chỗ đứng, các thể loại thơ cổ, ít chữ đã trở nên lạc hậu, lỗi thời, lạc hậu. Chính điều đó đã tạo nên sự trỗi dậy và nở rộ của một số nhà văn sáng tạo, nhạy bén đi trước thời đại, trong đó có một số người rất da diết. Mặc dù hoài cổ, nhưng hoài niệm thường đề cập đến quê hương hoặc lời thề vĩnh biệt là những bài thơ tan da tiêu biểu, bởi vì chúng ẩn chứa một lòng yêu nước cao cả, một chủ đề có giá trị nhất của văn học trung đại và mọi thời đại. nhưng thực ra, nếu nhìn kỹ, chúng ta có thể thấy rằng, để đánh giá về tan da, ông là một nhà thơ nổi lên như một ngôi sao sáng vào cuối thời trung đại, với tài năng và khả năng sáng tác dồi dào, đồng thời là một “người viết kịch bản”. . giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại “- người đã hình dung ra một thời kỳ thơ mới thịnh trị gần chục năm và giữ nguyên giá trị hàng trăm năm. Vậy thì có lẽ tôi không nên nhắc đến những bài thơ trước đó mà cái tên đáng được nhắc đến phải phục thiên đường: tác phẩm chứa đựng mọi điều mới mẻ, khác lạ trong phong cách thơ và hình thức của làn da tan trong thời kỳ chuyển giao.

    Chúa phù hộ cho những lời nhận xét rất đắt giá rằng đây là một trong những bài thơ đã đứng trước thử thách của thời gian, đáng tự hào cùng năm tháng. tác phẩm được đưa vào sách xuất bản lần đầu trong tập còn tái bản (1921) tổng cộng 120 câu, sau tái bản trong tuyển tập tân da, 6 câu rút gọn còn 114 câu.

    về sáng kiến ​​“hầu trời” không phải là một ý tưởng mới trong văn học Việt Nam, bởi trước đó trong văn học dân gian, lý do tương quan giữa thế giới thần thánh, ma quỷ và thế giới trẻ thơ đã từng xuất hiện rất nhiều trong các truyện dân gian. như con cóc kiện trời, hay trong các tác phẩm huyền sử của nguyễn ngữ, như chuyện con gái ông đồ hay chuyện cung đình. tuy nhiên, khi lên đến thiên đường, độc giả vẫn bị cuốn hút vào nhiều khía cạnh, một trong số đó là cách nhập truyện độc đáo. khổ thơ đầu tiên của tác phẩm mở ra một không gian hư ảo hun hút dưới hình thức mộng mơ, chất chứa biết bao tưởng tượng của nhà thơ. Mang đến cho người đọc một cảm giác tự nhiên như đang đi từ thế giới thực sang cõi mộng của nhà thơ, nghĩa sĩ Tản Đà không còn là một câu chuyện hư cấu hay tưởng tượng nữa mà là một ý nghĩ trong một giấc mơ của nhà văn. “Tối hôm qua, không biết có phải hay không.” là câu hỏi của tác giả về giấc mơ có thật hay không, thực hay ảo, từ đó gợi lên cảm giác bàng hoàng, thất thần của một người vừa bước ra từ giấc mơ đẹp. sau khi đặt câu hỏi ẩn chứa nhiều nghi vấn, tác giả đã tự đáp lại rằng “đừng hoảng sợ, không phải mơ / có thật! thật tuyệt! thân quá! / trời ơi đất hỡi – sướng lạ”, để khẳng định rằng giấc mơ đêm qua là có thật. bằng cách liên tục phủ nhận với các từ “không”, “không”, nhấn mạnh những cảm xúc mà chúng ta trải qua bằng cách lặp lại từ “thực” bốn lần. dẫn dắt người đọc đến giấc mơ trong đêm, qua trí nhớ của nhà thơ, một cách duyên dáng, hấp dẫn và tự nhiên.

