Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
300 lượt xem

Top 6 mẫu phân tích Nhàn hay nhất – Cảm nhận về bài thơ Nhàn

Bạn đang quan tâm đến Top 6 mẫu phân tích Nhàn hay nhất – Cảm nhận về bài thơ Nhàn phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Top 6 mẫu phân tích Nhàn hay nhất – Cảm nhận về bài thơ Nhàn

phân tích sự nhàn hạ để hiểu rõ hơn về triết lý sống nhàn hạ của tác giả nguyễn nh minh. Trong bài viết này, Hoạt động xin chia sẻ tài liệu tổng hợp bài văn nhàn cùng với những bài văn mẫu phân tích bài thơ nhàn, phân tích bài thơ nhàn của nhà thơ Nguyễn Khiêm hay được chọn lọc nhằm giúp các em học sinh có thêm những hiểu biết hữu ích khi phân tích bài thơ nhàn.

  • 6 bài đánh giá câu cá mùa thu hay nhất
  • Top 4 2 bài đánh giá bản thân hay nhất

nhan ‘là bài thơ thứ 73 trong bach văn quốc ngữ của tác giả nguyen binh khiem. Chỉ với 8 câu thơ, tác giả đã cho người đọc thấy được quan niệm sống của tác giả về triết lý sống nhàn hạ. sau đây là một số bài văn phân tích bài thơ nhàn của nguyễn sinh khiem hay được hoatieu tuyển chọn, xin chia sẻ cùng các bạn.

1. sơ đồ phân tích chi tiết

– giới thiệu tác giả, tác phẩm:

+ nguyễn binh minh là một nhà thơ đa nghĩa lớn của nền văn học dân tộc với phong cách thơ thấm đẫm triết lí, lời dạy, những trăn trở, trăn trở về nhân sinh.

+ bài thơ nhàn là một bài thơ du mục nổi tiếng của nguyễn bình quân viết về cuộc sống bình lặng ở nông thôn, thể hiện rõ quan niệm sống của tác giả.

2. phần thân bài phân tích đoạn thơ tạm dừng

* tóm tắt các bài thơ giải trí

– hoàn cảnh sáng tác:

+ “gầy” là bài thơ thứ 73 trong tác phẩm văn chương quốc ngữ của Nguyễn Binh Khiem, được viết khi tác giả đi ở ẩn vì chán ghét cảnh chen chúc, bất hòa.

– Giá trị nội dung: bài thơ như một lời tâm tình sâu sắc, khẳng định quan niệm sống thanh nhàn hòa hợp với thiên nhiên, không màng danh lợi, luôn giữ vững cốt cách thanh cao trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.

* luận điểm 1: hoàn cảnh sống của nguyễn thanh liêm (2 câu)

– bội số của “một”: đơn lẻ, đơn lẻ

– mai, cuốc, cần câu: những vật dụng quen thuộc, đơn giản, thô sơ của người thợ dùng để đào, bới, câu cá.

– & gt; hình ảnh một bác nông dân đang kiểm tra lại dụng cụ lao động và mọi thứ đã sẵn sàng, dù ở một mình nhưng tác giả vẫn rất vui.

– “roaming”: nhàn nhã, tự do, chu đáo, tỉ mỉ

– “no matter who”: bất kể ai

– & gt; sự khác biệt về sở thích và lối sống của tác giả: dù ai có vui thì chúng ta cứ lang thang giữa cuộc đời này, sống theo cách của mình, không vội, không vội.

= & gt; ông lão trở về sống giữa cánh đồng để chan hòa với thiên nhiên như một người nông dân nghèo nhưng hiền lành, chất phác.

* luận điểm 2: quan niệm sống của nguyễn (2 câu thực)

– nghệ thuật cho: “i” với “mọi người”, “khôn ngoan” với “hoang dã”, “trống rỗng” với “xáo trộn” – & gt; đối lập về cách chọn nơi ở, niềm vui của người nguyễn khiêm tốn với thế giới.

+ “nơi hoang vắng”: một nơi yên tĩnh trong thiên nhiên, nơi tâm hồn được nghỉ ngơi.

+ “chốn xum vầy”: chốn quan trường, chốn tư lợi, xa hoa, tấp nập xe ngựa, quý tộc, kẻ hầu người hạ, xô đẩy, đánh lén, hại nhau.

– & gt; tự cho mình là kẻ ngốc, cho rằng mọi người khôn ngoan, nhưng thực ra lại là cách nói ngược lại, ngụ ý

– & gt; Theo tác giả, vô nghĩa thực ra là khôn vì ở nông thôn người ta được sống trong hòa bình và yên tĩnh. khôn ngoan thực ra lại ngu ngốc vì ở nơi chính thức, người ta không thể sống là chính mình.

= & gt; Cách nói năng bộc trực và khôn ngoan của Nguyên bắt nguồn từ sự khôn ngoan, thể hiện sự tự tin và bản lĩnh cứng cỏi của Nguyên.

= & gt; quan niệm sống “tránh né và hướng nội”.

* Đề 3: Nguyễn Khiêm Ngậm Nhầm Cuộc Sống Ở Quê Mình (2 Câu)

– “tre”, “giá”: những món ăn quen thuộc “cây nhà lá vườn” do chính tay tác giả làm.

– “tắm ao sen”, “tắm ao”: tác giả cũng tắm hồ, tắm ao như bao người dân làng chài.

– & gt; giản dị, thanh đạm trong ăn uống, sinh hoạt, gắn bó, hòa hợp giữa con người và thiên nhiên.

– sự xuất hiện của bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông

= & gt; hài lòng với cuộc sống giản dị, thanh đạm nhưng cao quý của tác giả, tự do, thoải mái, chan hòa với thiên nhiên trong suốt 4 mùa của tác giả.

* luận điểm 4: triết lý thanh nhàn, vẻ đẹp của nhân cách nhà thơ (2 câu)

– huyền thoại thuần vu phần vu giấc mơ đêm giữa mùa hè – & gt; giàu có chỉ là một giấc mơ.

<3 dáng vẻ của một bậc vĩ nhân có trí tuệ cao siêu, ông ta nhìn sự giàu sang bằng con mắt khinh bỉ, khinh bỉ, không đáng để ông ta suy nghĩ và quan tâm.

= & gt; tác giả tìm đến rượu để say, mơ màng và nhận ra rằng cuộc sống giàu sang, nổi tiếng chỉ là giấc mơ dưới tán cây, phù du và vô nghĩa, vĩnh cửu bất diệt là cái đẹp, cái đẹp của thiên nhiên và con người.

= & gt; Nguyên quan niệm sống an nhàn là sống hòa hợp với thiên nhiên, tránh xa vinh hoa phú quý, thoát khỏi vòng danh lợi, tâm hồn thanh thản, thư thái.