    Câu chuyện hầu trời bắt đầu bằng việc tác giả đọc thơ cho trời và các tiên nữ. trước khi đọc bài thơ, tan da cũng miêu tả sơ qua về bối cảnh của ngôi nhà thiên đình như được đưa lên thiên đàng, có cảnh “cửa đỏ rực, chói lọi / trời như ý” và “ghế tựa” tản mạn như thế nào. mây tuyết như mây “tái hiện một khung cảnh thần tiên tráng lệ. Không chỉ vậy, tác giả còn nhắc đến các nhân vật trên trời như thiên đình, tôi, tam, hằng nga, kỹ nữ, song thanh, tiểu ngọc, đều là những thần tiên quen thuộc với nhân gian. thế giới qua những câu chuyện, câu chuyện cổ tích hay cả những nhân vật vô danh như thần tiên, tiên nữ, … mở ra một không gian sống động, đẹp đẽ và chân thực trong lòng người đọc khi đọc thơ, một phần là thành kính tuân theo mệnh lệnh của thần để đọc. nói đúng, thứ hai, tan da rất tự tin vào văn phong của mình, cho nên ở trước mặt tiên nữ, thi sĩ làm phần nhiệt tình, chuẩn bị. ” sau đó họ uống một tách trà khác được đưa cho để “kích giọng” rồi say sưa đọc bài thơ “đọc hết bài văn xuôi / học xong lý thuyết đi chơi”. Chuyến đi này phát tán bao nhiêu vốn văn chương, “tất nhiên là tôi mừng lắm rồi” và đọc như chưa từng đọc. ngoài việc mải mê đọc thơ, bản thân nhà thơ cũng tỏ thái độ rất tự mãn, “văn dài chẳng hơn mây” để rồi “văn đã phong phú hơn là nhiều lối”, hé lộ một bộ sưu tập đồ sộ của làm. sự nghiệp sáng tác của ông đa dạng về thể loại và phong phú về nội dung. Không chỉ vậy, anh còn thể hiện sự tự mãn và tự tin khi kể lại thái độ của các tiên nữ khi nghe anh viết:

    “trời nghe trời nghe, lòng dạ như thắt lại, cơ thè lưỡi, chúc phụ nữ gặp nhiều may mắn, mấy chú chim nhỏ nghe nhau vỗ tay sau khi đọc xong từng bài hát”.

    tất cả đều tỏ ra tán thưởng, chăm chú thưởng thức thơ ca của tan da, đặc biệt thơ ca của họ được các tiên nhân ca tụng, nhưng đối với người bình thường thì chưa đủ để hiểu được văn chương tuyệt diệu như vậy. cố lên.

    Ngoài ra, Tản Đà cũng rất hào hứng kể về những thành tựu trong sự nghiệp sáng tạo của mình một cách rõ ràng và tự tin, vui vẻ qua những câu sau:

    “văn học thiếu nhi được in, sau đó là hai tập ngôn tình lý thuyết, hai tập ngôn tình là truyện cổ tích, tiểu thuyết mộng và đại gương, sáu năm cuộc đời, văn học phụ nữ, dịch. Bạn có biết mình đã là người mấy chục năm rồi không? ấn tượng? “

    sau đó nhà thơ bắt đầu tự giới thiệu mình, mạnh dạn và tự hào tuyên bố quê hương của mình “người con hiếu thảo, họ Nguyễn / quê ở châu Á, ở trên đất / sông đà / núi sông”. Tản cúc họa thủy ”. Hành trạng của Tản đà cho thấy ông là một người dũng cảm, rất tự tin và tự hào về sự nghiệp văn chương của mình, nhất là ở cảnh lên trời như cá gặp nước, tự do vẫy vùng và thể hiện một tài năng hiếm có. .