3. kết luận phân tích bài thơ giải trí

– nêu giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ:

+ nội dung: bài thơ như một lời tâm tình sâu sắc, khẳng định quan niệm sống nhẹ nhàng hòa hợp với thiên nhiên, coi thường danh lợi, luôn giữ được đức tính cao cả trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. .

+ những nét đặc sắc về nghệ thuật: thể thơ thất ngôn bát cú; từ lá được sử dụng lỏng lẻo; những hình ảnh gắn bó với cuộc sống của người dân; sử dụng phép loại suy, điển cố; giản dị, tự nhiên nhưng giàu chất triết lí; nhịp thơ chậm rãi, mượt mà.

2. phân tích giải trí – mẫu 1

nguyễn ngoan cố là người có học thức cao, từng làm công chức, nhưng vì cảnh trường quá bất công nên đã đưa viên quan này về sống ẩn dật; sống một cuộc sống thanh bình và yên bình. Ông còn được biết đến là một nhà thơ nổi tiếng với hai tập thơ chữ Hán “Bạch vân am thi tập” và tuyển tập thơ lục bát “Bạch văn quốc ngữ thi”. bài thơ “nhàn tản” được trích từ bài thơ “bạch vân am thi tập”. Bài thơ được viết theo thể bảy chữ, tám chữ, là tiếng lòng của cụ Nguyễn về cuộc sống đầy niềm vui, bình yên và thanh thản nơi thôn quê.

Trong tất cả bài thơ “nhàn” là tâm hồn tràn đầy niềm vui và sự trong sáng trong tâm hồn của tác giả. đây có thể coi là cao trào, là tinh thần chủ đạo của bài thơ. Chỉ với 8 dòng của tờ tiền, Nguyễn đã hiên ngang mang đến cho độc giả một cuộc sống bình yên nơi vùng quê yên ả.

Bài thơ bắt đầu bằng hai dòng rất đơn giản:

một ngày, một cuốc, một cần câu

chúc bạn vui vẻ

với sự lặp lại “một” – “một” ông đã vẽ ra trước mắt người đọc một khung cảnh bình dị và giản dị ở vùng quê nghèo tuy đơn độc nhưng không cô đơn. hai câu thơ này toát lên sự trong sáng của tâm hồn và sự thanh bình của thiên nhiên vùng quê Bắc Bộ. “Cái cuốc”, “cái cần câu” gợi lên sự chất phác, chất phác của người nông dân chất phác. Hình ảnh cụ Nguyễn hiên ngang hiện lên là hình ảnh một người nông dân cao tuổi điềm đạm, thư thái với những thú vui tao nhã là câu cá và làm vườn. Có thể nói đây là cuộc sống đáng mơ ước của rất nhiều người ở thời phản cũ, nhưng không phải ai cũng có thể rời khỏi suất chính thức và trở lại sân cỏ theo cách này. động từ “bâng khuâng” ở dòng thứ hai đã tạo nên nhịp điệu êm đềm, êm đềm cho người đọc. Mặc cho người ta vui vẻ bên ngoài chốn đông người, Nguyên vẫn ngoan cố phớt lờ, vẫn để mặc cho anh “yên bề gia thất” với cuộc sống hiện tại. cuộc sống của anh khiến nhiều người ngưỡng mộ.

Hai câu thơ thực tế sau đây đã khắc họa rõ nét hơn chân dung “người nông dân họ Nguyễn xưa khiêm tốn”.

hãy tìm một nơi vắng vẻ

những người thông minh đến chỗ bối rối

đây có thể coi là lời tuyên bố sống kiên cường của cụ Nguyễn những năm sau khi quan về ngầm. anh tự nhận mình là “kẻ ngốc” khi tìm nơi vắng vẻ để sống, nhưng đây lại là “kẻ ngốc” khiến nhiều người cảm thấy ghen tị và ngưỡng mộ. anh ấy rất thành thạo trong việc sử dụng những từ ngữ độc đáo, có thể mô tả đầy đủ phong cách của anh ấy. cho rằng những người chọn được vị trí chính thức là những người “khôn ngoan”. một cách nịnh bợ, nịnh hót nhưng chỉ trích rất tinh vi, cũng có thể là tự tâng bốc mình và chỉ trích người khác. tứ thơ trong hai câu này hoàn toàn đối lập nhau từ ngôn ngữ đến ý nghĩa là “dại” – “khôn”, “trống” – “xao xuyến”. nguyễn ngoan cố kiếm chốn ẩn cư để trốn tránh trách nhiệm đất nước? với hoàn cảnh như vậy bây giờ và với tính cách của anh thì “chốn hoang tàn” mới thực sự là nơi đáng sống cho phần đời còn lại của anh. một nhân vật cao thượng, một tâm hồn đáng ngưỡng mộ.

hai câu thơ đã gợi mở cho người đọc về cuộc sống giản dị, thẳng thắn và cao thượng của Nguyễn binh minh:

ăn măng vào mùa đông

mùa xuân tắm trong đầm sen, mùa hè tắm trong ao

một vài câu đã mô tả toàn bộ cuộc sống hàng ngày và việc kiếm ăn của “người nông dân nghèo”. mỗi mùa tương ứng với thức ăn đó, tuy không có mùi vị gì, nhưng những thức ăn sẵn có này lại đậm đà hương vị quê nhà khiến tác giả tâm đắc. mùa thu trong rừng có măng, mùa đông ăn măng. Chỉ bằng một vài cú chạm, Nguyên đã “khéo léo” ca ngợi thiên nhiên xứ Bắc vốn rất hào phóng và đầy ăn chơi. đặc biệt câu thơ “xuân tắm hồ, hè xuống ao” phác những đường nét uyển chuyển, giản dị nhưng lại toát lên vẻ thanh tao không gì sánh được. một cuộc sống dường như chỉ có tác giả và thiên nhiên, một mối quan hệ đồng điệu về tâm hồn.

<3

rượu để cây mà chúng ta sẽ uống

xem sự giàu có như một giấc mơ

Hai câu thơ này là triết lý và lời đúc kết của cụ Nguyễn kiên cường trong thời gian ở ẩn. Đối với một người tài năng với trí tuệ như vậy, giàu có thực sự không phải là một giấc mơ. khi đỗ trạng nguyên, thực ra anh không thiếu thốn về tiền bạc, của cải nhưng đó không phải là điều anh nghĩ tới và anh còn nhiều tham vọng. với phú ông chỉ “như mơ”, như mơ, khi tỉnh dậy thì sẽ tan, sẽ hết. đây có thể được xem là cái nhìn sâu sắc và triết lý nhất. Với một người đàn ông nho nhã, thích sống thoải mái, giàu có chẳng kém gì, yêu quê nhưng yêu một cách thầm lặng nhất. sự so sánh kỳ quặc đã biến hai câu cuối cùng trở thành một câu thơ hoàn hảo.