    song song với nhà thơ là bầu trời thái độ và cảm xúc của con người khi nghe đọc thơ, mỗi cá nhân có một cảm xúc và cách thể hiện riêng. thiên đình vốn uy nghi, bệ vệ thống lĩnh trời đất, trên người lại bị “chuyện vui” mê hoặc, thậm chí hưng phấn, rồi há mồm thốt lên: “văn chương tuyệt đỉnh”. . chủ nhân của ngôi sao trong lòng thì vui mừng, phấn khích như “thở phào”, ngôi sao thì phấn khích mà “lè lưỡi”, há miệng thán phục như một đứa trẻ. xưa nay, vị nữ tử vốn nổi tiếng dịu dàng, e ấp, kín đáo khi nghe thơ tan da, không khỏi “nhíu mày”, khuôn mặt toát lên ý tứ sâu xa trong lời thơ của thi nhân. . viết. Về đến hai thành, hai cung nữ của mẫu thân vua Tây là Tiêu Ngọc cũng phải “đứng ngồi không yên” chăm chú nghe, nếm mùi, không quên phục vụ. Ngoài những tình cảm ấy, các nàng tiên còn có một điểm chung là “đọc xong mỗi bài đều vỗ tay”, thể hiện sự trân trọng và chào đón nồng nhiệt trước tài năng văn chương của Tản Đà, kèm theo đó là tâm nguyện ước ao được sở hữu những vần thơ của riêng mình. và những bài thơ đối đáp với lời mời gọi tha thiết “các nàng tiên long đong thi nhau: Anh đưa em về đây chợ trời bán!”. như vậy đã xóa nhòa khoảng cách, địa vị bề trên, bề dưới, chỉ để lại tình yêu văn chương nồng nàn của độc giả với những thi sĩ tài hoa, để cùng nhau trở thành những người bạn tâm giao, cùng tác giả không thể hạnh phúc hơn. Như vậy, qua đoạn tân da kể lại việc lên trời đọc thơ, và bằng những cung bậc cảm xúc của tiên nữ khi nghe thi sĩ bộc lộ tài năng, ta có thể thấy được một số dấu vết về chân dung của thi sĩ. anh ấy dường như là một người rất tự tin, tự hào về tài năng của mình, rất ý thức về giá trị cá nhân của mình. Khi còn ở trần gian, cảm thấy không tìm được người hiểu, yêu và kính trọng, quý trọng và quý trọng tài năng của mình, anh đã vượt ra ngoài cõi thần tiên để thử tìm người hiểu thơ mình. và ở cõi thần tiên ấy, như thể tan da diết, sống thật với chính mình, tự tin thể hiện tài năng của mình một cách thoải mái, tự nhiên. mặt khác, việc tìm được người bạn tâm giao như thế này còn bộc lộ nỗi cô đơn, mất mát của tan da, của những nhà thơ, nhà văn đương thời, bởi “văn chương rẻ như bèo” còn những nhà văn như tan da thì dường như. ham rẻ, không được nhiều người để ý, coi trọng, dẫn đến tình trạng bất mãn ở trần gian và buộc phải đi tìm hạnh phúc ở cõi khác.

    Sau câu chuyện hầu hạ trời, qua những lời tâm sự của tan da, độc giả dễ dàng nhận ra câu chuyện cuộc đời của tác giả và các tác giả đương thời, những cảnh đời khốn khó mà theo một cách khác. câu nói của tan da thật là “tội nghiệp”. cụ thể nhà thơ đã phó mặc cho trời rằng “đất không có đất”, đó là nỗi ám ảnh, nỗi đau sâu sắc hơn của nhà thơ, nó trở đi trở lại trong nhiều bài thơ khác của ông. ví dụ như câu “nước có cửa, nhà không” trong sở thích chẳng hạn. rồi cái đau thứ hai là vốn chỉ có “cái bao tử”, có tố chất, tài năng nhưng lại bị áp bức về nhiều mặt, tiền giấy, tiền mực của các cửa hàng tuy đắt mà khổ. “Văn học trên trái đất rẻ như một địa ngục.” , nên các nhà văn đương thời gặp phải hoàn cảnh trớ trêu “kiếm lãi thật khó / kiếm ít mà tiêu nhiều / làm cả năm không hết”, người nghèo càng thêm nghèo. người nghệ sĩ bế tắc, mưu sinh rỗng tuếch cái bụng văn chương chỉ để kiếm sống, như con tằm rút ruột nhả tơ cho đời. nhưng cuộc đời khốn khó ấy đã được mùa xuân nói lên một cách cay đắng rằng “kiếp khốn nạn nuôi vuốt / lúa chẳng chơi với nhà thơ”. Từ hiện thực đáng buồn của mình, nhà thơ đã bày tỏ nỗi niềm của mình bằng câu “một năm ba trăm sáu mươi đêm / sao đêm nào cũng lên trời!”, Than thở rằng chỉ một đêm văn chương có giá trị, được tôn kính, được tự nhận của mình, chắc chắn về bản thân cô ấy, được giải phóng khỏi một thế giới đầy đấu tranh và thất vọng. Ngoài ra, sứ mệnh và trách nhiệm của nhà văn cũng bị nghi ngờ. nhưng sứ mệnh đó đã được thể hiện một cách khéo léo bởi thiên tài tìm kiếm sách vở, thấy da diết vốn là một tiên nữ bị đày xuống trần gian vì dại dột cùng với truyền nhân, mang tính chất an ủi, khích lệ của trời:

    “trời nói: ‘không phải trời định. trời định cho ta một điều. Đây chính là’ thiên lương ‘của nhân gian, hãy đem ta xuống cuối đời.”

    sau đó, khi tự mình nhìn thấy lời trời mách bảo, anh không khỏi nghi ngờ “trời sai khiến mình vất vả quá / nếu biết làm thì mới dám theo”. Khi tác giả tự coi mình là “cây chống bốn bề năm thước”, bên ngoài gánh bao nhiêu nhiệm vụ áp bức, không biết có thể đảm đương được nhiệm vụ của thượng đế hay không. từ đó nó trở thành cơ sở cho sự khích lệ của trời, với sự thấu hiểu rộng lớn:

    “rằng:” Không phải nói trời đã biết đất, dù ngồi trên cao cũng chỉ có về làm ăn, đừng sợ sương! “

    đồng thời cũng là sự tự khơi dậy bản thân của nhà thơ, cố gắng vượt qua thử thách, cầm lòng mình trước băng tuyết của cuộc đời, làm tròn trách nhiệm của mình với cuộc đời. trở thành cơ sở để nhà thơ có quyền “chơi khăm” về mình. và về trạng thái và cuộc sống của một nghệ sĩ đương đại, chúng tôi cũng có thêm một số bức vẽ từ tan da. hiện ra trước hết với thái độ “ngông nghênh”, thể hiện qua niềm tự hào và tin tưởng vào giá trị bản thân, khi tự nhận mình là “tiên nhân”, được trời sai xuống trần gian với sứ mệnh cao cả là gieo nhân “thần thánh” cho loài người. . điều đó cũng cho thấy anh là một người rất có trách nhiệm với cuộc sống, viết văn và sáng tác đều hướng tới chức năng trung tâm của văn học là nhân đạo hóa con người.

    Xuyên suốt bài thơ, tác giả đã mạnh dạn thể hiện cái tôi cá nhân, một cái tôi rất phóng khoáng, tự ý thức về bản thân, nhận thức được tài năng và giá trị đích thực của mình, đồng thời khao khát khẳng định giá trị của mình trong cuộc sống. tác phẩm có sự sáng tạo nhất định bằng cách sử dụng thể thơ lục bát dài hơi, giọng văn thoải mái, tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, sinh động, tài tình tạo cho người đọc cảm giác gần gũi, thú vị.

    quét bầu trời – mẫu 4

    mỗi khi giới văn chương nhắc đến người “vượt giữa hai thế kỷ”, người ta sẽ nghĩ ngay đến làn da rám nắng. Không chỉ vậy, ông còn được biết đến là cầu nối văn học giữa văn học trung đại và hiện đại, là người đặt nền móng cho nền thơ mới. thơ tan da là thơ của cái tôi cao cả, lãng mạn, cái tôi yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước. “phụng mệnh thiên hạ” là một trong những bài thơ thể hiện rõ cái tôi của ông.