Như vậy, với 8 câu thơ, bài thơ “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khiến người đọc không khỏi khâm phục, ngưỡng mộ về nhân cách, bản lĩnh và cách ứng xử của ông. ông là người yêu nước, thích hòa bình và tôn trọng xương tủy, ông xứng đáng là tấm gương đáng học hỏi. kết cấu ca từ chặt chẽ, ý tứ giản dị mà sâu sắc, đã làm toát lên tâm hồn và nhân cách của một cụ Trạng nguyên khiêm nhường. Đến nay, nó vẫn được nhiều người ngưỡng mộ.

3. phân tích giải trí – mẫu 2

Nguyên tinh khiem (1491 – 1585) sinh ra tại làng trung xá, xã lý học, huyện vinh bảo, ngoại thành hải phòng. Ông đã để lại tập thơ chữ Hán là Bạch văn am thi tập (khoảng 700 bài thơ) và tập thơ Bạch văn quốc ngữ thi tập (khoảng 170 bài thơ). Những bài thơ của họ Nguyễn chứa đầy triết lý và giáo lý, ca ngợi ý chí cao đẹp của người nho sĩ, ca ngợi quan niệm sống trầm lặng, đồng thời phê phán những tệ nạn của xã hội đương thời.

Lean là một bài thơ danh từ tuyển tập của bach văn quốc ngữ thi. nhan đề bài thơ do người đời sau đặt cho. bài thơ như một lời tâm tình sâu sắc, khẳng định quan niệm rằng cuộc sống thanh nhàn là hòa hợp với thiên nhiên, giữ được đức tính thanh cao, chí khí ngay thẳng, vượt lên danh lợi tầm thường.

hai câu thơ đầu phản ánh cuộc sống bình lặng và thư thái của Nguyễn binh minh:

một ngày, một cuốc, một cần câu,

hãy vui vẻ.

thân phận mưu sinh giữa nông thôn bây giờ chẳng khác gì một “lão nông tri điền”, hàng ngày làm bạn với những công cụ lao động như mai để đào, cuốc đào, cần câu để câu cá, .; ., việc sử dụng rõ ràng các tính từ cho thấy mọi người đã trở nên gần gũi và thân thuộc trong cuộc sống của bạn.

Câu ca dao đưa ta trở lại cuộc sống bình dị, chất phác của ngày xưa “đào giếng lấy nước, cày ruộng kiếm cơm” ngày xưa. thân phận đội nón ra đi, địa vị to lớn, nhiều lợi lộc, nhưng đột ngột từ bỏ mọi thứ để trở về cuộc sống “tự cung tự cấp” đã đành: kiêu ngạo so với lòng tham danh vọng. , tham . kiêu ngạo nhưng không chảnh chọe, chỉ là người nông dân chất phác, chất phác và lương thiện:

hãy vui vẻ.

Hai chữ lưu lạc khéo léo phản ánh phong thái ung dung và tâm thái thoải mái của con người tự cho rằng mình đã tránh được thế gian đầy rẫy tham, sân, si; trong lòng không còn vướng bận những âm mưu, kế hoạch. niềm vui dường như hiện ra trong từng bước chân thong thả, thong thả. niềm vui chi phối âm điệu của bài thơ, nhẹ nhàng, tươi vui và thanh thản đến lạ lùng. cụm từ dù ai đang vui vẫn thể hiện lập trường kiên định của nhà thơ trước lối sống đã chọn. chữ ai vốn là một đại từ tầm thường được tác giả sử dụng trong câu thơ này với nghĩa rất rộng, càng nghĩ càng thấy thú vị.

nguyễn khuất nhục quan, về quê nghĩa là trở về với thiên nhiên. Sống hòa mình với thiên nhiên nghĩa là thoát khỏi sự cạnh tranh của hủ tục, không bị tiền tài, địa vị lôi cuốn, để tâm hồn thanh thản, khoáng đạt:

chúng ta thật ngu ngốc, chúng ta đang tìm kiếm một nơi vắng vẻ

những người khôn ngoan, những người gặp khó khăn.

nhân cách, cao thượng và khiêm tốn, đối lập danh lợi như lửa và nước. cô đơn đối lập với hỗn loạn, chúng ta đối nghịch với mọi người. tìm nơi vắng vẻ không phải là trốn khỏi cuộc đời, mà là tìm nơi thích thú, được sống thoải mái, bình yên, tránh xa những nơi nguy hiểm, nguy hiểm về vinh nhục. một nơi vắng vẻ là một nơi không cần phải vượt qua hoặc xô đẩy. nơi vắng vẻ là nơi thiên nhiên xanh tươi, mang lại sự thanh thản cho tâm hồn. nơi loạn lạc là nơi cửa hữu trống trải, cờ phướn, đường nhiều ngựa xe. đi đến nơi hỗn loạn là đi đến một khu chợ nhộn nhịp, nơi mọi người bị xô đẩy, xô đẩy và chà đạp lên nhau để giành quyền, danh dự của gia đình. đây là một nơi rất nguy hiểm.

Trạng Nguyên khiêm tốn là một học giả có trí tuệ vô cùng sáng suốt. khôn ngoan trong sự lựa chọn: chúng tôi dại dột, chúng tôi tìm nơi vắng vẻ, tuy nhiên: người khôn ngoan, kẻ đến nơi đều xôn xao. khôn ngoan trong cách nói đùa thông minh, ý nghĩa ngược lại: ngu ngốc nhưng thực sự khôn ngoan, và khôn ngoan nhưng trở nên ngu ngốc.

Trong một bài thơ khác, Nguyễn ấp úng viết:

khôn ngoan nhưng độc hại là khôn ngoan,

Kẻ ngốc nhu mì là khôn ngoan.

(tên bài thơ)

vậy đó là quan niệm ngu và khôn của nguyễn ngoan cố xuất phát từ trí tuệ và những triết lý bình dân: ở hiền gặp lành; nơi cái ác gặp cái ác.

cuộc sống của con người thanh đạm nhưng cao cả:

ăn măng vào mùa thu, ăn giá vào mùa đông,

Mùa xuân tắm trong đầm sen, mùa hè tắm trong ao.

hai câu thơ tả cảnh sinh hoạt giản dị nhưng không kém phần thú vị ở vùng quê với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. nhà thơ nói về những sinh hoạt thường ngày như ăn uống, tắm giặt tuy vô cùng đơn giản nhưng thú vị là mùa nào cũng có, không cần vất vả tìm kiếm về tinh thần, cuộc sống bình dị như vậy để con người tự do, tự tại, tự tại. Không cần khom lưng, cùng cầu nguyện với người khác, không cần chạy theo danh lợi, không cần bị giới hạn hay ràng buộc bởi bất kỳ quy tắc nào.

những món ăn đồng quê, dân dã như măng, măng đều là cây nhà lá vườn, do chính tay tôi làm, bằng công sức của mình. ăn rồi, vẫn ở, vẫn sống? các quan chức bây giờ cũng tắm ao sen, tắm táp như bao dân làng khác.