    bài thơ được in trong tập “còn chơi vơi” và xuất bản năm 1921. Bài thơ là một câu chuyện “hầu gái” của một nhà thơ với lối kể tự nhiên, giọng điệu say đắm lòng người, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm hứng lãng mạn và hiện thực. “phụng mệnh thiên hạ” giống như một câu chuyện tự sự có cốt truyện, tình huống truyện và nhân vật người kể chuyện. do đó, chúng ta có thể dễ dàng tóm tắt bài thơ theo trình tự thời gian: mở đầu là lúc nhân vật giải thích vì sao được lên trời đọc thơ, đến cảnh khi đọc thơ và thái độ của trời rồi kết thúc. đó là một cuộc chia tay đầy hoài niệm.

    ngay ở đầu bài thơ, tan da đã gây ấn tượng rất mạnh với cách dẫn dắt độc đáo của mình:

    “Tối hôm qua, không biết có phải là đang hoảng sợ hay không nằm mơ! thực sự tuyệt vời! cơ thể thực sự, thực sự lên đỉnh – khoái cảm kỳ lạ ”

    Câu chuyện này vốn dĩ là một câu chuyện thần thoại, nhưng với cách kể của mình, tác giả đã khiến mọi người tin rằng nó là có thật, tự nhiên, không hề gượng ép. rõ ràng, câu thơ mở đầu là một câu hỏi, chính tác giả cũng không nói rõ về sự thật trong câu chuyện này, nhưng ba câu thơ sau lặp lại ba lần từ “sự thật” như một lời khẳng định với người đọc về sự thật. Sau khi nói rõ sự thật về việc lên trời, Tản Đà bắt đầu làm thơ để giải thích lý do của mình. câu chuyện bắt đầu vào một đêm thanh vắng, khi nhà thơ dậy đun nước rồi ngân nga những câu thơ “vang cả thiên hạ” khiến cả đất trời “mất ăn mất ngủ”. Câu chuyện có vẻ khó tin nhưng bằng cách kể lại một cách dí dỏm, Tanda càng khơi gợi sự tò mò của người đọc về những gì xảy ra tiếp theo.

    sau đó nhà thơ bắt đầu kể lại sự việc của “người hầu trời” một cách rất tự nhiên. đầu tiên, tuân theo mệnh lệnh của trời, nhà thơ đã đọc thơ của mình với trời và các tiên nữ:

    “Ra lệnh cho các nhà văn đọc văn học, lắng nghe và cầu nguyện với Chúa, tôi sẽ đọc.”

    Đối với một nhà thơ, làm thơ không chỉ là một sở thích, mà hơn thế, nó còn là một niềm đam mê. thơ làm cho nhà thơ thăng hoa trong cảm xúc và niềm xúc động khôn nguôi:

    “đọc tất cả các bài văn xuôi, tất cả lý thuyết và chơi. Khi tôi đọc một cách thích thú, tôi thích âm thanh của trà, càng tốt”.

    đối với sự nhiệt tình này của thi nhân, thái độ của người nghe cũng hết sức chăm chú, tập trung, thậm chí còn cảm kích, khen ngợi: “vị nữ hằng ngày cau mày”; “thành đôi, hạt ngọc nhỏ nghe bùi tai”… các nàng tiên vẫn vô cùng thích thú và chào đón khi nhà thơ kể về tập thơ của mình: “Em mang về đây bán ở chợ trời”. >

    Trong thơ ca, cái tôi là một chủ đề rất được mọi người chú ý. thơ phải có cái tôi để tạo ấn tượng. và trong những câu thơ sau, tan da đã thể hiện rõ ràng cái tôi của mình:

    “trời quở trách hắn:” văn chương tuyệt vời! văn chương quá tuyệt vời! chắc ít có nhà văn nào đẹp như sao băng! bầu không khí mạnh mẽ như những đám mây chuyển động! lặng như gió, thanh khiết như sương! , lạnh như tuyết! ”

    mượn lời trời cho, tác giả đã khéo léo ca ngợi chất thơ của nàng. và người ta gọi đây là hiện tượng chưa từng có trong văn học. điều này không chỉ chứng tỏ nhà thơ rất tự tin vào tài năng của mình mà còn muốn khẳng định tài năng, cái tài của mình. Bằng cách đặt chữ của mình ngang hàng với vẻ đẹp của thiên nhiên như sao băng, mây, gió, mưa, tuyết …, tan da đã thể hiện rõ niềm tự hào về vẻ đẹp của văn chương của mình.

    sau khi nói về tài năng văn chương của mình, tan da đã lật bút để kể về cuộc đời của tầng lớp văn nghệ sĩ lúc bấy giờ:

    <3

    Với nét vẽ chân thực, bài thơ phản ánh chân thực cuộc sống khốn khó của giới văn nghệ sĩ, cũng như sự hỗn loạn của văn học thời bấy giờ. trái ngược hoàn toàn với những cảm xúc bồi hồi trước đó, bài thơ này mang một giọng điệu xót xa, chua xót. vốn dĩ câu chuyện phụng mệnh thiên hạ là một câu chuyện hư cấu và dường như nhà thơ đang tự an ủi mình, mong một điều gì đó tốt đẹp hơn cho thế hệ của mình:

    “rằng: Tôi không nói trời biết đất biết trời, dù ngồi trên cao trời cũng biết hết, cứ yên tâm làm ăn, đừng sợ sương tuyết”

    Sau lời dặn dò của tôi, cuộc chia tay giữa nhà thơ và các nàng tiên đã diễn ra đầy xúc động:

    “Hai hàng giọt sương riêng biệt nhìn khắp mặt đất hàng ngàn dặm, để lại thiên đàng ở lại, vẽ nàng tiên trên không xuống trần”

    Những gì đã xảy ra thật đẹp đến nỗi khi tỉnh dậy và nhận ra đó chỉ là một giấc mơ, nhà thơ không khỏi tiếc thương:

    “Một năm, ba trăm sáu mươi đêm, sao bạn có thể đếm được đến bầu trời”.

    Những câu thơ đã khép lại bài thơ, khép lại một câu chuyện nhưng dư âm mà nó để lại vẫn còn đó. Tuy chỉ là trí tưởng tượng thuần túy nhưng lối viết tự nhiên, cách xây dựng cốt truyện có cốt truyện, nhân vật … hoàn chỉnh đã mang đến sự gần gũi và mới lạ cho người đọc.

    Người ta nói “phụng mệnh thiên hạ” không chỉ là một câu chuyện dí dỏm, vui vẻ mà còn gửi gắm những triết lý bản ngã đầy chất thơ cho các nhà văn Việt Nam. Với tác phẩm này, Tản Đà đã thực sự mang đến một làn gió mới cho thơ ca, xứng đáng với danh hiệu người đặt nền móng cho trào lưu thơ mới.

    quét bầu trời – mẫu 5

    tan da là một trong những nhà thơ lớn của đầu thế kỷ 20. những đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam với những tác phẩm đặc sắc đã làm chấn động cả giới văn học. tan da được coi là cầu nối giữa hai thế kỷ và là nhân tố tiêu biểu đặt nền móng cho sự phát triển của dòng thơ mới.

    đọc tác phẩm thơ tan da, ta sẽ thấy trong câu thơ từ ngữ giản dị, một tâm hồn lãng mạn nhưng cũng rất tao nhã. chất thơ của tan da rất độc đáo nhưng vẫn giữ được hồn cốt của thơ ca dân tộc. hôm nay chúng ta cùng phân tích bài thơ “phụng mệnh trời” để thấy được cái tôi của nhà thơ thật da diết.

    phân tích bài thơ “tôi tớ của trời” để thấy được cái tôi của nhà thơ thật da diết với phong cách thơ tự do, phóng khoáng. cộng với lời kể, các yếu tố tình huống, nhân vật hay lời kể đã tạo nên một tác phẩm vô cùng đặc sắc. tác phẩm “tôi tớ của trời” là hư cấu tưởng tượng của chính tác giả.

    sau khi đọc bài thơ, chúng ta sẽ thấy được sự nồng nàn trong đó, sự kết hợp giữa cảm hứng lãng mạn và hiện thực. ba sự việc được trình bày một cách khá trật tự từ lí do lên trời đọc thơ, cảnh đọc thơ và thái độ ngợi ca, cảm kích thần tiên, đến cuộc chia tay đầy xúc động và lưu luyến. cách mở truyện của nhà thơ da diết thực sự gây ấn tượng mạnh với người đọc:

    Đêm qua không biết có phải hay không, hoảng sợ cũng không ngủ. thực sự tuyệt vời! thật là một cơ thể!