Là nhà triết học có trí tuệ uyên thâm, họ Nguyễn kiên cường thấu triệt lý lẽ của sự thay đổi, hiểu rõ quy luật của tạo hóa và xã hội. Theo anh, sự khôn ngoan của một người công chính là quay lưng lại với danh lợi, tìm sự thư thái cho tâm hồn và sống thanh thản, hòa hợp với thiên nhiên trong lành.

Cái nhìn sáng suốt và cái nhìn thông minh của nhà thơ được tập trung nhiều hơn ở hai dòng cuối. nhà thơ nhìn người “say” để “tỉnh” và tỉnh hơn bao giờ hết:

rượu, đến cây, chúng ta sẽ uống,

Nhìn sự giàu có giống như một giấc mơ.

trạng thái khẳng định một lần nữa sự lựa chọn của bạn về lối sống giải trí. cuộc sống nhàn rỗi này là kết quả của một nhân cách và trí tuệ khác thường. trí tuệ sáng suốt nhận ra rằng danh vọng, giàu sang và quyền quý như một giấc mơ. trí tuệ nâng cao nhân cách, làm cho tư thế vững vàng hơn để nhà thơ đủ quyết tâm rời xa chốn quan trường loạn lạc, danh lợi, về nơi thiên nhiên hoang vắng nhưng trong sáng, cao thượng để nuôi dưỡng chí khí, giữ mình. hai từ của lòng tốt.

nhàn rỗi là một chủ đề rất phổ biến trong thơ ca trung đại. nhàn hạ là một tư tưởng và văn hóa rất sâu sắc của người xưa, đặc biệt là giới trí thức. sống yên tĩnh hòa hợp với thiên nhiên, phù hợp với việc tu dưỡng nhân cách, có điều kiện chăm sóc, kéo dài tuổi thọ. cuộc sống thanh nhàn mang lại cho con người những thú vui lành mạnh, biết cách sống tĩnh lặng, biết cách tìm sự nhàn hạ là một học thuyết triết học tuyệt vời.

quan niệm về một cuộc sống trầm lặng của Nguyễn khiêm nhường cứng cỏi không nhằm trốn tránh những khó khăn, vất vả về vật chất, quay lưng lại với xã hội, chỉ quan tâm đến cuộc sống yên tĩnh của bản thân, ông cho rằng nhàn hạ là nơi tránh xa của danh lợi, mà anh ta gọi là nơi bối rối. nhàn hạ là sống hòa mình với thiên nhiên, trở về với thiên nhiên để tu tâm dưỡng tính. Nguyễn hiên ngang hạ mình nhưng không nhàn hạ, luôn giữ lòng yêu nước, thương dân. Trong bối cảnh xã hội phong kiến ​​đương thời đã có những biểu hiện suy đồi về đạo đức, quan niệm sống bình dị khiêm tốn của Nguyễn Bính mang nhiều yếu tố tích cực.

Chân dung cụ nguyễn hiên ngang thể hiện khá rõ nét qua những vần thơ ung dung. từ bức chân dung giản dị, mộc mạc ấy toát lên vẻ đẹp nhân cách cao cả và vẻ đẹp trí tuệ tuyệt vời của một nhà Nho vĩ đại mà tên tuổi muôn đời.

4. phân tích bài thơ nhàn – mẫu 3

“thơ được sinh ra từ lòng người”, chất chứa nhiều cảm xúc và trăn trở trong người viết. một tác phẩm thơ chân chính, muốn chiến thắng sức mạnh của thời gian và lòng người, chứa đựng những tình cảm thực, suy nghĩ thực và phải viết bằng mồ hôi nước mắt của nhà thơ. Với “Leisure”, Nguyễn đã gửi đến độc giả những hiểu biết sâu sắc và triết lý về con người và thời đại mà cho đến ngày nay con người vẫn phải suy ngẫm.

cũng giống như nguyễn trai, sống giữa thời đại loạn lạc, lộn xộn, nơi những giá trị đạo đức truyền thống bị đảo lộn, con người trở nên ích kỷ hơn, nguyễn ngoan cố trở về sống chân quê, vui thú với việc “cày lặng lẽ câu cá trong sa trường ”, vui với lòng mình, tạm quên đi cuộc đời“ dù ai cũng vui ”. gửi gắm ý chí đất nước, cuộc đời đất nước của nhà thơ hiện lên như một “lão nông”

một ngày, một cuốc, một cần câu

chúc bạn vui vẻ

đoạn thơ mở đầu bằng phép liệt kê kết hợp với ngụ ngôn “một người” đã gợi mở về một cuộc sống bình dị, dễ dàng với những dụng cụ lao động quen thuộc của người dân quê. một cuộc sống bình dị, giản dị với “mai”, “cuốc” và “cần câu” mà bình yên, thanh tao. Đặc biệt, hai từ “réo rắt” kết hợp với nhịp thơ 2/2/3 hóm hỉnh đã gợi lên chân dung Nguyễn hiên ngang giữa chốn thôn quê mộc mạc. đó là tư thế ung dung tự tại của một thi nhân, cũng như nhịp sống thường ngày của nhân vật trữ tình. thanh thản, tự tại là tâm trí con người đã xác định được xu hướng sống của mình, tránh xa trần tục, lòng mình không vướng bận xung quanh. câu thơ cũng là sự thể hiện thái độ khước từ cuộc sống thị thành, từ chối mọi sự tham gia, quay lưng lại với thế giới trụy lạc để duy trì bầu không khí thanh tao.

Trở về với cuộc sống giản dị và chân chất, Nguyễn kiên cường tiếp tục gắn bó với đời sống tinh thần và lối sống hòa hợp với thiên nhiên. thuận theo quy luật của trời đất, theo bốn mùa

ăn măng vào mùa thu, ăn giá vào mùa đông,

Mùa xuân tắm trong đầm sen, mùa hè tắm trong ao.