    Đây chỉ là một thông báo về sự cố “hạnh phúc phi thường” đêm qua mà nhiều người trong chúng ta cho rằng đó là một lời nói dối. nhưng cách nói lái của nhà thơ khiến người ta tin rằng đó là điều có thật, nhưng tự nhiên, không gượng ép. ông cũng đặt câu hỏi về khoa học hay không, nhưng vẫn tuyên bố rằng: không có hoảng sợ, không có ngủ và có bốn sự thật khiến mọi người tin tưởng.

    cách mở đầu câu chuyện thật điêu luyện và tao nhã khiến cho nhà thơ xuân sắc cũng phải trầm trồ thán phục. những tình huống truyện diễn ra độc đáo và hấp dẫn. ngay sau đó, nhà thơ đã đưa ra một lý do kỳ lạ để được thăng hạng nhất. trong đêm trăng khuya, canh ba, nằm buồn một mình, tác giả ngồi đun nước uống rồi ngâm thơ.

    chợt thấy hai nàng tiên giáng trần, vì tiếng đàn vang vọng khắp thiên hạ làm cho ngủ không được, nên trời mời lên đọc cho nghe.

    vâng, có vẻ khó tin, nhưng cách giải thích tài tình và tự nhiên như vậy khiến người đọc thấy thú vị, thường ngày và cũng đáng tin. câu chuyện vì thế mà khơi dậy trí tò mò và mưu mô. khi đó, đối diện với bầu trời, nhà thơ sẽ thể hiện mình như thế nào?

    Nhà thơ được đón tiếp nồng nhiệt, được ngồi trên ghế bành như mây tuyết, trổ tài và được khán giả đặc biệt xem là bầu trời và tiên nữ. nó là một cái gì đó thú vị chưa từng thấy trước đây, thậm chí không phải là một giấc mơ. chỉ qua đây ta mới thấy nhà thơ tan da thật sự có tâm hồn bay bổng. lên trời ngâm thơ, đọc thơ, thích thú lắm, tự hào lắm:

    – đọc tất cả các vần trong văn xuôi, hoàn thành lý thuyết và chơi

    <3

    Điều đáng chú ý nhất của đoạn văn này không phải là “di sản văn học” nhiều và đa dạng được nhà thơ đề cập đến, mà là ý định phô trương tài năng của mình, bằng nhiều cách, hoặc có mục đích phô trương cái tốt và cái xấu. . Sai lầm. vẻ đẹp do mình tạo ra, nhưng đó là niềm đam mê, niềm tự hào, cảm xúc, cảm xúc dành cho những sáng tạo của mình.

    Sở dĩ như vậy, dường như nhà thơ đã tìm được đối tượng cảm thụ nghệ thuật đặc biệt như vậy. nghe thơ và thơ của người ta, thần tiên và tiên nữ nào đang cởi mở, thè lưỡi, cau mày, nghe tiếng vỗ tay, vỗ tay và thậm chí trả lời trên mức yêu thích của bạn:

    các nàng tiên khao khát được thi đấu với nhau và nói với họ rằng: “Tôi sẽ mang nó về đây để bán ở chợ trời!”

    những lời ca ngợi của thiên đàng đã xác nhận điều đó:

    cảm ơn văn tự đẹp như thiên thạch! bầu không khí mạnh mẽ như những đám mây! mềm mại như gió thoảng, thanh khiết như sương mai! Chết tiệt như mưa, lạnh như tuyết!