Những nguyên liệu tạo nên cuộc sống, không gian sống rất bình dị, đơn sơ với “tre”, “giá” là những loại thức ăn dân dã có sẵn trong tự nhiên; “Ao”, “hồ” là những cầu cảng nông thôn đơn sơ và bình dị. đó là sự thể hiện một cách sống, một thái độ ứng xử ý nhị không khắc khổ mà ngược lại, chắt lọc những nét cao quý của nhân vật trữ tình. con người hiện nay hòa hợp với thiên nhiên với bốn mùa, với sự xoay chuyển của thời gian và không thể tách rời thiên nhiên.

thì đối với nguyen bướng bỉnh, nhàn hạ trước hết là một cách sống. cùng với “cảnh ngày hè” của nguyễn trai đã khẳng định một lối sống thanh cao của bậc hiền nhân giữa lúc đất nước suy tàn, loạn lạc: rời bỏ trần tục trở về với thiên nhiên, sống giản dị, trong sáng để tâm hồn thanh thản. và sạch sẽ.

nhà thơ đau khổ, phê phán tình trạng con người, sự suy đồi đạo đức và tìm kiếm sự hòa giải nội tâm thông qua một lối sống tách biệt với thế giới. hơn một lần, anh bày tỏ thái độ khước từ lối sống đô thị thành thị, sống cuộc sống tự do, không cạnh tranh.

chúng ta thật ngu ngốc, chúng ta đang tìm kiếm một nơi vắng vẻ,

những người khôn ngoan, những người gặp khó khăn.

bằng nghệ thuật hết sức tài tình, tác giả đã đối lập “khoảng không” với “nơi xao xuyến”, giữa “ta” và “người”. “xao xuyến” ấy là chốn trần gian đầy nhân văn, tính toán, xô bồ mà Nguyễn đã miệt mài chiêm nghiệm, căm ghét, thể hiện trong nhiều bài thơ khác: “phố vốn tranh giành”; “Giả vờ ở thành phố có ích lợi gì?” ngược lại, ông bênh vực lối sống mộc mạc, thanh đạm, tiết kiệm, chủ trương “chốn thanh vắng” và đề cao tinh thần tự do với cách nói khiêm tốn “chúng tôi là những kẻ ngu si…”. tất nhiên, đó là một lối sống mới, hấp dẫn vì vẻ đẹp đạo đức, tách khỏi những “thói đời”. nếu nhìn cuộc sống ấy dưới góc độ đạo đức Nho giáo một chiều thì không dễ dàng chấp nhận những mầm mống của lối sống mới đó. trên tất cả, ông đã dung hòa những phức tạp bên trong với một tinh thần tự do và một thái độ tách biệt khỏi thế giới, đặt mình lên trên thế giới. nhưng suy cho cùng, đó là sự khôn ngoan của bậc vĩ nhân, hãy quay lưng lại với danh và lợi, sống thoải mái để đầu óc luôn thư thái.

nguyễn đã hiên ngang chứng kiến ​​và chiêm nghiệm chân lý cuộc đời, đi đến tận cùng khôn cùng để thấu hiểu và tìm ra triết lý “nhàn”, cũng là triết lý nhân sinh sâu sắc

rượu, đến cây, chúng ta sẽ uống

xem sự giàu có như một giấc mơ

nhà thơ đã nói đến giấc mơ dưới tán dương liễu rủ để đánh thức một chân lý: của cải, vật chất chỉ là ảo ảnh, như một giấc mơ, chợt đến rồi chợt đi. phải trải qua mọi hoàn cảnh sống, cuộc đời dài dằng dặc như vậy thì cụ nguyễn mới cứng cỏi đạt đến ứng xử văn hóa với tinh thần triết lý thanh nhàn, tự tại. một tinh thần nhàn rỗi và tự do như vậy thường thể hiện qua lời nói hơn là hành động, cách giải quyết tình huống hơn là tham vọng suốt đời, sự miễn cưỡng độc chiếm một trạng thái tâm trí hơn là khả năng tìm ra một lối thoát tối ưu. bởi vì suy cho cùng, trong một xã hội mà ở đâu cũng có phù phiếm, của cải là phù du, chẳng mấy ai có thể như những cụ nguyễn, nguyễn trai cứng đầu nhìn ra lẽ sống của cuộc đời, giữ gìn khí phách thanh tao. nhân vật trữ tình đã đến cơn say để tỉnh táo, dùng giấc mơ để nói lên sự thật và thốt lên những suy ngẫm sâu sắc. cũng như chính nhà thơ đã thể hiện rõ trong lời tựa bài thơ am bach văn: “ôi, nói đến tâm là nói đến nơi ý chí đã đến, mà bài thơ là đề tài nói đến ý chí. có người kiên định sống đạo đức, có người quyết chí sống công danh, lại có người quyết chí sống thanh nhàn. thuở nhỏ được gia đình dạy dỗ, lớn lên bước vào giới hàn lâm, về già chỉ thích yên tĩnh, thưởng ngoạn cảnh sông núi … “

có thể nói nhàn là đề tài rất phổ biến trong thơ ca trung đại, là tư tưởng văn hóa rất sâu sắc của người xưa, đặc biệt là của giới trí thức. sống ẩn dật với thiên nhiên để tu dưỡng nhân cách, đem lại thú vui tao nhã cho con người. biết sống lặng lẽ, biết tìm nhàn hạ là một học thuyết triết học lớn. Bài thơ “nhàn” của Nguyễn đã khắc sâu vào tâm hồn con người đối diện với một thời đại loạn lạc, hoang mang, biến động, đổi thay. so với nhiều tác phẩm thơ khác, sáng tác của ông chứa đựng sự phức tạp của tâm trạng. nhà thơ đã đưa ra nhiều cách hình dung cuộc sống, nhìn cuộc đời từ nhiều góc độ, đặt mình vào từng hoàn cảnh cụ thể mà bài thơ “nhàn” chỉ là một chiêm nghiệm riêng. điều này đặt ra yêu cầu là phải xem xét toàn diện việc tiếp nhận thơ văn, song cũng phải chú ý đến mối quan hệ giữa các dòng hài phù hợp với từng cảnh, từng giai đoạn cụ thể của cuộc đời.

Như vậy, đến cuối bài thơ, người đọc vẫn dừng lại ở một cuộc sống êm đềm, thanh tao, giản dị mà cụ Nguyễn ấp ủ cho là một lối sống, một triết lý nhân sinh sâu sắc: vinh hoa phú quý chỉ là phù du, như một giấc mộng, bỏ đi rằng. nơi trần tục để giữ không khí trong sạch là trí tuệ tuyệt vời. điều đó đã làm nên sức sống bất diệt của tác phẩm trước sức mạnh của thời gian và sức sống của con người.

5. phân tích ngắn gọn các bài thơ giải trí

nguyễn ngoan cố là người có học thức cao, từng làm công chức, nhưng vì cảnh trường quá bất công nên đã đưa viên quan này về sống ẩn dật; sống một cuộc sống thanh bình và yên bình. Ông còn được biết đến là một nhà thơ nổi tiếng với hai tập thơ chữ Hán “Bạch vân am thi tập” và tuyển tập thơ lục bát “Bạch văn quốc ngữ thi”. bài thơ “nhàn” được trích từ tập thơ “bặt vô âm tín”. Bài thơ được viết theo thể bảy chữ, tám câu, là tiếng nói từ trái tim của cụ Nguyễn về một cuộc sống đầy niềm vui, bình yên và thanh thản nơi thôn quê.

Xuyên suốt bài thơ là tâm hồn tràn đầy niềm vui và sự trong sáng trong tâm hồn của tác giả. đây có thể coi là cao trào, là tinh thần chủ đạo của bài thơ. Chỉ với 8 câu thơ Đường luật, Nguyễn đã hiên ngang dẫn dắt người đọc vào cuộc sống thanh bình nơi miền quê yên ả.

Bài thơ bắt đầu bằng hai dòng rất đơn giản:

một ngày, một cuốc, một cần câu

chúc bạn vui vẻ

với sự lặp lại của “one” – “one” đã vẽ ra trước mắt người đọc một khung cảnh bình dị và giản dị ở một cánh đồng nghèo tuy đơn độc nhưng không hề đơn độc. hai câu thơ này toát lên sự trong sáng của tâm hồn và sự thanh bình của thiên nhiên vùng quê Bắc Bộ. “Cái cuốc”, “cái cần câu” gợi lên sự chất phác, chất phác của người nông dân chất phác. Hình ảnh cụ Nguyễn hiên ngang hiện lên là hình ảnh một người nông dân cao tuổi điềm đạm, thư thái với những thú vui tao nhã là câu cá và làm vườn. Có thể nói đây là cuộc sống đáng mơ ước của bao người trong thời đại phong kiến ​​xưa, nhưng không phải ai cũng có thể rời bỏ chốn quan trường mà về quê theo cách này. động từ “bâng khuâng” ở dòng thứ hai đã tạo nên nhịp điệu êm đềm, êm đềm cho người đọc. Mặc cho người ta vui vẻ bên ngoài chốn đông người, Nguyên vẫn ngoan cố phớt lờ, vẫn để mặc cho anh “yên bề gia thất” với cuộc sống hiện tại. cuộc sống của anh khiến nhiều người ngưỡng mộ.

Hai câu thơ thực tế sau đây đã khắc họa rõ nét hơn chân dung “người nông dân họ Nguyễn xưa khiêm tốn”.

hãy tìm một nơi vắng vẻ

những người thông minh đến chỗ bối rối

đây có thể coi là lời tuyên bố sống kiên cường của cụ Nguyễn những năm sau khi quan về ngầm. anh tự nhận mình là “kẻ ngốc” khi tìm nơi vắng vẻ để sống, nhưng đây mới chính là “kẻ ngốc” khiến nhiều người phải ghen tị và ngưỡng mộ. anh ấy rất thành thạo trong việc sử dụng những từ ngữ độc đáo, có thể mô tả đầy đủ phong cách của anh ấy. cho rằng những người chọn được vị trí chính thức là những người “khôn ngoan”. một cách nịnh bợ, nịnh hót nhưng chỉ trích rất tinh vi, cũng có thể là tự tâng bốc mình và chỉ trích người khác. tứ thơ trong hai câu này hoàn toàn đối lập nhau từ ngôn ngữ đến ý nghĩa là “dại” – “khôn”, “trống” – “xao xuyến”. nguyễn ngoan cố kiếm chốn ẩn cư để trốn tránh trách nhiệm đất nước? với những lúc như thế này và với tính cách của anh, “nơi vắng vẻ” mới thực sự là nơi để sống phần đời còn lại của anh. một nhân vật cao thượng, một tâm hồn đáng ngưỡng mộ.

hai câu thơ đã gợi mở cho người đọc về cuộc sống giản dị, thẳng thắn và cao thượng của Nguyễn binh minh:

ăn măng vào mùa đông

mùa xuân tắm trong đầm sen, mùa hè tắm trong ao

một vài câu đã mô tả toàn bộ cuộc sống hàng ngày và việc kiếm ăn của “người nông dân nghèo”. mỗi mùa tương ứng với thức ăn đó, tuy không có mùi vị gì nhưng những thức ăn sẵn có này lại đậm đà hương vị quê nhà khiến tác giả cảm thấy dễ chịu và hài lòng. mùa thu trong rừng có măng, mùa đông ăn măng. Chỉ bằng một vài cú chạm, Nguyên đã “khéo léo” ca ngợi thiên nhiên xứ Bắc vốn rất hào phóng và đầy ăn chơi. đặc biệt câu thơ “xuân tắm hồ, hè xuống ao” phác những đường nét uyển chuyển, giản dị nhưng lại toát lên vẻ thanh tao không gì sánh được. một cuộc sống dường như chỉ có tác giả và thiên nhiên, một mối quan hệ đồng điệu về tâm hồn.

<3

rượu để cây mà chúng ta sẽ uống

xem sự giàu có như một giấc mơ

Hai câu thơ này là triết lý và đúc kết của nguyễn nhơn ngâm trong thời gian ở ẩn. Đối với một người tài năng với trí tuệ như vậy, giàu có thực sự không phải là một giấc mơ. khi đỗ trạng nguyên, thực ra anh không thiếu thốn về tiền bạc, của cải nhưng đó không phải là điều anh nghĩ tới và anh còn nhiều tham vọng. với phú ông chỉ “như mơ”, như mơ, khi tỉnh dậy thì sẽ tan, sẽ hết. đây có thể được xem là cái nhìn sâu sắc và triết lý nhất. Với một người đàn ông nho nhã, thích sống thoải mái, giàu có chẳng kém gì, yêu quê nhưng yêu một cách thầm lặng nhất. sự so sánh kỳ quặc đã biến hai câu cuối cùng trở thành một câu thơ hoàn hảo.

Như vậy, với 8 câu thơ, bài thơ “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khiến người đọc không khỏi khâm phục, ngưỡng mộ về nhân cách, bản lĩnh và cách ứng xử của ông. ông là người yêu nước, thích hòa bình và tôn trọng xương tủy, ông xứng đáng là tấm gương đáng học hỏi. thể thơ song thất lục bát được kết cấu chặt chẽ, tứ thơ giản dị nhưng có ý nghĩa sâu sắc, toát lên tâm hồn và nhân cách của cụ Nguyễn. Đến nay, nó vẫn được nhiều người ngưỡng mộ.

6. phân tích bài thơ nhàn tản của nguyễn minh minh

Nguyên tinh khiem (1491 – 1585) sống qua gần một thế kỷ đầy biến động của chế độ phong kiến ​​ở Việt Nam: le – mac, xưng hùng, trinh – nguyễn tranh. trong những xáo trộn làm rạn nứt những mối quan hệ cơ bản của chế độ phong kiến, vạch trần những thế lực đen tối làm đảo lộn cuộc sống của con người, đồng thời trung thành đề cao những giá trị đạo đức tốt đẹp qua bài thơ giàu chất triết lí về nhân sinh và thế giới, với thái độ sâu sắc của bán kính lớn.

nhàn hạ là bài thơ tả cảnh của một nhà thơ nổi tiếng nêu lên quan niệm về cuộc sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt lên khỏi sự tầm thường xấu xa của một cuộc đời tranh giành danh lợi.

phân tích cơ thể của các bài thơ giải trí

nhà thơ đã nhiều lần giữ vững lập trường đạo đức Nho giáo để bộc lộ quan niệm sống của mình. những suy tư này gắn liền với quan niệm đạo đức của con người, thể hiện một tầm nhìn lành mạnh về cuộc sống giữa thời thế điên cuồng. nhàn hạ là cách quen thuộc của Nho gia để đối mặt với thực tế, trốn tránh cuộc sống và tìm niềm vui trong thiên nhiên, cỏ cây, để giữ trong sạch.