    Có thể nói, phong cảnh là thiên đường nhưng không hề xa lạ, lối đi rất thường và ngay cả cách yêu tinh gọi nhà thơ là “anh” cũng rất dễ thương. có lẽ vì lẽ đó, được đọc thơ, văn là cách để nhà thơ da diết thể hiện hết niềm vui của mình, cũng là một hình thức tự quảng bá, tự khẳng định mình trong xã hội rất tinh tế. đồng thời cũng là niềm khao khát được thấu hiểu và cảm thông với cuộc sống. quanh đây tôi có thể thấy một cái tôi phóng khoáng, táo bạo và tài năng.

    khi đó, việc nhà thơ lên ​​trời không chỉ đơn giản là “Tôi chán đời này”, là để khẳng định tài năng và nhân cách độc đáo của nhà thơ, mà nó còn là cái cớ để lý giải. nói về công việc và cuộc sống. sau khi nghe bài thơ, anh ta khen ngợi và khóc nức nở và hỏi danh tính của cô. tan da thật nên không giấu giếm gì cả, tên tuổi và nghề nghiệp đều được kể ra.

    trời sai người cân nhắc và phát hiện ra có một tên nguyễn bất hiếu, bị đày xuống trần gian vì tội ngu xuẩn, thực chất là phái đi làm “thiên lương” của loài người. Vẫn biết bài thơ thể hiện rất rõ nét đặc sắc của hồn thơ tan da, nhưng chắc hẳn nhiều độc giả ở đây cho rằng có thể đạt đến trình độ này mới là một tính cách ngông cuồng và táo bạo.

    tài năng đã vượt xa mức độ thể hiện, sự khờ khạo, mong muốn làm những điều tốt đẹp cho thiên hạ. so da từng ôm mộng cải cách văn học, nhưng không thành. và có lẽ trong suốt chiều dài lịch sử chúng ta có thể thấy nhà thơ nhắc đến sứ mệnh này. và có nhiều lý do để chứng tỏ rằng quá sức đối với mệnh lệnh của thần.

    by: – ​​”trời ơi tội nghiệp quá.” Tanda được biết đến vào thời của ông như là người đầu tiên mang “văn học xuống đường phố.” nhưng cuộc sống khó khăn không dễ dàng như mọi người nghĩ, của cải là văn chương nhưng không có ruộng đất, không có giấy, không có mực, hàng quán đều do người ta làm chủ, giá rẻ, lãi ít, nhưng họ tiêu một nhiều, họ học nhiều hơn vì tuổi đã cao.

    Để nói đến sự trung thực trong cuộc sống đời thường này không chỉ vì sự bồng bột mà còn vì giới văn nghệ sĩ đầu thế kỷ 20 đang thực sự vất vả. lên trời là cơ hội để anh thú nhận sự thật đó. Với lối viết hiện thực, nhà thơ đã thể hiện nỗi lòng của mình như một niềm khao khát đồng cảm, khát khao tìm kiếm sự thấu hiểu và tự khẳng định mình giữa cuộc đời.

    mọi cuộc vui đều có hồi kết. anh ta trở lại trái đất ăn năn. những dòng cuối nghe hơi buồn nhưng đầy chất thơ. tiếng gà trống gáy, tiếng người trong thiên hạ đã đánh thức nhà thơ. hết cảm giác lên mây như gió ngâm thơ. cuộc đời của nhà thơ tanda thật thanh cao, khao khát được lên thiên đàng. những giây phút thăng hoa của thi nhân sau khi đọc bài thơ chính là sự thăng hoa trong nghệ thuật, trong cái tôi của tan da.

    một cái tôi rất phóng khoáng, rất ý thức về những tài năng quý giá của mình. một khao khát giữa đời thường mà không có thực. nhưng ai đọc bài thơ “tôi tớ của trời” mới thấy được sự gần gũi, hóm hỉnh tự nhiên.

    Xem thêm: Soạn văn 7 bài 21 lập luận chứng minh

    XEM THÊM:  Cúng cô hồn hàng tháng: Bài khấn, mâm cúng, cách cúng chuẩn

    Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc TOP 10 mẫu Phân tích Hầu trời hay nhất – Văn 11. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

    Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

    Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

    Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.