hành trình nhàn nhã của nguyễn kiên cường dựa vào quy luật đó, hỏi thăm dân chúng, đối nghịch với thường dân bằng hàm ý vừa kiêu ngạo vừa thâm thúy. cuộc sống tĩnh lặng hiện ra với nhiều điều thú vị:

một ngày một cuốc, một cần câu, ai vui cũng chẳng quan trọng

ngay trước mắt người đọc sẽ hiện ra một con người nguy nga, khiêm tốn giữa chốn xô bồ như một người nông dân thực thụ. nhưng đó là cách lựa chọn để hưởng thụ thanh nhàn của các nhà Nho tìm cuộc sống “câu cá, tiều, canh, thối” như một hình thức đối lập tột cùng với các loại thú vui khác, để khẳng định nghĩa khí cao cả. Hoàn toàn từ cuộc sống đất nước này!

Cái nhìn thơ được phác họa trong đoạn thơ thật độc đáo, mang đến sự thanh thản tĩnh tại của nhà thơ trong một cuộc sống thực sự nhàn rỗi. thực ra, sự hiện diện của mai, cuốc, cần câu chỉ là cách tô điểm cho cái thói trăng hoa, lập dị của nhà thơ.

Những công cụ lao động quen thuộc của người dân bình thường trở thành hiện thân của cuộc sống không vướng bận những ưu tư trần tục. đằng sau những danh sách của nhà thơ, chúng ta nhận ra rằng suy nghĩ của ông không tách rời quan điểm phổ biến của một người chọn cuộc sống ẩn tu làm lý do cho riêng mình.

Điều kiện nhìn từ cuộc sống của con người chứa đựng một vẻ đẹp cao cả, một triết lý sống bền vững.

Đó cũng là cơ sở để nhà thơ khẳng định một thái độ sống dũng cảm:

chúng ta ngu ngốc, chúng ta tìm kiếm một nơi yên tĩnh, người khôn ngoan tìm kiếm một nơi yên tĩnh

hai câu thực tế là một cách rõ ràng để phân biệt giữa nhà thơ và ai, thú vui nào về ranh giới nhận thức, cũng như vị trí giữa cuộc đời. phép đối chuẩn đã tạo nên hai cực đối lập: một bên là nhà thơ ngạo nghễ gọi ta, một bên là người; một bên là sự dại dột của tôi, một bên là sự khôn ngoan của bạn; một nơi hoang vắng với một nơi náo động.

Đằng sau những đối cực này là những ẩn ý tạo thành phản đề khẳng định thái độ khiêm tốn ngoan cố của cụ Nguy. chính nhà thơ đã nhiều lần định nghĩa cái ngu – cái khôn bằng cách nói ngược này. vì người ta dùng cái ngu: khôn để tính toán, tranh giành thiệt hơn, nên thực chất là ngu: khôn là thực dụng ích kỷ làm cho con người trở nên tầm thường, dụ họ vào những ham muốn thấp kém.

mượn cách diễn đạt ấy, nhà thơ chứng tỏ mình có một vị thế cao siêu và đối lập với những kẻ bị bụi trần phù phiếm làm mờ mắt giữa thời loạn lạc. nguyễn bướng bỉnh cũng chủ động tìm nơi vắng vẻ, ít khói bụi.

nhưng khác với cách nói xưa nay “thế gian còn thức, ta một mình ta say” đầy u uất, hoàn cảnh đã cười vào thói đời bằng một nụ cười thầm lặng nhưng chua xót, đáng phê phán lúc này của cả một xã hội. . người chạy theo danh lợi, với tư thế của một quý ông không màng đến những trò chơi dại dột và khôn ngoan.

cũng vì thế mà nhà thơ mới cảm nhận được hết vẻ đẹp của cuộc sống thanh nhàn:

ăn măng vào mùa thu, ăn xuân vào mùa đông, tắm trong đầm sen, tắm ao vào mùa hè

khác với cách hưởng thụ vật chất bằng cách đắm mình trong vinh hoa, họ Nguyễn đã ngoan cố tận hưởng những ưu ái của thiên nhiên hào hiệp với tấm lòng chan hòa với thiên nhiên. được thiên nhiên ban tặng trong bốn mùa xuân – hạ – thu – đông, nhà thơ cũng có thể hấp thụ tinh hoa của đất trời để gột rửa mọi lo toan, ưu phiền.

rằng cuộc sống mang dấu ấn của sự thoát ly khỏi cuộc sống, điều này thể hiện quan niệm “vị tha” của nhà Nho. đồng thời có sự gần gũi với triết lý “vô vi” của Đạo gia và “thoát ly thế gian” của Phật giáo. Nhưng gạt những triết lý siêu hình sang một bên, chúng ta nhận ra con người nghệ sĩ thực sự của Nguyên một cách hiên ngang, hòa hợp với thiên nhiên một cách sang trọng bằng tất cả sự hồn nhiên trong sáng của trái tim mình.

Không chỉ vậy, những hình ảnh măng non, búp măng, đầm sen còn mang ý nghĩa biểu tượng gắn liền với phẩm chất cao quý của người đàn ông lịch lãm, sống không thẹn với lòng. trong sự hòa hợp với thiên nhiên, ông là một chúa tuyết sống theo những điều xa xỉ thiêng liêng của mình. quan niệm của nhà thơ về từ nhàn hạ được phát triển đầy đủ với tuyên bố:

rượu tới cây ta sẽ uống, thấy giàu sang như mơ

mượn kinh điển một cách hết sức tự nhiên, nguyễn kiên cường thể hiện thái độ sống của mình là dứt khoát thoát ly giàu sang, nổi tiếng. quan niệm đó vốn gắn liền với Đạo – Trang, với ý nghĩa hoài nghi tiêu cực, nhưng trong thời đại mà thi nhân đang sống lại bộc lộ ý nghĩa tích cực. cuộc sống của những người theo đuổi danh vọng và tài sản, điều mà anh ta ghét và lên án trong nhiều bài thơ về hiện trạng của mình:

trong thế giới mới, người nghèo hoặc người giàu sẽ đến, nếu khó khăn họ sẽ rời bỏ (thói quen sống)

dân giàu nước mạnh đi đôi với địa vị nguy hiểm ngoan cố chỉ là cuộc đời của những con người thủ đoạn xấu xa, chà đạp nhau để kiếm sống. chúng là một bầy chuột đông đảo, chuyên làm hại những người mà ông căm ghét và lên án sâu sắc trong bài thơ của ông (ghét loài chuột). vì vậy, có thể hiểu thái độ xem giàu sang như mơ cũng là cách nhà thơ chọn cách sống gần gũi, chia sẻ với mọi người.

Cuộc sống thanh đạm nhưng cao quý của những người bình dân rất đáng được trân trọng vì nó mang lại sự thanh thản và tránh cho nhân cách bị hoen ố trong một xã hội chạy theo sức mạnh đồng tiền. Nguồn gốc triết học của Nguyễn gắn liền với quan niệm sống lành mạnh và tốt đẹp của mọi người.

cuối bài phân tích bài thơ nhàn bài thơ nhàn bao hàm toàn bộ triết lý, tình cảm và trí tuệ của nguyễn khiem, bộc lộ đầy đủ nhân cách của vị đại thần ẩn thân. với thiên nhiên, với cuộc sống của nhân dân để chống lại triệt để toàn bộ xã hội phong kiến ​​đang trên con đường suy vong, mục nát. bài thơ là kinh nghiệm sống, là lòng dũng cảm cứng cỏi của một con người chân chính.

7. cảm nghĩ về những bài thơ giải trí

Có thể nói, nhàn nhã là bài thơ được sáng tác trong thời gian chúa Nguyễn bướng bỉnh về quê ở ẩn. chữ nhàn đã thể hiện thái độ sống, một triết lý sống rất rõ ràng của ông. và triết lý đó được tóm gọn trong một từ duy nhất “giải trí”.

ở đầu bài thơ, tác giả viết một câu như sau:

một ngày, một cuốc, một cần câu

chúc bạn vui vẻ

chúng ta có thể thấy ngay rằng hai dòng đầu của bài thơ gây ấn tượng đầu tiên với sự ám chỉ “một” được lặp lại ba lần trong một dòng. không chỉ liệt kê những thứ quen thuộc là những hình ảnh “mai”, “cuốc”, “cần câu” mà còn là những vật dụng rất đỗi thân quen mang hình bóng của một người nông dân chân chất vô cùng mang bóng dáng của một “người gánh khách sáo”. . đó là dáng người thư thái, thoải mái cũng như tâm trạng điềm đạm, không vướng bụi trần.

bạn có thể xem câu ca dao như một lời thách thức của một cụ nguyễn khiêm tốn đối với thế giới, và cho dù ai đó có thích thú như thế nào đi chăng nữa, chúng ta vẫn tận hưởng sự yên bình và vui vẻ của cuộc sống nông thôn hơn nữa. đó cũng là một trong những lời nói thách thức thể hiện tinh thần yên bình và vui vẻ của một lão nông.

Đọc hai câu tả thực sau đây, chân dung nhân vật trữ tình và triết lý “nhàn” của nhà thơ được thể hiện qua câu văn:

hãy tìm một nơi vắng vẻ

những người thông minh đến chỗ bối rối

Không khó để nhận thấy sự đối lập giữa các nhân vật trong hai câu thơ cho thấy đó là “một nơi vắng vẻ” và một nơi rất thanh bình, yên ả và không suy nghĩ. thực ra, đó là tâm hồn con người luôn hòa nhập với thiên nhiên. Đối với nhà Nguyễn khiêm tốn, “chốn xôn xao” còn để chỉ chốn quan trường với những nhẫn tâm danh lợi, ganh ghét, đố kỵ. và nếu tác giả “dại dột” thì lên đồng, còn tác giả “khôn ngoan” thì ra sân chính thức.

nhưng trong câu này thì ngược lại, “savage” có nghĩa là khôn ngoan, và từ “khôn” có nghĩa là ngu ngốc. bạn có thể thấy một cách nói ngược lại rất mỉa mai: một người khôn ngoan chọn một nơi náo nhiệt đầy tham lam và dục vọng, luôn phải đắn đo suy nghĩ, khiến cuộc sống luôn vội vã. Hai cụm từ này dường như mang ý nghĩa mỉa mai mỉa mai những con người chỉ biết đắm chìm trong tham vọng, trong vòng danh lợi. về phần tác giả, dường như ông đã phủ định vòng tròn danh lợi bằng cách thể hiện chính kiến ​​của mình, khí chất cao quý và trong sáng.

qua 4 câu thơ, ta cũng thấy rõ cụ nguyễn đã kiên cường lựa chọn cuộc sống thanh cao, hòa nhập với thiên nhiên và tránh xa tham vọng. bằng cách đọc hai bài luận, nó cũng gợi ý cho người đọc về cuộc sống vô cùng giản dị của người viết lời.

ăn măng vào mùa đông

mùa xuân tắm trong đầm sen, mùa hè tắm trong ao

tre, nứa, măng, giá đỗ được coi là những thực phẩm dân dã từ xa xưa mà dân gian thường ăn. Nó gắn liền với cuộc sống thôn quê giản dị và rất đỗi thân quen trong cuộc sống. Đối với câu thơ:

mùa xuân tắm trong đầm sen, mùa hè tắm trong ao

Câu thơ gợi cho ta những hình ảnh quen thuộc nơi làng quê, về nếp sống. khi về với thiên nhiên, khi về với làng quê. tác giả thực sự hòa mình với cảnh quê trong lành, người đọc có thể thấy được một cuộc sống thanh đạm, một cuộc sống mà dường như mùa nào cũng mang lại sự nhàn hạ, thư thái. trên thực tế, đó là một cuộc sống được nhiều người ngưỡng mộ mà ít ai có được. chỉ là cảnh sinh hoạt giản dị nhưng thể hiện được sự đồng điệu trong bước đi của thiên nhiên, đồng điệu với con người. Cũng chính từ cuộc sống thường ngày này, tác giả đã đúc kết được hai câu cuối cùng, với một kết luận tinh thần và triết lý đẹp đẽ nhất:

rượu để cây mà chúng ta sẽ uống

xem sự giàu có như một giấc mơ

huyền thoại về “cái cây” xuất hiện như muốn nói lên rằng giàu sang và danh vọng là một thứ phù phiếm, đồng thời nó cũng chỉ là một phù du trôi nổi rồi biến mất như một giấc mơ. và từ đó ta có thể thấy đây cũng là một thái độ rất đáng trân trọng bởi tác giả đã sống trong thời kỳ mà chế độ phong kiến ​​đang khủng hoảng. trong xã hội đó khi nền tảng đạo đức Nho giáo bị phá vỡ, rạn nứt và thực tế là thời kỳ con người lấy tiền bạc làm thước đo cho mọi giá trị khác.

Tóm lại, nhàn hạ đã thể hiện rõ sự kết hợp hài hoà giữa chất triết lí và chất trữ tình, thể hiện vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của người ẩn sĩ khiêm nhường. Đồng thời, tác phẩm còn thể hiện rõ một tâm hồn yêu thiên nhiên, hòa mình với thiên nhiên, không màng danh lợi, làm gương cho thế hệ mai sau.

Xem các thông tin hữu ích khác trong phần tài liệu của hoatieu.vn.

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Top 6 mẫu phân tích Nhàn hay nhất – Cảm nhận về bài thơ Nhàn. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *