Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
71 lượt xem

Phân tích Vợ nhặt hay nhất (19 mẫu) – Văn 12

Bạn đang quan tâm đến Phân tích Vợ nhặt hay nhất (19 mẫu) – Văn 12 phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Phân tích Vợ nhặt hay nhất (19 mẫu) – Văn 12

Phân tích Vợ của Kim Uni cung cấp một bản tóm tắt, sơ đồ tư duy và 19 bài văn mẫu được đánh giá cao. qua 19 bài văn mẫu phân tích Vợ nhặt giúp các em có thêm gợi ý tham khảo củng cố kiến ​​thức, biết cách lựa chọn ý hay khi làm bài thi để đạt kết quả cao trong kì thi THPT quốc gia 2022.

Phân tích bài văn nhặt vợ sẽ giúp các em học sinh tìm hiểu vẻ đẹp của tình người qua ba nhân vật chính trong truyện là người anh, bà lão và người vợ nhặt. không chỉ vậy, vợ nhặt còn thể hiện hiện thực cuộc sống làng quê nghèo khó, đồng thời phản ánh giá trị nhân đạo sâu sắc. tác phẩm thể hiện sự trân trọng, nâng niu những ước mơ làm thay đổi cuộc đời của con người. bên cạnh bài văn phân tích vợ nhặt: tóm tắt bài nhặt vợ, phân tích bà lão, phân tích nhân vật tràng giang.

Bạn đang xem: Phan tich bai tho vo nhat

lược đồ phân tích truyện Người vợ nhặt

i. giới thiệu:

  • kim uni là một nhà văn viết truyện ngắn chuyên nghiệp, tập trung vào những khung cảnh nông thôn và hình ảnh của một người nông dân lao động.
  • vợ của anh ta đã sưu tập một bộ sưu tập những con chó xấu xí. Đó là một câu chuyện đáng chú ý. về người nông dân, miêu tả cảnh ngộ thảm khốc của họ trong nạn đói năm 1945, nhưng cũng ca ngợi đức tính tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ.

ii. nội dung:

1. ý nghĩa của tiêu đề

“nhặt vợ”: anh nhặt vợ thể hiện sự rẻ rúng của thân phận con người và phản ánh tình cảnh bi đát của người dân trong nạn đói.

2. tình huống câu chuyện

  • tình huống: trang: một người dân xấu xí đột nhiên có vợ, nhưng anh ta đã tìm thấy cô ấy và trả lại cô ấy.
  • đây là một tình huống bất ngờ và độc đáo: với kịch bản chính (tình huống của tràng khó lấy vợ mà tự nhiên có vợ theo, ngờ đâu đã có vợ rồi), với những người xung quanh (hỏi cung cãi vã), với bà cụ.
  • tình huống gây tranh cãi: hoàn cảnh gia đình và xã hội (kịch bản đói kém) không cho phép kết hôn, vợ và chồng đều là những người cùng cực, khó trở thành chỗ dựa cho nhau.

3. ký tự dấu hai chấm

– Hoàn cảnh gia đình: bị cư dân khinh miệt, bố mất sớm, mẹ già, nhà ở nghèo nàn, cuộc sống bấp bênh, …, tôi: xấu xí, thô lỗ, “hai mắt nhỏ”, “hai bên hàm đều. rộng ”, thân hình to lớn chao đảo, đầu óc khờ khạo, vụng về, …

a. gặp gỡ và quyết định tìm vợ

– lần gặp gỡ đầu tiên: bài hát trong trường chỉ là một trò đùa của người công nhân, chứ không liên quan gì đến việc cô gái đẩy xe cùng anh ta.

– cuộc họp 2:

  • Khi cô gái mắng mỏ, anh ấy chỉ mỉm cười và đưa đồ ăn cho cô ấy mặc dù anh ấy không có nhiều thứ để ăn. Đó là hành động của một người nông dân tốt bụng.
  • khi người phụ nữ quyết định làm theo lời cô: cô nghĩ đến việc phải ăn nhiều hơn, nhưng rồi chặc lưỡi “tsk, thôi kệ”. đó không phải là quyết định của một người bốc đồng mà là thái độ dũng cảm, chấp nhận hoàn cảnh, khao khát hạnh phúc, yêu thương những người cùng cảnh ngộ.
  • đưa một người phụ nữ đi chợ tỉnh mua đồ: thể hiện sự sự nghiêm túc và cân nhắc của hai vợ chồng trước khi quyết định kết hôn.

b. trên đường trở về

  • biểu hiện “có phần vui vẻ bất thường”, “mỉm cười một mình”, “cảm thấy kiêu ngạo”, … đó là tâm trạng vui vẻ và tự hào.
  • mua dầu thắp sáng để khi anh ấy đến nhà, ngôi nhà sẽ sáng sủa.

c. khi tôi về đến nhà

  • những hình xăm đến để làm sạch một cách ngắn gọn, giải thích sự lộn xộn do thiếu bàn tay phụ nữ. hành động vụng về nhưng chân chất, mộc mạc.
  • khi bà cụ không về, bà có cảm giác “sợ” vì lo bà xã bỏ đi vì gia cảnh quá khó khăn, sợ niềm hạnh phúc. hạnh phúc sẽ vuột khỏi tay.
  • sốt ruột chờ bà cụ nói lại vì trong hoàn cảnh nghèo khó, bà vẫn phải suy nghĩ về quyết định của mẹ. đây là biểu hiện của một người con lễ phép.
  • khi bà lão trở về nhà: bà nghiêm giọng, biện minh rằng lý do lấy chồng là “duyên phận”, căng thẳng chờ mẹ tu thành. khi bà cụ bày tỏ niềm vui, ngực bà nhẹ hẳn đi.

d. sáng hôm sau khi bạn thức dậy

  • truong nhận thấy những thay đổi khác lạ của ngôi nhà (vườn tược, nước, quần áo, …), anh nhận thấy vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình. Tôi cũng cảm thấy mình trưởng thành hơn.
  • Ăn cơm trong tâm trí tôi là hình ảnh những người đói và lá cờ vẫy. Đó là hình ảnh báo hiệu một sự đổi đời, một con đường mới.

– nhận xét: từ khi nhặt được vợ nhân vật có chuyển biến theo chiều hướng tốt. Qua sự biến hoá này, nhà văn đã tôn lên vẻ đẹp của những con người đang đói khát.

4. nhân vật nhặt vợ

a. nền

  • không có đất nước và gia đình: có thể thấy nạn đói năm 1945 đã khiến rất nhiều người phải xa đất nước và gia đình.
  • tên cũng không có và tên gọi ” . vợ “: thấy sự rẻ rúng của những kẻ đói khát.

b. chân dung

– ngoại hình: quần áo tả tơi như tổ đỉa, gầy gò, mặt lưỡi cày xám xịt, chỉ có hai mắt.

– lần thứ nhất: nghe tiếng reo mừng của đại tá, anh mừng rỡ ra tay giúp đỡ, đây là sự hồn nhiên vô tư của những người lao động nghèo.

– lần thứ hai:

  • bà khinh khỉnh mắng mỏ, không chịu ăn trầu để ăn thứ có giá trị hơn. khi được mời ăn, cô liền sà xuống, mắt sáng lên “ăn một lúc bốn bát bánh”.
  • khi nghe câu nói đùa “đó, quay lại với tôi … quay lại”, cô ấy đã thực sự làm theo vì trong nạn đói đó là cơ hội để cô ấy bám lấy sự sống.

– bình luận: cái đói không chỉ làm biến dạng ngoại hình mà còn cả tính cách con người. độc giả vẫn đồng cảm sâu sắc với chợ vì đó không phải là bản chất mà là cái đói.

c. chất lượng

– có ý chí sống mạnh mẽ:

  • quyết định làm vợ một lần nữa dù chưa biết đến tràng giang đại hải, chấp nhận không phải trả giá làm dâu vì sẽ không phải sống kiếp lang thang đầu đường xó chợ.
  • Về đến nhà, thấy hoàn cảnh éo le, trái ngược với lời tuyên bố “ức hiếp bố”, cô “nén tiếng thở dài”, mặc dù buồn chán nhưng cô vẫn cố chịu đựng để có cơ hội. cuộc sống.

– cô ấy là một người chu đáo và lịch sự:

    dám mời bà ngồi, bà cũng chỉ dám ngồi ở mép giường, hai tay cầm rổ, thể hiện sự cân nhắc khi chưa thành danh trong gia đình.
  • khi gặp mẹ, chồng ngoài lời chào thì chỉ cúi đầu “đưa tay vuốt ve vạt áo rách”, thể hiện sự ngượng ngùng, xấu hổ.
  • sáng hôm sau, cô tỉnh dậy dậy sớm quét nhà, không và dáng vẻ “vui vẻ, nhẹ nhàng” mà dịu dàng, đúng mực.
  • khi ăn cháo cám, tôi thấy “mắt tối sầm lại”, nhưng vẫn điềm nhiên và trong miệng. Tôi thể hiện sự tôn trọng. , xấu trước mặt mẹ chồng, đừng làm bà ấy buồn.

<3<3

– nêu cảm nhận chung về hình ảnh người vợ thu được sau khi phân tích.

5. nhân vật bà già

– giới thiệu nhân vật: đi khom lưng, chậm chạp, run rẩy, ho khi đi, bập bẹ các phép tính theo phong tục của người cao tuổi.

– Ông ngạc nhiên về sự ngây thơ của con trai mình, ông ngạc nhiên về sự xuất hiện của một người phụ nữ lạ.

– đã hiểu “bao điều”, “mắt ông đã đục”: xót cho người con trai đi lấy vợ mà đói khát lấy vợ, xót cho người đàn bà nghèo cùng đường. cưới con trai của ông ấy.

<3

– nhận xét: bà cụ là một người mẹ hiền lành, chất phác và nhân hậu.

iii. kết luận:

  • khái quát giá trị nghệ thuật của việc xây dựng nhân vật: đặt nhân vật vào hoàn cảnh khó khăn, độc đáo để nhân vật bộc lộ tâm trạng, tính cách; khắc họa tâm lý nhân vật, ngôn ngữ giản dị, gần gũi.
  • tác phẩm chứa đựng giá trị nhân đạo sâu sắc, nó phản ánh chân thực tình cảnh của người nông dân trong nạn đói, mặt khác nó cũng phản ánh hoàn cảnh. nhân cách tốt và sức sống mãnh liệt.

xem thêm: bài phân tích tổng hợp tác phẩm do vợ sưu tầm

phân tích sơ đồ tư duy về Vợ nhặt

biểu đồ phân tích lựa chọn người vợ

hộp tóm tắt tùy chọn

xem thêm: sơ đồ tư duy đón vợ post

phân tích tác phẩm mà người vợ sưu tầm được

vở kịch “nhặt vợ” của nhà văn kim lan đã phản ánh rất chân thực cuộc sống khốn khó của người nông dân Việt Nam trước cmt8. cuộc sống của họ bị dồn nén và dồn ép đến tận cùng khi mạng sống con người bị coi rẻ. hình ảnh người vợ vô danh trong câu chuyện là minh chứng hùng hồn cho thời kỳ khốn khó của dân tộc ta.

câu chuyện “nhặt vợ” chỉ xoay quanh 3 nhân vật chính của một gia đình sống ở làng quê: ông lão, bà lão và người phụ nữ nhận vật mà vợ nhặt được. người phụ nữ này không có tên tuổi nhưng dưới ngòi bút tài hoa của Kim uni cô đã thể hiện rõ số phận và tính cách của chính mình. Vợ Tràng cũng như hàng nghìn, hàng vạn người phụ nữ cùng thời đại. họ bị xã hội phong kiến ​​áp bức đến mức phải “bán mình” để làm vợ cho những người mới quen.

Nhân vật nhặt vợ xuất hiện ở đầu truyện với dáng vẻ rất đáng thương, dáng người gầy gò, xanh xao ngồi trước cửa chuồng, quần áo xộc xệch, mặt mũi xám xịt, chỉ có hai cái. trẻ em còn lại. .eye khi mới gặp đàn tràng, anh ấy là một người hung dữ và táo bạo đến mức trở nên táo tợn. Thị nghe bác tài xế xe bò hát một câu: “Xuân này em muốn ăn cơm trắng. Về đây đẩy xe bò với anh em”. thị chạy ra đẩy xe cho đại tá. và lần thứ hai gặp lại, cô đã mắng anh một cách sỗ sàng: “dieu. tal persona”. khi thấy tràng diện của mình có vẻ dễ gần, anh ta lập tức tỏ vẻ trịch thượng hơn. nên tràng cũng đành chiều lòng cho nàng ăn bánh. khi anh ấy nhìn thấy ăn, đôi mắt trũng sâu của anh ấy sáng lên. anh không còn biết sợ gì nữa, ngồi ăn một lúc bốn bát bánh. ăn xong dùng đũa lau miệng, thở. trên thực tế, đây không phải là đặc tính cố hữu của thị trường. chỉ vì thức ăn, anh ấy đã phải hy sinh tất cả phẩm giá của mình để có được cái ăn và duy trì sự sống của mình.

Khi họ yêu cầu cô ấy làm vợ anh ấy, cô ấy đã không ngần ngại theo anh ấy về nhà. trở về nhà, chúng tôi thấy rằng tâm lý của anh ấy đã hoàn toàn thay đổi. Trong lúc đám đông cười rạng rỡ, Thị bẽn lẽn cầm lấy chiếc giỏ, chiếc nón rách úp xuống che khuất nửa khuôn mặt. lúc này ta mới thấy chị đã trở lại đúng nghĩa của một người phụ nữ khi e ấp như một cô gái mới về nhà chồng. Cô không còn ánh mắt tròn trịa, đanh đá như giữa trưa nữa mà thay vào đó là một ánh mắt dịu dàng hơn. lúc đó cô cũng bắt đầu nhận ra thân phận làm vợ nên đành chấp nhận số phận hẩm hiu.

Khi về đến nhà, tâm trạng của nhân vật thậm chí còn khác hơn. khi người phụ nữ đó tò mò và bất ngờ trước cô bạn gái mới ở nhà chồng. dân chúng đảo mắt nhìn quanh đúng là nhà nghèo lắm. anh cố nén một tiếng thở dài và nghĩ về những ngày sắp tới. Mặc dù cô ấy đã cố gắng tạo cảm giác tự nhiên bằng cách giục cô ấy ngồi xuống giường, cô ấy vẫn ngại ngùng và chỉ dám ngồi vào mép giường rất kín. cho đến khi bà già về trước mặt mẹ chồng thì bà càng ngại hơn. vẫn đứng nguyên chỗ cũ, không dám nhúc nhích. chính phong thái e thẹn của cô bé đã khiến bà cụ thương cảm và nhiệt tình chào đón.

Sáng hôm sau giống như một cô dâu mới về nhà chồng. cô cũng dậy sớm cùng bà cụ dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị bữa sáng cho cả nhà. một người tàn nhẫn như columbus cũng nhận thấy sự thay đổi kỳ lạ của thị trường. Hôm nay, tôi thấy ở thành phố không còn cái vẻ gầy gò, chát chát mà tôi đã biết ở ngoài tỉnh, mà chỉ còn lại vẻ ngọt ngào của một người phụ nữ Việt Nam. Không những vậy, anh còn tỏ ra là một người rất giỏi và có tâm với công việc kinh doanh. khi nghe tiếng trống khai thuế, ông khẽ thở dài. nên ông cũng là người mở đầu câu chuyện về thái nguyên, dân bắc giang không còn đóng thuế nữa mà đi phá kho thóc của người Nhật để chia cho dân đói. câu chuyện này dường như tiếp thêm sức mạnh cho người thanh niên để vươn tới tự do của một ngày mai tươi sáng hơn. trong giấc mơ của anh, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng tỏa sáng. hình ảnh này thể hiện một cuộc sống hạnh phúc và thịnh vượng trong tương lai.

Thông qua nhân vật Thị, nhà văn Kim Lân không chỉ phản ánh thành công hiện thực cuộc sống khốn khó của người nông dân Việt Nam trước thế kỉ VIII. không nhắc đến tên, nhưng qua ngòi bút tài hoa của nhà văn nhân văn. những gì người vợ chọn thậm chí có vẻ rất thực tế. chợ tượng trưng cho số phận của hàng trăm, hàng nghìn người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

phân tích người vợ tốt nhất

Nhà văn người Pháp thời Napoléon đã từng nhận xét: “Khi một tác phẩm nâng cao tinh thần của chúng ta, gợi lên những tình cảm cao quý, và có đủ can đảm để không cần phải tìm kiếm những nguyên tắc xa hơn để đánh giá nó, thì đó là một cuốn sách hoặc được viết bởi một nghệ sĩ tài năng”. Vâng, một hành động tốt luôn biết cách đưa tâm hồn con người đến một cảnh giới mới – cảnh giới của tình yêu, hành động và ước muốn. Qua tác phẩm “nhặt vợ”, Kim Uni đã bày tỏ sự thương cảm đối với số phận con người và khát vọng sống, hạnh phúc của họ khi họ bị đẩy đến bờ vực của cái đói.

Lấy bối cảnh nạn đói năm 1945, truyện “nhặt vợ” miêu tả cuộc sống ngột ngạt, bức bối, đói khổ, bần cùng của nhân dân ta. cái đói đã hiện hữu về hình thức, màu sắc, mùi, vị, khiến con người bị dồn đến cùng cực, đẩy họ đến bờ vực của cái chết. chứng kiến ​​bi kịch khủng khiếp ấy, ngòi bút của nhà văn đã thể hiện nỗi đau xót thương cảm cho những số phận bất hạnh. đồng thời tố cáo tội ác của thực dân Pháp, phát xít Nhật, phản ánh khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc, niềm tin vào tương lai tươi sáng của nhân dân.

Ngay từ nhan đề bài thơ, nhà văn đã khơi dậy sự tò mò của người đọc bởi “chọn vợ” tức là người vợ đi về một mình mà không chịu lấy chồng. mà nhan đề đó cũng chính là “nút thắt” của câu chuyện, thể hiện đầy đủ số phận của các nhân vật. từ đó phản ánh số phận bi thảm và tủi nhục của người dân trong nạn đói khủng khiếp xảy ra năm 1945.

Câu chuyện xoay quanh cuộc đời của nhân vật Trang: một thanh niên nghèo, xấu trai nhưng chỉ với vài câu chuyện cười và vài đĩa bánh, anh đã nhặt được người vợ đang chết đói. họ đã làm nên mối lương duyên giữa bóng tối đói khát bao trùm. đêm tân hôn trôi qua trong im lặng trong bóng tối lạnh lẽo với dư âm của tiếng khóc của người chết trong gió. một bữa ăn đơn giản và thô sơ với rau rừng, cháo mịn và muối. mẹ chồng đãi con dâu và con trai bằng chén chè nấu cám. Các bậc phụ huynh và các em quay sang câu chuyện Việt Minh phá kho thóc của Nhật để chia cho người nghèo và kết thúc câu chuyện bằng hình ảnh “trong não tôi vẫn thấy dân đói và lá cờ đỏ vẫy”. >

Nhà văn nguyễn minh châu tin rằng: “tình huống truyện là một mảnh đời, một sự kiện xảy ra có phần bất ngờ, nhưng điều quan trọng là nó sẽ chi phối nhiều điều trong cuộc sống của con người.” Bằng bút pháp “nhặt vợ”, Kim Uni đã tạo ra một tình huống độc đáo: một người dân nghèo, xấu xí, neo đơn tìm vợ chỉ bằng một vài câu chuyện cười và một vài bát bánh. Điều đó khiến không chỉ dân làng, mẹ anh mà chính anh cũng ngạc nhiên. Đây là một tình huống éo le, éo le nhưng hợp lý bởi chính nạn đói đã khiến cuộc sống của những người bạc mệnh xen vào nhau, nên vợ thành chồng. Qua đó hoàn cảnh của lịch sử đã làm nổi bật giá trị hiện thực cũng như giá trị nhân đạo: cái đói đẩy con người đến giới hạn của sự sống hoặc cái chết, tôn vinh giá trị con người, đồng thời làm nổi bật hình ảnh của con người.

Trước hết, truyện đã tái hiện lại cảnh cơ cực, nghèo khó của người dân qua hình ảnh những người dân làng chài, đặc biệt là cha mẹ và các em nhỏ. Cái đói ập đến thị trấn như một con quỷ dữ ăn tươi nuốt sống bao nhiêu người, nó biến không khí trong lành, mát mẻ của một thị trấn yên tĩnh thành bầu không khí ẩm ướt của mùi rác và xác chết: “không có buổi sáng người dân thị trấn đi chợ hoặc đi làm đồng mà không thấy ba bốn cái xác nằm bên vệ đường. không khí chỉ còn lại mùi hôi thối của bụi bẩn và mùi hôi thối của xác người ”. cái đói ấy đã cướp đi tiếng cười hồn nhiên của lũ trẻ thị trấn. Cách đây không lâu, mỗi buổi chiều khi anh đi làm về, lũ trẻ lại quây quần bên anh, đứa đằng trước, đứa đằng sau, đứa thì nhột nhạt, đứa thì kéo, khiến cho khu phố đó trở nên náo nhiệt vào mỗi buổi chiều. nhưng niềm vui nho nhỏ ấy không còn, nụ cười cũng biến mất trên môi. họ ngồi ủ rũ trong các con hẻm, bất động. Nhân vật chính của câu chuyện là một anh hàng xóm nghèo và xấu xí, sống một mình với mẹ trong cái lán dựng trên mảnh vườn đầy cỏ dại. sống với cuộc sống thị dân thì bị dân làng coi thường, khinh rẻ, làm những công việc hèn hạ như đầy tớ. và như một định mệnh nghèo khó, anh đã “lấy” một người vợ, một người phụ nữ không tên, không tuổi, không quê quán, không nhà cửa. những người dân chất phác bị đói ra đường, hòa vào dòng người tha hương xin ăn và ngồi trong kho thóc để nhặt hạt rơi vãi. Bằng ngòi bút hiện thực, nhà văn đã khắc họa thành công hình ảnh “thị trấn chết đói” năm 1945.

nhưng chính trong cái “hiểm” đó, con người đã bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp: đó là lòng yêu thương con người, khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và niềm tin mãnh liệt vào tương lai.

nhà thơ đã nói: “trên đời còn gì đẹp hơn / người và người sống phải yêu thương nhau”. Vâng, tình yêu là những gì còn lại khi con người đã mất tất cả và rơi vào hoàn cảnh khó khăn. trong nạn đói khủng khiếp, nhân vật xuất hiện với lòng tốt của một chàng trai sẵn sàng chia sẻ thức ăn với một người phụ nữ xa lạ. đặc biệt là nhân vật bà lão hiện lên với tấm lòng yêu thương con sâu nặng. Cuộc đời sẽ không êm đềm nếu không có biến cố mang một người phụ nữ xa lạ về làm vợ anh. Kim Lân đã thể hiện rất sâu sắc tâm lý của người mẹ nghèo trước cảnh con trai mình có vợ: bà cụ vô cùng ngỡ ngàng. Khi anh nghe người phụ nữ nói “u” nhưng anh vẫn không hiểu, mắt anh mờ đi nhưng anh vẫn không tin, một loạt câu hỏi hiện ra trong đầu anh: “ai vậy? Tại sao anh ta lại chào cô?” . đó là bởi vì bà không bao giờ nghĩ rằng một người nghèo như con trai bà sẽ có một người vợ. sự ngạc nhiên của bà không phải là sự hoảng hốt, lo lắng mà là sự ngạc nhiên trước niềm hạnh phúc lớn lao của con trai mình. Khi hiểu ra vấn đề, lòng người mẹ chất chứa nhiều điều, vừa thương con, vừa xót xa cho chính mình: “Người ta lấy chồng vì con cái ăn được vào bếp thì mới mong có con. còn tôi thì… ”Dấu chấm lửng ngừng cơn đau ngột ngạt vì tủi thân, những giọt nước mắt thương hại lăn dài trên má. Sống sót qua cơn đói khát này.” Dù lo lắng, nhưng nhìn người phụ nữ tội nghiệp đứng vắt vạt áo, Bà lão thấy thương con dâu vô cùng.Những tâm tư thương con, lòng an tâm đã thay cho nỗi trăn trở trong lòng bà lão: “Nếu người ta đối mặt với bước đường gian nan, đói khổ này thì chỉ lấy được con trai thôi. Chỉ có con trai tôi mới có vợ ”. tình yêu thương con cái còn được thể hiện trong từng suy nghĩ và hành động cụ thể: gọi người phụ nữ là “cô”. chỉ với một từ “con trai”, bà đã mở rộng vòng tay đón nhận con dâu, giúp con dâu bớt ngại ngùng. Anh cũng tâm sự: “Ừ thì thôi, các con đã có duyên với nhau rồi, tôi cũng thấy vui”. Chỉ với hai từ “hạnh phúc”, bà cụ coi việc con dâu về ra mắt gia đình là một niềm vui. Cô kể về hoàn cảnh gia đình của mình, “nếu làm được mấy mâm thì cũng được, nhưng tôi nghèo rồi không ai nhận cả. Tôi mừng vì họ hòa thuận với nhau. Năm nay tôi đói rồi. Chúng tôi” Bây giờ tôi đang kết hôn, tôi rất xin lỗi “. những lời nói có vẻ ngớ ngẩn, nhưng chúng rất tử tế và nhẹ nhàng, phá vỡ sự bối rối ban đầu.

Bằng tình yêu, nhà văn thể hiện niềm khát khao hạnh phúc của con người qua nhân vật Cô-lô-se và người vợ nhặt. Trước hết, khát vọng hạnh phúc được thể hiện qua diễn biến tâm lý và hành động của nhân vật. anh quyết định nhanh chóng là rước người đàn bà lạ về làm vợ: “lúc đầu anh cũng hoang mang, nghĩ: cơm sau này, thân mình còn không chịu nổi, còn đèo bòng” nên người “. “. bề ngoài anh có vẻ hơi bất cần, liều lĩnh, nhưng bên trong anh lại ẩn chứa một khát vọng hạnh phúc không ngừng lớn đến mức giúp đàn tràng vượt qua cơn đói và cái chết. Khi Tràng đưa vợ về ở rể, tuy nghèo nhưng anh vẫn hào phóng mời cô đi ăn tối và mua thúng. hạnh phúc hiện ra trong mắt và trong nụ cười. trong một khoảnh khắc họ quên đi cơn đói khát tình yêu và cùng vợ đi dạo, trò chuyện với nhau, dường như họ không hề ngại ngùng mà nhen nhóm niềm hạnh phúc. khi đưa vợ về nhà gặp mẹ, anh ta biện minh việc bỏ bê gia đình vì không có bàn tay chăm sóc của người phụ nữ. Tôi muốn mọi thứ tốt đẹp hơn khi có vợ, tôi muốn người phụ nữ đó ở bên tôi. lo lắng và sốt ruột khi mẹ cô đã không làm cho hạnh phúc của cô được biết đến một lần nữa. anh lén lút liếc nhìn người phụ nữ kia, sợ cô đến rồi đi, sợ hạnh phúc vuột khỏi tay anh. Khi mẹ về, Trang chủ động giới thiệu với bà bằng hai từ “nhà mình”, “chúng mình”, “nhà mình, bạn ấy về làm bạn với mình”. tâm lý của tràng đã giải tỏa được không khí căng thẳng của buổi đầu gặp gỡ, anh nghiêm túc thực hiện: anh muốn chung sống lâu dài với người phụ nữ. thức dậy vào sáng hôm sau là thời điểm thích hợp để bạn bày tỏ tình cảm của mình. một ngày mới đến với cửa sổ tâm hồn mở ra một trang mới hạnh phúc và vui vẻ: “cảm giác nhẹ nhàng bồng bềnh như thoát ra khỏi một giấc mơ”. So với sự bất cẩn thường ngày, hôm nay tôi nhận thấy sự khác biệt xung quanh mình. anh rất hạnh phúc khi được sống trong khung cảnh giản dị và yên tĩnh của gia đình: vợ anh quét sân và mẹ anh dọn cỏ trong vườn. khung cảnh bình dị ấy đã gợi lên trong lòng anh một cảm giác hạnh phúc vô hạn gắn bó với chính mình. không chỉ nhận thấy mình có trách nhiệm hơn với gia đình mà còn muốn bắt tay vào làm một điều gì đó để góp phần xây dựng hạnh phúc gia đình.

Ngoài khát vọng hạnh phúc của Columbus, gia đình nhỏ ấy còn được xây dựng bởi khát vọng của người vợ. anh đã vượt lên số phận để sống trọn vẹn với hạnh phúc nhỏ bé của mình. cô liều lĩnh về làm vợ và khi bước vào gia đình, hiểu rõ gia cảnh, cô mới thở dài, nhưng cô muốn có một gia đình. Là một người vợ, người con dâu của gia đình, chị bắt tay vào xây dựng gia đình, sống sum vầy với mẹ con chị: sáng hôm sau chị dậy sớm dọn dẹp nhà cửa. Nhờ bàn tay của người vợ, mọi thứ bẩn thỉu đã được quẳng lại, ngôi nhà trở nên ấm áp hơn, ngay cả bản thân đồng ruộng cũng hoàn toàn thay đổi: trở thành người con hiếu thảo, người chồng có trách nhiệm. có thể nói, hoàn cảnh càng khó khăn, con người càng biết trân trọng và mưu cầu hạnh phúc.

Họ cùng nhau viết về những người nông dân trong cảnh nghèo đói, nhưng không giống như những nhà văn khác, Kim Uni đã gieo vào tác phẩm của mình một tư tưởng mới: Khi con người bị đẩy đến đáy của cái đói, người ta muốn sống lâu hơn là muốn chết. điều đó được thể hiện rõ nét qua nhân vật vợ nhặt và bà lão. “Người đàn bà nhặt” vì muốn thoát khỏi cái đói và cái chết, vì muốn trở lại cuộc đời mà liều mình làm vợ. khát vọng sống trỗi dậy khát vọng hạnh phúc đã biến người phụ nữ này từ một người nhiều chuyện trở thành người vun vén hạnh phúc gia đình. ở làng, sự sống mạnh hơn cái chết và cô ấy làm tất cả những gì có thể để sống và sống như một con người. Cùng với đó là khát vọng sống của bà lão. Dù lo lắng cho con cái, dù cảm thấy xót xa trước cái khổ nhưng bà lão vẫn kìm nén, động viên, an ủi các con, đồng thời cũng tự động viên mình “ai giàu ba họ, khó ba đời”. cô cũng tích cực xây dựng cuộc sống cho bản thân và các con. Bản thân bà cụ đã hoàn toàn thay đổi: không giống như dáng đi lom khom và vẻ mặt ủ rũ thường ngày, bà cụ hối hả ra vào vui vẻ, nói chuyện vui vẻ, bắt tay dọn dẹp nhà cửa. tất cả những thay đổi của bà lão đều xuất phát từ tình yêu và ý chí sống.

Bằng việc tái hiện hình ảnh nghèo khổ của người dân và thế giới nội tâm của nhân vật, nhà văn tố cáo xã hội thực dân áp bức, vùi dập nhân dân, đồng thời đưa nhân dân đi đúng hướng: làm cách mạng. điều đó thể hiện qua tư tưởng sắc bén của người vợ đã nêu ra ánh sáng: “Bên thái nguyên, bên bắc giang, người ta không còn đóng thuế nữa, người ta phá kho thóc của người Nhật chia cho người đói”. hình ảnh kết thúc: “trong não tôi vẫn còn thấy cảnh dân đói và lá cờ đỏ vẫy”, như lời cảnh báo của nhà văn về trẻ em, con đường mà người nông dân phải đi theo: con đường cách mạng.

Truyện “nhặt vợ” để lại trong lòng người đọc cảm xúc không chỉ bởi sự đồng cảm, mong ước giản dị của con người mà còn bởi nghệ thuật đặc sắc. nhà văn sử dụng ngôn ngữ giản dị, mộc mạc mang đậm màu sắc của vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ và cách gọi thân mật “u – em”, gọi vợ là “quê em” gợi lên không khí miền trung du với cuộc sống của những người dân lam lũ. Thêm vào đó là nghệ thuật xây dựng cốt truyện, tình huống hấp dẫn lôi cuốn người đọc ngay từ nhan đề. qua đó vở kịch đã thể hiện khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và niềm tin vào tương lai tươi sáng của con người trong nạn đói.

phân tích bài đăng mà vợ bạn nhặt được

Kim Lan là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của văn học hiện thực Việt Nam, với số lượng tác phẩm ít ỏi, nhưng đã để lại những dấu vết sâu sắc và có tầm ảnh hưởng lớn trong nền văn học hiện đại nước nhà thế kỷ XX. Trong số ít tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân là một trong những tác phẩm tiêu biểu và xuất sắc nhất nói về số phận người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm 1944-1945, thu về hơn 2 triệu đồng. Tuy nhiên, Kim Lân không giống như các nhà văn hiện thực cùng thời, đào sâu vào hiện thực tàn khốc của xã hội, mà ngược lại, tác phẩm của ông tập trung nhiều vào những giá trị nhân văn, nhân bản, bóc lột và giác ngộ. vẻ đẹp của những con người vượt qua nghịch cảnh cuộc đời để mang lại ánh sáng, niềm tin và hy vọng trong những ngày tháng tăm tối nhất.

về người vợ từng nhặt được con kỳ lân vàng, cô chia sẻ rằng “khi viết về cái đói, người ta thường viết về cái nghèo và cái bi kịch. khi viết về những con người trong năm đói, người ta thường nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một câu chuyện ngắn với một ý tưởng khác. Dù cận kề cái chết nhưng những người này không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng về cuộc sống, vẫn hy vọng và tin tưởng vào tương lai. họ vẫn muốn sống, sống vì nhân dân ”. Trên thực tế, Vợ nhặt của Kim Uni có một tình huống truyện đặc biệt, được xây dựng trên một bối cảnh đặc biệt không kém khi tất cả đều bắt đầu từ một cuộc hôn nhân kỳ lạ, không ai sánh bằng của người anh trai. Tình cờ anh “nhặt” được vợ khi đang đẩy xe bò thuê, chuyện lạ đó xảy ra ngay giữa nạn đói khủng khiếp, người đi đường chết đói, không khí u ám, chết chóc tang thương bao trùm lên tất cả. làng quê. những người bất cẩn và thảm hại bò qua đường với những hình ảnh náo loạn, người sống “xám xịt như bóng ma”, người chết “vương vãi khắp lều chợ”, “người chết như xác lá”, … trong đêm. “không khí vẫn còn mùi rác và mùi xác người”, cả thị trấn không có ánh sáng, lạnh lẽo, xơ xác, luôn có “” bóng người đói di chuyển như những bóng ma “, tiếng kêu thảm thiết của” tiếng quạ trên cây của gạo chợ cứ kêu gào thảm thiết. ”Cảnh khủng khiếp của kim lan không được cố ý nhấn mạnh hay tập trung xuyên suốt vở diễn mà chỉ lướt qua đôi lần, để lại vài câu nói thể hiện hiện thực phũ phàng đeo bám mọi số phận khốn khó.

Trong kịch bản rùng rợn đó, khi mỗi người lần mò về phía nghĩa địa, run rẩy bất lực trước lưỡi hái của tử thần thì một đám cưới kỳ lạ đã diễn ra, một ngôi nhà mới được xây dựng bằng tất cả niềm tin, hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn đã được tạo dựng. Chủ nhân của gia đình ấy là Tràng, Thị và Bà, bốn con người với những phẩm chất tốt đẹp và sức sống tiềm tàng mạnh mẽ, sẵn sàng vượt qua thực tế khó khăn để hướng tới một cuộc sống tươi sáng hơn. .

Nói về nhân vật, anh ta sinh ra đã bị tật nguyền, nhà nghèo, ngoại hình xấu xí, tính tình có phần ngây ngô, quá vô tư. Tràng là người dân, sống tha hương cầu thực, không ruộng đất, hàng ngày đi kéo xe bò thuê, nhà còn có mẹ già, cuộc sống vô cùng bấp bênh, vất vả. hơn nữa, chính vì xấu và nghèo nên cộng đồng không thể có một mái ấm riêng, mãi mãi cô đơn, chống chọi với cái đói, cái khổ. là một cư dân, họ không có quyền xuất hiện tại các cuộc họp của thị trấn, họ sống trong hoàn cảnh bị từ chối và khinh miệt, cuộc sống vừa thảm hại vừa đáng thương. Tuy nhiên, không vì thế mà anh nản lòng, chán nản mà ngược lại, anh luôn chăm chỉ làm ăn, kiếm sống, đồng lòng đi làm cần cẩu để kiếm tiền nuôi bản thân và chăm sóc người già. mẹ trong nhà. .

Nạn đói ập đến, cuộc sống khó khăn hơn xưa nhưng chính cái đói kém ấy lại trở thành cơ duyên để anh gặp cô, rồi họ nên duyên với nhau chỉ vỏn vẹn 4 bát bánh thầu dầu. trong cuộc gặp gỡ đầy nhân duyên ấy, hơn hết, ta thấy được một vẻ đẹp đáng quý của nhân vật. Bà là một người nhân hậu, thấu hiểu và thông cảm với những số phận, khó khăn, đặc biệt là thị, một người phụ nữ vì đói nhưng bất chấp danh dự để xin ăn. trước cảnh cô tròn trịa hờn dỗi trách móc vì lỡ nói đùa “mấy tiếng muốn ăn cơm trắng, lại đây đẩy xe bò với anh!” nên tôi không hề khó chịu, bực bội mà ngược lại, tôi sẵn sàng chi tiền để đãi thị một bữa 4 chén bánh đúc. Ngay cả trong thời buổi đói kém, người dân phải lo từng miếng ăn, tấm lòng bao dung của người ruột thịt quả là đáng quý.

để rồi từ tấm lòng đồng cảm, thấu hiểu, cánh đồng đã dần chuyển thành nỗi xót thương, thương xót cho người phụ nữ tội nghiệp không nơi nương tựa và cũng sắp đi đến bước đường cùng trước mặt. lòng tốt khiến anh muốn được che chở và chăm sóc, nên đã có lúc anh thốt lên câu nói “đùa nhưng nếu anh đi với em, anh sẽ xách hàng lên xe rồi về”. Có thể xem đây là một màn cầu hôn tuy không lãng mạn nhưng vô cùng giá trị và ý nghĩa, nhất là vào thời điểm con người ta cần nhau nương tựa đói khát, trở thành rơm rạ cho cuộc đời. sau đó, nàng đồng ý chính thức trở thành vợ lẽ, kén vợ, không mai mối hay ràng buộc.

lúc này, cô ấy dường như đã trưởng thành hơn, vẻ đẹp trong tâm hồn cô ấy càng được thể hiện rõ ràng hơn, cô ấy biết cách quan tâm và để ý đến cảm xúc của người vợ mới cưới, anh đưa cô đi chợ. tỉnh ăn một bữa no nê, rồi dắt con đi mua một cái thúng nhỏ, ít đồ linh tinh để con về nhà chồng cho đỡ ngượng. đó là sự tinh tế, thấu hiểu và bao dung hiếm có mà không phải ai cũng có được. để mừng đám cưới, Trang không tiếc bỏ ra hai xu mua dầu thắp nhà cố cho ngày cưới không trọn vẹn nhưng cũng thêm phần tươi vui, tạm thời xua tan đi những điều không hay, những u tối, những mệt nhọc chờ đợi. cứ tiếp tục.

trên đường về nhà, tâm trạng của anh ấy tràn ngập cảm xúc phấn khích và hạnh phúc “khuôn mặt anh ấy lộ ra vẻ phấn chấn lạ thường. anh tự cười một mình, mắt long lanh “Thậm chí anh còn vui đến mức” trong phút chốc như quên hết những cảnh tăm tối của đời thường, quên đi cái đói khát đang đe dọa, quên đi những tháng ngày sắp tới “. đám cưới với chị là một bước ngoặt trọng đại của cuộc đời anh, mở ra cho anh một cánh cửa mới, một con đường mới, mang đến một làn gió tươi mới và tràn đầy hi vọng trong tâm hồn chàng trai trẻ, dù tương lai phía trước vẫn còn nhiều chông gai khi anh. Đưa cô về nhà ra mắt mẹ, anh không khỏi lo lắng và sốt ruột, anh nói với cô với thái độ nghiêm túc, chăm chú chờ cô đồng ý, điều đó cho thấy cô rất biết ơn và mong muốn được kết hôn, một cuộc sống mới. điều đó hứa hẹn sẽ mang đến cho chị cảm giác hạnh phúc, một mái ấm gia đình trọn vẹn, đong đầy yêu thương để anh và bao người khác được yêu thương. . niềm vui và hạnh phúc.

sau đêm tân hôn, thế giới dường như đã hoàn toàn thay đổi, trưởng thành, chín chắn và ý thức được trách nhiệm, vị trí của mình trong gia đình, anh cảm thấy vừa hạnh phúc vừa có trách nhiệm. có trách nhiệm xây dựng gia đình êm ấm, đem lại hạnh phúc cho vợ con, vun vén cho gia đình. điều đó được phản ánh rõ ràng trong suy nghĩ “bây giờ anh ấy đã trở thành một người đàn ông. anh ấy cảm thấy nhiệm vụ của mình là phải chăm sóc vợ con trong tương lai ”và ngay lập tức bắt tay vào thực hiện khi“ chạy ra giữa sân. Tôi cũng muốn làm một cái gì đó để giúp sửa nhà. “Trong bữa cơm đón dâu mới đã nghĩ đến việc phá kho thóc của người Nhật, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng phất phơ, cũng bộc lộ những suy nghĩ mới và con đường mới trong tương lai của Columbus và nhiều nông dân khác, để thoát khỏi nạn đói khủng khiếp, sự áp bức của kẻ thù.

Đối với nhân vật thị, vẻ ngoài của người phụ nữ này thoạt đầu có vẻ không gây được thiện cảm cho lắm, bởi sự cung kính, hờn dỗi và không biết xấu hổ với đồ ăn của mình. tuy nhiên càng đi sâu tìm hiểu hoàn cảnh của cô, ngược lại người ta càng thấy thương, cô đã đi đến cuối con đường, cô đang đi từng bước chậm rãi về phía nghĩa trang, lúc đó người ta chỉ muốn sống, khao khát được sống. sống, bạn phải sống bằng mọi giá. nên khi nhân cơ hội đẩy xe bò đi ăn, anh ta không hề do dự dù cơ thể đã kiệt sức và còn một chút sức lực. nhưng sau đó cô ấy quên mất việc chơi khăm của mình nên nghĩ rằng mình bị lừa, cô ấy buồn, hối hận vì những nỗ lực của mình và uất hận vì cuộc sống khốn khổ của mình sắp kết thúc. trong những khoảnh khắc ấy, làm sao người ta có thể bình thản, không ủ rũ, để rồi nhờ đó mà ăn, ở, thậm chí có chồng, một mối lương duyên có phần kỳ lạ, lạ lùng giữa nạn đói khủng khiếp.

Nàng trở thành phu thê không diêm, không diêm, không bàn, không bạn gái, có điều xấu hổ, trong hoàn cảnh đó nàng cũng xấu hổ, nhưng điều nàng cần nhất chính là tiếp tục sống. anh cần một chỗ dựa, một mái nhà để dựa vào, để thoát khỏi hoàn cảnh đau buồn của mình. khi về nhà chồng, cô bỗng như lột xác thành một con người khác, cô tận mắt chứng kiến ​​“ngôi nhà” thực chất chỉ là một căn lều tranh rách nát, đôi mắt thâm quầng, nhưng người phụ nữ ấy không hề tỏ ra thất vọng, tuyệt vọng. lòng nhưng ngược lại, cô vẫn vào nhà đợi mẹ chồng về.

Thị trở nên tự phê bình, có học thức, không còn vẻ đanh đá, bất cẩn khi gặp bà nữa, trước những lời khuyên và sự thương xót của bà lão, cô nhân hậu và điềm tĩnh, biết lắng nghe và tiếp thu. , sẵn sàng sẻ chia cùng nhau xây dựng tổ ấm với niềm tin mãnh liệt về tương lai tươi sáng. Sau đêm tân hôn, cảnh dậy sớm chuẩn bị đồ ăn, dọn dẹp nhà cửa, vườn tược, gánh nước, đồ khô … đã mang đến hình ảnh đẹp về người phụ nữ biết vun vén, nỗ lực và hy sinh. . ngày xây dựng cuộc sống mới bình yên, thoát khỏi cảnh sống lay lắt, lang thang trên đường phố.

Xem thêm: Viết bài Tập làm văn số 2 Lớp 11: Đề 1 → Đề 3 (17 mẫu)

Một nhân vật ấn tượng và đáng chú ý khác trong truyện là bà lão, nhân vật tiêu biểu nhất của một thế hệ phụ nữ Việt Nam ở thế kỷ trước. bà lão là một người phụ nữ nghèo khổ, một đời cay đắng, vất vả, một mình nuôi em trai khôn lớn, đến khi già phải đi làm người ở, lưu lạc nơi xứ lạ, đói khổ. Không chỉ đau khổ về thể xác, bà cụ còn luôn sống dằn vặt, tủi thân vì quá nghèo, không chăm lo được cho con trai, một người vợ tốt, lại phải chứng kiến ​​cảnh con cái khổ sở, sống một mình.

Ở nhân vật này chúng ta thấy điều thể hiện rõ nhất là tình yêu thương con sâu sắc. Khi thấy anh trai đưa một người phụ nữ lạ về nhà, anh ta không vội điều tra và tra hỏi, ngược lại, anh ta để con trai mình tự nói ra, sau khi hiểu rất nhiều lý do, anh ta không trách anh ta. kết hôn, nhưng điều khiến bà cụ lo lắng nhất là “liệu ​​họ có nuôi nhau được cho qua cơn đói”. lòng người mẹ cứ mãi nghĩ cho con, chứng kiến ​​cảnh người em đi lấy chồng giữa cảnh đói khổ, phố thị ngập một màu u ám, hoang vắng, lòng ông lão càng thêm đau xót. Anh tiếc cho em vì nghèo mà không có được một đám cưới tử tế, em tiếc vì phải lấy chồng trong hoàn cảnh sống hôm nay không biết ngày mai, và cũng tiếc cho chính anh. cuộc sống như một người mẹ mà không có gì có thể làm được về nó con trai tôi hoàn toàn hạnh phúc. rồi sau bao suy nghĩ lo toan, lòng anh cũng dần nguôi ngoai, anh lại bàng hoàng, giấu lo lắng vào lòng để tạo mối quan hệ cho con. cũng đã tận tình an ủi, động viên, cổ vũ bằng những câu nói đầy hy vọng “thế nào mới biết, ai giàu ba họ, ai khó ba đời”, tiếp thêm động lực, niềm tin để các em sống tốt hơn trong tương lai. chỉ cần các bạn nỗ lực hết mình, cùng nhau vượt qua khó khăn và vượt qua cơn đói khủng khiếp này.

Ngoài tình thương con sâu nặng, bà cụ còn hiện lên với tấm lòng nhân hậu, bao dung, độ lượng với những mảnh đời bất hạnh của con người, đặc biệt là thị, cô con dâu mới cưới. Khi nhìn người phụ nữ rách rưới, thảm hại đang rụt rè chờ đợi sự chấp nhận của anh, lòng anh chợt trào dâng bao niềm thương cảm, thầm nghĩ “cái khó, cái đói, này người ta bắt con riêng”. Chỉ có con trai tôi mới có vợ “. Anh vội vàng giục cô ngồi xuống cho đỡ mỏi chân, rồi kể cho cô nghe về hoàn cảnh gia đình anh, về việc không được đôi ba bữa ăn cưới khiến cô thiệt thòi. mong rằng tôi có thể hiểu và thông cảm cho những khó khăn trong tình cảm của cô ấy. mẹ con cô ấy, nhưng tôi yêu đàn tràng. cho cô ấy, chỉ cần vợ chồng sống hạnh phúc bên nhau “, dẫu có hòa thuận thì cũng sẽ rất hạnh phúc. . Hôm nay tôi rất đói. Thật xót xa khi lấy chồng ngay ”, rồi nhìn lại cảnh nghèo khó mà lòng đầy lo lắng, xót xa cho cuộc sống của bầy đàn và đồng bào.

Bà cụ vẫn hiện lên với vẻ đẹp của sức sống mãnh liệt, niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống, hi vọng vào tương lai tươi sáng hơn, trở thành động lực, nguồn cảm hứng cho con cháu. giúp họ có thêm sức mạnh, niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp hơn. khó khăn trong tương lai. điều đó thể hiện rất rõ nét qua cảnh bà cổ vũ cho hai vợ chồng khi họ mới về, và cả cảnh ăn sáng, bà cụ liên tục kể chuyện vui, kể chuyện ăn uống, chăn gà, v.v. Đúng như dự định, những điều ước ấy có vẻ khá xa vời và khó thực hiện, nhưng nó vẫn mang lại những tia sáng ấm áp cho câu chuyện, nó xua tan đi khung cảnh thảm hại, u ám và hoang vắng của thị trấn, trong nạn đói khủng khiếp, nó cũng mở ra những con đường mới đầy hy vọng. cho các ký tự.

Vợ nhặt của Kim Uni là một trong những tác phẩm văn học hiện thực xuất sắc viết về số phận của những người nông dân trong thời kỳ trước cách mạng, đặc biệt là trong nạn đói khủng khiếp. đối với tác phẩm này, có thể tóm gọn lại bằng mấy câu “cái đói vừa chua xót, vừa xót xa, đồng thời lóe lên một tia đạo đức và danh dự. Chuyện người vợ khai thác khía cạnh cuối cùng của bi kịch ấy”., thi còn bà cụ, đều là những nạn nhân khốn khổ của cái đói, cũng phải đối mặt với nỗi ám ảnh cái chết cận kề, nhưng họ không tuyệt vọng, họ vẫn cố gắng sống từng ngày, họ vẫn xây dựng gia đình, họ vẫn cố gắng cùng nhau, nghĩ về tương lai, và tin rằng mình sẽ chiến thắng cái đói. đó chính là ý nghĩa nhân văn cao cả mà kim uni muốn gửi gắm, dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt nào thì con người vẫn luôn tỏa ra những tia sáng thiện lương, không bị thực tại vùi lấp, mà càng vì thực tại càng hiện rõ. .

thảo luận ngắn gọn về công việc bạn đã chọn

phân tích Vợ nhặt – mẫu 1

Kim Lan là một nhà văn đến từ miền quê Việt Nam với lối viết chân thực, mộc mạc và hình ảnh những nhân vật làng quê tiêu biểu. Văn của Kim Lân đi sâu vào lòng người đọc bởi sự giản dị, đời thường nhưng chan chứa tình cảm. tác phẩm “nhặt vợ” là một “kiệt tác” của nền văn học hiện thực Việt Nam, tái hiện thành công xã hội nghèo khổ, cơ cực, tù túng của người nông dân. Kim Lân đã xây dựng thành công tuyến nhân vật đại diện cho cuộc sống nghèo khó thời kỳ đó.

Truyện “nhặt vợ” của Kim lan ra đời trong thời kỳ đất nước lâm vào nạn đói năm 1945, đời sống người dân nghèo nàn, kẻ sống người chết lang thang, “kẻ chết như rạ, trời chẳng sáng”. Mỗi sáng người dân thị trấn đi chợ, đi làm đồng không thấy ba bốn xác người nằm la liệt bên vệ đường. không khí chỉ còn lại mùi hôi thối của bụi bẩn và mùi hôi thối của xác người ”. khung cảnh xóm ngụ cư ấy đã diễn tả được cái đói kinh hoàng và cuộc sống khốn khó của người dân. Ngay từ tên tác phẩm, Kim Uni đã dẫn dắt người đọc khám phá những mảnh đời cơ cực, tội nghiệp nhất. là “vợ tiếp khách”, chính tình tiết và tình huống của câu chuyện đã gắn kết những nút thắt tạo nên cuộc đời của mỗi nhân vật.

Mở đầu câu chuyện, tác giả phác họa hình ảnh nhân vật ông lão “lảo đảo, miệng cười khi đi, hàm há hốc mồm…” Chỉ với vài chi tiết đó, người đọc cũng có thể hình dung được. bộ mặt xấu xí của người nông dân nghèo trong bộ quần áo rách rưới. kể từ ngày có nạn đói, lũ trẻ không thèm trêu chọc nữa, vì chúng không còn sức lực. cảnh tượng tang thương, náo động bao trùm cả xóm nghèo. trong khung cảnh hoàng hôn, suy nghĩ của anh được tái hiện “anh bước đi mệt mỏi, với chiếc áo nâu trên cánh tay.

với một số chi tiết tiêu biểu, kim lân đã vẽ nên trước mắt người đọc hình ảnh người nông dân nghèo khổ, rách rưới và khốn khó. Tác giả đã khéo léo khi xây dựng tình huống truyện độc đáo, mới lạ làm thay đổi cuộc đời của một con người. tình huống “nhặt” vợ. nó được “nhặt” nhưng không được lấy. người đọc nhận thức được bi kịch, bước đường cùng và sự tài tình của con người trong xã hội ngày nay. hình ảnh người vợ quê dần hiện ra dưới ngòi bút miêu tả đầy ám ảnh của nhà văn: “Con này xách thúng con, đầu hơi cúi, chiếc nón rách nghiêng che khuất nửa khuôn mặt, trông e thẹn, thẹn thùng” a. một người phụ nữ đáng thương, vô dụng sánh bước bên một người đàn ông nghèo khổ, tuyệt vọng là một sự kết hợp tự nhiên.

giữa lúc đưa vợ “thu” về nhà, kim lan đã dựng lên một khung cảnh đìu hiu, ảm đạm của xóm nghèo “từng cơn gió từ đồng thổi qua, dừng lại. Hai bên đường lộn ngược, tối mịt. , không nhà có ánh lửa, dưới gốc cây đa cây gạo lông lá có những bóng người đói khát di chuyển âm thầm như những bóng ma tiếng quạ hót trên cây gạo ngoài chợ cứ kêu réo rắt từ lúc nào không hay. Không gì bi đát và hiu quạnh hơn cảnh tranh tối tranh sáng ở một xóm nghèo, mọi thứ dường như bị cái đói, cái nghèo đè nén.Với cách miêu tả sinh động, kim lân đã gieo vào lòng người đọc bao nỗi xót xa, chua xót. và người già.

điều đáng chú ý là cách những người hàng xóm hỏi về người phụ nữ đang đi bên cạnh cây đàn tràng. thật ra với họ cũng lạ nên người ta hỏi thì họ cũng hiểu, có lẽ đó là vợ, “nhìn cô ấy mắc cỡ hay sao”. người phụ nữ bắt đầu thôi cay đắng, đanh đá mà trở nên rụt rè khi quyết định xuôi theo dòng chảy để về làm vợ. kết hôn bất ngờ, giữa lúc đói kém. có lẽ cái nghèo đã đưa hai người đến với nhau, không phải tình yêu mà là lòng trắc ẩn. chắc chắn độc giả sẽ thông cảm và xót xa cho những mảnh đời cơ nhỡ trong xóm.

Về quê hương, hình ảnh bà lão và người mẹ được Kim Lân khắc họa một cách tài tình và sâu sắc. người đọc sẽ hiểu hơn về tấm lòng của một người mẹ bao dung, nhân hậu. chi tiết “bà lão ngập ngừng theo con trai vào nhà, đến giữa hiên bà dừng lại vì có một người phụ nữ bên trong…” nỗi lo lắng của bà lão bắt đầu xuất hiện. nhưng rồi bà cũng nhận ra, bà cũng hiểu “bà lão cúi đầu lặng lẽ, bà lão hiểu. tấm lòng của người mẹ nghèo cũng hiểu biết bao cơ hội, vừa tiếc nuối, vừa xót xa cho số phận của đứa con trai, người ơi. Cưới con khi làm ăn, còn mình thì… ”Những tâm tư cay đắng của bà lão được Kim uni thể hiện qua một loạt động từ khiến nỗi khổ và cái đói trở lại, tan vỡ và hiển hiện như chưa từng có.

đã nhận lời “thu hoạch vợ” của con trai mình. tình huống khiến người đọc nhớ mãi, hình ảnh khiến người đọc khi nhắc đến tác phẩm này không quên hình ảnh “nồi cám” trong tiệc cưới đầu tiên. hình ảnh “nồi cháo cám” là hiện thân của cái nghèo cùng cực trong một gia đình “không còn giá trị”. Bà cụ hôm nay thay đổi tâm tính, luôn nói những chuyện vui trong nhà, vì muốn mang lại không khí vui vẻ hơn giữa cảnh nghèo khó. hình ảnh “nồi cháo cám” hiện lên vu vơ, đầy cay đắng và nước mắt của người mẹ nghèo. Ngày rước dâu ai cũng muốn có bữa ăn rước dâu với mâm cao cỗ đầy, nhưng nhà nghèo thì “nồi cháo cám” thì chỉ có điều đầy tình thương mới có thể mang lại cho nàng. trẻ em.

Đây là một chi tiết vô cùng đắt giá trong truyện ngắn “Nhặt được vợ” của Kim Uni khiến người đọc nhớ mãi. Ngoài ra, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở cuối truyện đã mang đến một chút niềm tin và hi vọng về một tương lai tốt đẹp hơn. Với ngòi bút miêu tả chân thực, sinh động, cách khắc họa tâm lý nhân vật sắc sảo, độc đáo và cốt truyện đầy bất ngờ, Kim Uni đã vẽ nên trước mắt người đọc cảnh nghèo đói tràn lan trong xã hội Việt Nam. Năm 1945. qua đó tác giả cũng nhấn mạnh rằng tình yêu thương giữa con người với nhau luôn là bất tử.

phân tích Vợ nhặt – mẫu 2

Kim Lân còn được mệnh danh là nhà văn của làng quê Việt Nam với người nông dân Việt Nam. Ông có lối viết chân chất, mộc mạc, trau chuốt và tạo dựng được những hình ảnh về một nhân vật điển hình của phố thị. Không ngoa chút nào khi người ta nói rằng những tác phẩm của Kim Lân đi sâu vào lòng người đọc bởi những tình cảm giản dị và vô cùng thủy chung. “nhặt vợ” là một trong những truyện ngắn vô cùng đặc sắc của Kim uni khi tái hiện thành công xã hội nghèo khổ, cơ cực, tù túng của những người nông dân, nhưng trong đau khổ họ vẫn khao khát một cuộc sống hạnh phúc và yêu thương.

đọc truyện “nhặt vợ” của kim lan là tác phẩm ra đời trong thời kỳ đất nước lâm vào nạn đói năm 1945. có thể nói đời sống người dân lúc này còn nghèo khó, người dân sống kiếp người. . chết ngu. và khung cảnh đìu hiu ấy dường như cũng lột tả được nạn đói hoành hành, cuộc sống của người dân khốn khổ đến nhường nào.

Điều khác thường là ngay từ khi đọc tên tác phẩm, Kim Uni dường như đã dẫn dắt người đọc khám phá cuộc sống của những mảnh đời khốn khó, đáng thương nhất. “Vợ nhặt” là chi tiết, đồng thời là tình huống xoay quanh câu chuyện và khiến cuộc đời của mỗi nhân vật tự bộc lộ.

Ở phần đầu của truyện, người đọc cũng ghi nhận được rằng nhân vật anh hùng “lảo đảo, vừa đi vừa cười, hàm há hốc mồm…”, nhà văn cũng chỉ miêu tả một vài chi tiết. những chi tiết nhỏ nhưng cũng khiến người đọc cảm nhận được bộ mặt của người nông dân nghèo khổ trong xã hội. Có thể thấy ở một số chi tiết tiêu biểu, Kim Lơn đã vẽ lên trước mắt người đọc bức tranh về những người nông dân nghèo khổ, cái nghèo khiến họ khốn khổ, hoang mang, lo lắng trong một thời gian dài đến cùng cực như thế nào. .

Tác giả Kim Uni dường như cũng đã rất khéo léo khi xây dựng tình huống truyện vô cùng mới lạ và độc đáo, làm thay đổi cuộc đời của một con người. người đọc cũng nhận ra tình huống “nhặt” vợ dường như càng làm khuếch đại thêm bi kịch và hoàn cảnh vô cùng khó khăn của những người đứng đầu xã hội lúc bấy giờ. người đọc dường như cũng cảm nhận lại được hình ảnh người vợ dần hiện ra dưới ngòi bút miêu tả độc đáo đầy ám ảnh của nhà văn, đó là chi tiết miêu tả “đứa bé thúng, đầu hơi nghiêng về phía trước, chiếc nón rách nghiêng nửa mặt. Cô ấy trông nhút nhát và nhút nhát. ”Người đọc cũng nhận ra rằng đây là một người phụ nữ nghèo, và ở người phụ nữ này không còn gì giá trị khi đi bên cạnh một người đàn ông nghèo và sống một cuộc sống rất thực tế.

XEM THÊM:  cảm nhận về bài thơ ông đồ

thật ra, cũng chính giữa việc đưa vợ “nhặt được” về nhà, kim lan đã dựng nên một khung cảnh ảm đạm, trông cũng thật u ám của một khu ổ chuột đầy xác chết đói. nên bản thân không khí cũng thê thảm, một buổi chiều ở khu dân cư này bị cái đói và cái nghèo đè nén đến thê thảm. cái nghèo và cái đói cũng đè nén sự sống đến mức nhấn chìm nó, khiến người đọc câu văn cũng cảm thấy có những phận người nghèo khổ thật dài và đi vào ngõ cụt. cảnh anh ta đưa vợ về nhà khiến anh ta chú ý là cách hàng xóm hỏi về chính người phụ nữ đang đi bên cạnh anh ta. người phụ nữ không còn vẻ chua ngoa như trước mà đã biết bẽn lẽn bước đi khi về làm vợ. trong cái nghèo đến mức miếng ăn và mỗi người thậm chí không đủ tiền lấy chồng, đó thực sự là một điều kỳ lạ. điều lạ này là lạ đối với mọi người, đối với trẻ em, đối với tất cả những người hàng xóm, đối với bà cụ và ngay cả đối với đàn tràng.

Truyện ngắn còn độc đáo và mang tính nhân văn cao cả đó là khi trở về nhà, hình ảnh bà cụ: người mẹ dường như đã được nhà văn Kim Lân khắc họa một lần nữa và cũng có thể được nhận ra. sự chuyển hóa trong tâm thức thật tài tình và sâu sắc biết bao. Tôi tin chắc rằng bạn đọc sẽ hiểu rõ hơn tấm lòng bao dung, nhân hậu của người mẹ xưa. làm sao quên được chi tiết đó là bà thứ tư đã nhận ra và hiểu được mọi chuyện khi lần tràng hạt đưa bà vợ đi nhặt. Những lo lắng, khắc khoải của bà cụ dường như đã hiện rõ hơn, đồng thời bà cũng động viên con cháu tin tưởng vào tương lai. nên hình ảnh “nấu cám” đặc biệt là hiện thân của cái nghèo cùng cực trong một gia đình giữa cảnh đói khổ. tâm trạng của mỗi nhân vật cũng khác nhau và họ đều muốn vun vén cho hạnh phúc gia đình mình ngay trong nạn đói ấy. Độc giả cũng lưu ý rằng, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở cuối truyện mang một chút niềm tin và hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn mà nhà văn Kim Uni muốn thể hiện.

Có thể thấy, chính bằng ngòi bút miêu tả chân thực, sinh động, cách khắc họa tâm lý nhân vật sắc sảo, độc đáo, cốt truyện “nhặt vợ” đầy bất ngờ. Kim Lân dường như cũng đã vẽ lại trước mắt người đọc viễn cảnh đói nghèo tràn lan trong xã hội Việt Nam những năm 1945. Qua ông, tác giả cũng nhấn mạnh rằng tình người luôn bất diệt dù gặp nghịch cảnh.

phân tích Vợ nhặt – mẫu 3

Kim Lan là một trong những nhà văn viết truyện ngắn từ năm 1941. Tác phẩm của ông tập trung phản ánh hình ảnh làng quê Việt Nam và hình ảnh người nông dân. Dưới ngòi bút tài hoa của Kim Lân, hình ảnh hiện thực làng quê Việt Nam, cũng như tâm tư, cuộc sống, cảnh ngộ và khát vọng của người nông dân được thể hiện chân thực, sinh động. “Pickup Wife” là một trong những tác phẩm bán chạy nhất của xứ kim chi với cốt truyện độc đáo và cách kể dí dỏm khiến độc giả bị cuốn hút.

Lấy cảm hứng từ nạn đói năm 1945, nhà văn Kim Uni đã tái hiện lại hình ảnh đầy ám ảnh của ngày đói trong từng câu chữ, trang viết của mình. dùng bút bi tả thực kết hợp đầu lân kim loại, ông đã tái hiện lại cảnh trầy xước, vẽ vời của ngã tư chợ lúc chiều tà, rồi “hai bên ngõ phố lộn ngược, tối om”, “nhà trống vắng teo. “. một chút vườn cây cỏ dại mọc um tùm ”… từng ấy ngòi bút của ông đã tô đậm thêm bức tranh đen tối, với cảnh nghèo đói của vùng quê Bắc Bộ những năm 1945. Tất cả đều có vẻ tiều tụy, nhăn nheo, xơ xác. không chỉ có cảnh vật mà con người cũng xuất hiện và chết đi với cái đói, cái nghèo. cái chết cũng được ghi lại bằng âm thanh dữ dội, tạo nên sự rùng rợn, rùng rợn. ở đó như thể truy đuổi cuộc sống con người đến cùng. tiếng quạ kêu trên cây gạo, tiếng kêu đau, tiếng trống khai thuế mỗi lúc một to hơn. chỉ có điều, nhà văn thích vẽ hiện thực, ông tố cáo sự tàn ác của bọn phát xít và đế quốc thực dân bằng những chính sách vô cùng hà khắc, khiến cuộc sống của nhân dân trở nên rẻ rúng.

trong không gian ấy, hình ảnh con người lại được tái hiện khiến người đọc không khỏi bàng hoàng trước nạn đói năm 1945. Sử dụng câu văn dài với nhiều mệnh đề, kết hợp với bút pháp liệt kê kim lân, miêu tả hình ảnh ấy. người “bốc vác, bò lổm ngổm như những bóng ma, nằm la liệt hàng quán ngoài chợ…”. người sống chao đảo, thao thức, sống một cuộc đời không phải là kiếp người. người chết “như những chiếc lá rụng” và cái chết trở thành nỗi ám ảnh, đau thương, xót xa đối với nhiều người. có lẽ đó là lý do tại sao anh ấy kêu gọi kim uni phản ánh những trang đáng lo ngại như vậy.

cũng từ bức ảnh đói khát đó, câu chuyện mà kim lân muốn kể cho người đọc là một câu chuyện đầy hài hước. có câu chuyện về nhân vật “nhặt” được vợ trong những ngày đói khổ như vậy. Kim Uni rất tài tình trong việc lột tả từng tâm trạng của các nhân vật chính xung quanh một cốt truyện duy nhất. diễn biến tâm lý rất phù hợp ngay từ khi gặp (vợ), trên đường đưa vợ về nhà ngoại. Đặc biệt là tâm trạng sáng hôm sau và tâm trạng trong bữa ăn được Kim Uni tái hiện một cách chân thực. Bằng ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi, mộc mạc, nhà văn đã cho người đọc thấy được hiện thực cuộc sống bi đát qua câu chuyện “lấy vợ” ngày đói. chính hiện thực bi đát ấy mà qua đó, người đọc vẫn thấy được niềm tin của người viết. Anh tin vào tương lai dù có thế nào đi nữa, dù có bị đẩy đến bước đường cùng thì vẫn còn đó một ánh nhìn về cuộc sống với tình yêu thương đùm bọc lẫn nhau giữa con người với nhau. đồng thời cũng thể hiện khát vọng hạnh phúc gia đình mãnh liệt của những người dân lao động.

Sau hình ảnh nhân vật, nhân vật cũng xuất hiện với một sơ yếu lý lịch hoàn toàn trống. không gia đình, không người thân, không nhà, không tên. anh ta xuất hiện như một sinh vật khốn khổ bị bỏ rơi, xuất hiện như một con số 0 tròn trĩnh trong cơn lốc cuộc đời. chỉ vì một câu nói đùa đơn giản, cô nghiễm nhiên trở thành vợ của chú chó con. và cũng như bao người khác, khi về nhà chồng, chị cũng trải qua đủ mọi cung bậc cảm xúc, bẽn lẽn, tủi hổ, vui sướng, lo lắng, làm mẹ chồng vì cái đói, cái nghèo. . nhưng trong anh vẫn là niềm vui và khát vọng của biết bao người. Từ hình ảnh chân thực đó, Kim Uni một lần nữa ca ngợi khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của con người là giá trị tốt đẹp.

xây dựng một kết thúc mở với lối trần thuật độc đáo, lối viết giản dị, chân chất, mộc mạc nhưng rất giàu sức gợi, kim lân rất tài tình trong việc phản ánh chân thực cảnh đói khổ của xã hội. hội việt nam năm 1945. số phận của những người lao động bị rẻ rúng, hèn kém, bị bao vây bởi đói nghèo và vô số chính sách hà khắc của chế độ thực dân. qua đó nó còn thể hiện giá trị nhân đạo là đề cao khát vọng sống, sự trân trọng và khơi dậy trong lòng người đọc niềm tin về sự thay đổi hoàn cảnh. đồng thời tố cáo xã hội đen tối, tố cáo những chính sách làm cho người dân thêm khốn khó.

phân tích người vợ đón – mẫu 4

văn học là lăng kính chủ quan phản ánh hiện thực một cách khách quan và chính xác nhất. Chính vì vậy, nhà văn Kim Lân đã dùng ngòi bút của mình để phác họa thành công bức tranh đời sống, sinh hoạt của người nông dân trong nạn đói năm dậu qua tác phẩm “nhặt vợ”. nhà văn đã mang đến một điểm sáng mới cho câu chuyện của mình, đó là niềm tin, hy vọng vào một tương lai tốt đẹp dù hiện tại có khó khăn đến đâu.

Kim Lan là một nhà văn có sự bay bổng về truyện ngắn, ngòi bút của ông rất sắc sảo khi tập trung miêu tả phong tục và cuộc sống của làng quê với “thú vui đồng quê hay phong cách nhà nông”. “nhặt vợ” là một tác phẩm xuất sắc in trên tập truyện “Con chó xấu xí” của tác giả, kể về một người nông dân trong hoàn cảnh đói kém bi đát với đức tính tốt đẹp, lương thiện. Với khả năng sáng tạo của mình, nhà văn đã thành công trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật và hàng loạt các biện pháp nghệ thuật độc đáo khác trong việc xây dựng nhân vật của mình.

Ngay từ tên tác phẩm, nhà văn đã để lại cho chúng ta những tò mò mới về cuộc sống của những người dân nghèo tưởng chừng như một thảm họa. với con lân kim loại, “nhặt” là hành động nhặt những thứ rơi vãi dưới đất, những thứ có giá trị nhỏ. nhưng ở đây, hành động đó lại gắn với hình ảnh người “phu thê”. đó là sự trân trọng của tác giả đối với nhân vật của mình vì người vợ luôn có vị trí quan trọng trong gia đình. tuy nhiên, trong hoàn cảnh này, thân phận con người lại rẻ rúng hơn bao giờ hết, chỉ cần vài câu nói đùa của ông già mà người phụ nữ đã theo về nhà và trở thành “vợ được chọn”. Tất cả những điều đó đã tạo nên một nhan đề độc đáo và có sức lan tỏa mạnh mẽ, thể hiện được bi kịch của con người trong nạn đói năm 1945, bộc lộ khí phách hiên ngang, ý chí sống và niềm tin của những con người trong cảnh khốn cùng.

Chủ đề của tác phẩm không chỉ thể hiện ở nhan đề mà còn được thể hiện qua tình huống truyện. một nhà văn đã từng nói: “tình huống truyện là nước gột rửa hình tượng mà qua đó nổi nhân vật”. dựng truyện là nghệ thuật sắp xếp, sắp xếp các tình tiết, sự kiện trong tác phẩm, từ đó bộc lộ tính cách, số phận của nhân vật, góp phần thể hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm. truyện “vợ nhặt” đã mang đến cho chúng ta một hoàn cảnh lịch sử vừa khó hiểu vừa bi thảm. cuộc “cướp vợ” bắt đầu vào thời điểm tuyệt thực mà tác giả gọi là hiểm nguy. trong không gian tang thương của nạn đói, tình huống lấy vợ đã tạo nên một khung cảnh vừa bi thương vừa buồn cười, chỉ với một vài câu chuyện tiếu lâm mà bạn không bao giờ ngờ lại lấy được một người vợ thực sự. kẻ xấu thì câm, nay lại có người theo sau cho ta thấy nghịch cảnh không biết nên cười hay nên khóc. tình huống khó xử của truyện trước đã cho ta thấy được tính nhân văn, tình cảm con người của vở kịch. hoàn cảnh đã thay đổi con người, tố cáo chế độ thực dân phong kiến ​​đã đẩy con người vào ngõ cụt.

ở đầu tác phẩm, nhà văn đã phác họa nhân vật người anh, cũng là nhân vật chính của tác phẩm, xuất hiện giữa một không gian u ám, chết chóc vì “người chết như lá rụng”, Môi trường ở đó bốc mùi hôi thối của bụi bẩn và mùi hôi thối của xác chết. ”Tràng là một người nông dân sống nghèo khổ nhưng có lòng nhân ái với mọi người, luôn khao khát một mái ấm gia đình và luôn hy vọng vào một tương lai tươi sáng.

anh là một người nông dân có cuộc sống nghèo khó được thể hiện ngay trong cái tên mà tác giả đặt cho. Không phải đáng tiếc khi nó không có tên, nhưng bản thân cái tên đã gợi lên rất nhiều vất vả vì nó cũng là tên của một công cụ lao động. dấu hai chấm không quá hốc hác nhưng được nghệ sĩ cắt xén rất kém: “hai mắt gà trũng sâu trong đêm”, “hai hàm rộng”, “khuôn mặt thô kệch”, “đầu trọc”, “lưng rộng”. qua sự miêu tả về con kỳ lân bằng kim loại, chúng ta thấy rằng chiếc tràng kết tinh phần tự nhiên và hoang dã của con người. hoặc “cười ngửa mặt lên trời”, “đi lại nói bậy”, trở thành “trò đùa cợt của lũ trẻ hàng xóm”, tính tình “khờ khạo”. hoàn cảnh sống của đàn tràng cũng không phong phú. nơi ở là “một ngôi nhà hoang nằm trong vườn cỏ dại um tùm”, “chậu bát, quần áo vứt ngổn ngang trên giường, trên sàn”. những chi tiết này đã thể hiện cuộc sống thiếu thốn, nghèo khó của hai mẹ con.

tổ tiên của tôi đã dạy chúng ta không “chụp ảnh” khi nhìn vào mặt nhau. Đàn tràng tuy có vẻ ngoài xù xì, tính cách ngốc nghếch nhưng trong đó vẫn ẩn chứa nhiều hạt ngọc tâm hồn ẩn sâu trong tâm hồn. co là một người tốt bụng và quan tâm. Thấy người phụ nữ đói, anh ta đưa cho cô “một hoặc bốn bát bánh” vì anh ta không nhẫn tâm từ chối khi người ta quá đói. đó là một việc làm hết sức quý báu, thể hiện truyền thống “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” của dân tộc ta. Khi người vợ đưa ra quyết định, đây không phải là ý định tìm kiếm một người vợ, mà trên thực tế, hai vợ chồng kết hôn vì tình yêu của con người, vì một người khao khát hơn chính mình. Ngoài tấm lòng nhân hậu, Tràng còn là người luôn khát khao hạnh phúc gia đình, lứa đôi. anh có ý thức quan tâm vợ: “hôm đó anh mang xe bò và mua dầu trị giá hai xu để thắp cho căn nhà lạnh lẽo”. những việc làm này chứng tỏ anh ấy rất tôn trọng vợ. Tôi rất vui và hạnh phúc khi được vợ đón về.

đi cạnh người vợ “rách như tổ đỉa”, Trang không hề ngượng ngùng mà còn rất “phở”. biểu hiện đó là cảm xúc của nhân vật trước hoàn cảnh khó khăn khi tìm vợ. không gian đường vào tiệc cưới ảm đạm, ảm đạm nhưng niềm vui sum vầy lấn át tất cả. anh ấy muốn làm cho vợ vui, “nhiều khi muốn thân mật nhưng không dám giao tiếp, muốn bày tỏ tình cảm với vợ nhưng lại ngượng ngùng, tay nọ xoa tay kia”. cô yêu và yêu cái hạnh phúc mà cô đang có: “trong phút chốc, cô như quên đi bóng tối và tủi nhục hàng ngày, cả cái đói và cơn khát khủng khiếp đang đe dọa cô”. “Ruột già cảm nhận cái mới, nó mơn trớn cả da thịt”. đó là sự hiện diện của tình yêu, hạnh phúc mà chúng ta hằng mong mỏi.

phân tích Vợ nhặt – mẫu 5

Kim Lan là một trong những nhà văn viết về nông thôn và nông dân Việt Nam hàng đầu trong văn học hiện đại với những tác phẩm độc đáo trong cách xây dựng tình huống truyện, xây dựng và miêu tả nhân vật. và có thể nói truyện Vợ nhặt được trích từ tập Những chú chó xấu xí là một truyện tiêu biểu cho phong cách hành văn của anh.

Kim lan truyện hấp dẫn người đọc từ tên tác phẩm và cách nhà văn xây dựng tình huống truyện. Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng sẽ tò mò khi nghe đến tựa sách “nhặt vợ”, nhưng bản thân cái tựa đề đã gợi lên nhiều điều đáng suy nghĩ. Bản thân nhan đề đã phần nào gợi lên thân phận đáng thương, tội nghiệp của người dân trong nạn đói năm 1945. Đồng thời, nhan đề đó cũng phần nào bộc lộ tình huống độc đáo của truyện và đã đi một chặng đường dài trong việc thể hiện giá trị hiện thực sâu sắc trong câu chuyện cổ tích. không chỉ đặc sắc ở nhan đề, Người vợ hờ còn xây dựng thành công tình huống truyện mới lạ, độc đáo và ý nghĩa. Kim Lân đã rất thành công khi xây dựng câu chuyện – Tràng – một người dân, có ngoại hình xấu xí “nhặt vợ” ngay trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Đó là một tình huống truyện mới, bất ngờ nhưng cũng đầy khúc mắc. khiến nhiều người ngỡ ngàng, nhưng chính tình huống đó đã góp phần không nhỏ cho thấy giá trị hiện thực của tác phẩm: sự rẻ rúng, mong manh của thân phận, số phận giữa nạn đói.

không chỉ xoay xở trong cách chọn tiêu đề và tạo tình huống, Kim lân phu nhân còn thu hút người đọc ở cách xây dựng nhân vật và chắc chắn những ai đã đọc tác phẩm này sẽ không thể quên được nhân vật hai điểm. Không đi sâu miêu tả ngoại hình của nhân vật, nhưng Kim Uni đã vẽ đủ nét để chúng ta thấy cô là một người làm nghề xấu xí với “dáng người thô kệch, nhếch mép”, “lưng gấu”, “quai hàm”. có lẽ hội tụ đầy đủ các yếu tố để bỏ vợ, nhưng ai có thể ngờ rằng chính trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, một người phụ nữ lại đi theo không về làm vợ. và cũng chính cách nhìn đó đã khiến cho dòng cảm xúc của tràng thay đổi theo thời gian. Tràng và Thị tình cờ gặp nhau, chỉ là vài câu nói đùa, nhưng cô lại tiếp tục chuỗi ngày về nhà: “Đùa thế này thì đùa thôi chứ anh về với em thì lên xe hoa chở đi.” hàng hóa, và sau đó bạn sẽ đến Nhà “. khi cô ấy theo về nhà chắc có hạnh phúc trong lòng nhưng rồi cũng có những lúc sợ hãi, “tưởng bở” nhưng rồi “tặc lưỡi: tsk”. cái tặc lưỡi ấy không phải là cái tặc lưỡi của kẻ bề dưới muốn từ bỏ tất cả, mà là cái tặc lưỡi vì lúc này, mọi niềm vui và khát vọng hạnh phúc đã trào dâng, vượt qua tất cả. . rồi trên đường đưa vợ về nhà, niềm vui sướng tràng giang đại hải như nhân lên gấp bội, anh lộ rõ ​​bộ dạng “” bộ mặt có phần phũ phàng “.” anh bước đi cười tủm tỉm một mình “,” đôi mắt anh “. giữa nhà ”rồi có phần lo lắng, có lẽ sợ mẹ không đồng ý với“ bạn gái mới ”, nhưng rồi Trang giới thiệu với mẹ về sự xuất hiện của“ đó, nhà em chào anh ”, một bài thuyết trình đầy đủ. Đặc biệt, tâm trạng của tràng có thay đổi vào sáng ngày hôm sau, cảm thấy “nhẹ nhàng bồng bềnh như người bước ra từ giấc mơ”, “xúc động, trìu mến, gắn bó và cảm thấy có trách nhiệm với gia đình này” sau một đêm đắm chìm trong tình yêu và hạnh phúc. và có lẽ chính sức mạnh của tình yêu và hạnh phúc đã khiến thế giới thay đổi và biết yêu thương hơn, tin vào hạnh phúc gia đình và tương lai tốt đẹp hơn.

Cùng với nhân vật Tràng, tác giả Kim Lân đã tạo dựng thành công nhân vật Thị. nếu khi tạo hình nhân vật, tác giả kim lan tập trung khám phá thế giới tâm trạng, thì khi khắc họa nhân vật, nhà văn làm nổi bật nhân vật bằng cách miêu tả ngoại hình, tâm trạng để làm nổi bật tính cách, tâm trạng Từ thị. chắc hẳn những ai đã từng đọc Lựa chọn của vợ sẽ không thể nào quên được chi tiết nhà văn Kim kỳ lân miêu tả ngoại hình “mặt lưỡi cày xám xịt”, “quần áo rách như tổ đỉa”, “mũ trùm kín nửa mặt”. , “ngực gầy nhô cao”. sự xuất hiện của anh ta có lẽ là bằng chứng rõ ràng nhất về nạn đói hoành hành. và có thể cũng chính nạn đói khủng khiếp ấy đã khiến cô ấy có những hành động “vui vẻ”, “lười biếng”, nhưng cuối cùng thì đó là bằng chứng của nạn đói. đó là những hành động tiếp thị “ăn rất ngon …”, “sà xuống ăn hết bốn bát bánh”, “ăn xong phải ngậm đũa vào miệng”, “ha! ngon quá!”. tuy nhiên, khác với vẻ ngoài ấy, độc giả sẽ dễ dàng cảm nhận được sự tinh tế, chu đáo và e ấp của cô khi theo bộ truyện về quê làm vợ. trên đường về nhà, anh đã gặp chuyện gì đó rất xấu hổ nên “chân nọ ôm chân kia”. hơn nữa khi về đến nhà, anh ấy “nuốt tiếng thở dài, khẽ mỉm cười”, “ngồi xuống mép giường”,… những hành động đó của anh ấy đều toát lên sự nhút nhát và hay suy xét ở mọi người. phụ nữ có vẻ ngoài nói nhiều và lỏng lẻo như có gì đó cao lêu nghêu. Đặc biệt, vẻ đẹp tâm hồn và sự chu đáo của chị được thể hiện rõ nét vào sáng hôm sau, khi “chị dậy sớm dọn dẹp nhà cửa, vườn tược, phơi quần áo”, trong bữa sáng: chị nói năng nhẹ nhàng, đúng mực. nhã nhặn, nhã nhặn, … vì thế, nhân dân là hiện thân của cái đói, cái nghèo trong những ngày khủng khiếp của nạn đói năm 1945. Nếu cái đói làm cho người phụ nữ mất đi tính cách yêu đời và hạnh phúc thì đã cho họ cuộc sống mới, cho cuộc sống của mình. con người thật.

Ngoài ra, trong vở kịch, nhà văn Kim Lân còn xây dựng thành công nhân vật bà lão, điển hình của những người mẹ, người phụ nữ Việt Nam. Chi tiết tả ngoại hình của nhà văn Kim Lân đã gợi lên nỗi vất vả, nghèo khó của người phụ nữ này. đó là “dáng vẻ chân tay”, “những phép tính đi, ho và bập bẹ”. nhưng ở người mẹ ấy chúng ta cũng cảm nhận được nhiều phẩm chất, nhiều vẻ đẹp tâm hồn qua những dòng cảm xúc của bà. Khi vừa về đến nhà, thấy sự xuất hiện của Thi trong nhà, anh rất ngạc nhiên, “tỏ vẻ không hiểu”. nhưng rồi, bà nhận ra, bà nhận ra nhiều điều, bà cụ cúi đầu lặng lẽ “bà hiểu bao nhiêu là phiền muộn, vừa ân hận vừa xót xa” để rồi người mẹ ấy thấy thương con và xót xa cho chính mình. , khóc – nước mắt của chính mình – thương hại, tự trách mình. nhưng tình yêu thương con người đã khiến tiếng hát dang tay đón nàng dâu mới. và có lẽ chính sự xuất hiện của cô đã mang lại cho anh niềm vui, niềm hạnh phúc không nguôi vào sáng hôm sau. sáng hôm sau, anh dậy sớm cùng bạn gái mới chăm sóc vườn tược, chăm sóc nhà cửa, “mặt mày buồn rười rượi như ngày nào”, trong bữa sáng cả nhà cùng nhau tâm sự. những câu chuyện sau. như vậy, bà cụ là đại diện tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam tuy vất vả, lam lũ, nghèo khó nhưng luôn tràn đầy yêu thương, lạc quan.

Tóm lại, những truyện ngắn Vợ tôi sưu tầm được với lối kể chuyện độc đáo, nghệ thuật kể chuyện linh hoạt và cách xây dựng, miêu tả nhân vật đã vẽ nên bức tranh hiện thực về cuộc đời và số phận của người dân lao động trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. thời gian, tác phẩm còn thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo của nhà văn Kim Lân: bài ca ngợi tình người và khẳng định những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của con người.

phân tích Vợ nhặt – mẫu 6

kim uni, một nhà văn chuyên viết truyện ngắn, với tài viết về người nông dân. Người nông dân trong tác phẩm của Kim Lân tuy nghèo nhưng luôn tỏa sáng với những phẩm chất: yêu đời, thật thà, giản dị, hóm hỉnh và tài hoa. Vợ Nhặt Là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của ông khi viết về nông dân.

Tác phẩm là một trong những truyện hay nhất trong tuyển tập truyện “Con chó xấu xí” (1962). tác phẩm này nguyên là tiểu thuyết “xóm ngụ cư” – được viết ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công. tuy nhiên, nó chỉ được viết một nửa và bản thảo sau đó đã bị thất lạc. Năm 1954, hòa bình lập lại, nhân dịp các tờ báo văn học nghệ thuật chào mừng Cách mạng Tháng Tám thành công, Kim Lân nhắc lại tiểu thuyết “Cái xóm”, dựa theo cốt truyện cũ viết lại thành truyện. Kể từ khi ra đời, tác phẩm đã gây được nhiều tiếng vang trong giới sáng tạo.

Vở kịch lấy bối cảnh năm Ất dậu 1945, năm xảy ra nạn đói khủng khiếp làm chết đói hơn hai triệu đồng bào ta. Nạn đói khủng khiếp và tràn lan diễn ra khắp nơi khiến người ta không thể cưỡng lại được, tất cả những yếu tố đó đã được Kim Uni tái hiện thành công trong tác phẩm của mình. Đầu tiên phải kể đến màu sắc, đó là khai thác màu xám xanh của da người, màu đen của những con quạ bay lượn trên bầu trời. màu sắc gợi lên sự chết chóc, u ám, khô héo. bao quanh không gian đó là mùi ẩm thấp của rác và mùi xác chết, mùi giấm đốt. kết hợp với tiếng kêu thảm thiết của quạ, xen lẫn tiếng kêu thảm thiết của gia đình người chết.

Để nói rõ hơn, con kỳ lân bằng kim loại còn cho người đọc thấy rằng mỗi sáng có ba bốn xác chết nằm bên vệ đường. tình huống rất đáng buồn và đáng tiếc. Kim uni nhìn hiện thực bằng con mắt nhạy bén và chân thực, không sợ hãi, phơi bày mọi thứ trong những trang viết của mình, để người đọc thấy rõ sự khủng khiếp của nạn đói năm 1945, nhưng giá trị đích thực của tác phẩm. sản phẩm ở chỗ: từ trong bóng tối của cái đói và cái chết, tác giả tìm thấy ánh sáng của vẻ đẹp tâm hồn con người.

sau khi vẽ bức tranh chung về nạn đói, nhân vật đầu tiên của truyện cổ tích xuất hiện, đồng thời cũng là nhân vật trung tâm của tác phẩm – người đàn ông. vốn là một cư dân, sống ở các địa chỉ khác nhau để kiếm ăn, cư dân thường bị phân biệt đối xử, sống ở ngoại ô của làng, không sống ở trung tâm của làng như những người khác. Không những vậy, họ không được chia đất hay tham gia bất kỳ hoạt động cộng đồng nào trong làng. anh ta bị đặt ở rìa xã hội. Không dừng lại ở đó, gia đình Trang còn rất nghèo, bố mất, chỉ có hai mẹ con sống nương tựa vào nhau, không có ruộng chung nên phải làm công việc bấp bênh để mưu sinh: kéo xe bò thuê.

………….

tải xuống tệp để xem phân tích ngắn hơn về người vợ

phân tích bài viết đầy đủ nhất mà vợ sưu tầm được

phân tích Vợ nhặt – mẫu 1

Nhà văn Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh năm 1920, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hoàn cảnh gia đình khó khăn nên anh chỉ học hết cấp 1 rồi phải đi làm. Vốn là người yêu thích văn học, ông bắt đầu sáng tác từ năm 1941. Một số truyện của ông viết về cuộc sống nông dân hoặc các hoạt động văn hóa truyền thống ở nông thôn.

Sau cách mạng tháng Tám, ông chuyên viết truyện về nông thôn, một thực tế mà ông hiểu sâu sắc. Theo nguyen hong, kim lan là một nhà văn trở về với đất, với người, về với sự thuần khiết, nguyên sơ của đời sống nông thôn. tác phẩm chính: Vợ chồng son (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962). Vợ nhặt là truyện ngắn hay nhất của Kim uni, được viết ngay sau khi cách mạng tháng 8 nổ ra năm 1945, nhưng chỉ sau khi hòa bình lập lại năm 1954, nó mới được ra mắt độc giả trong tập Con chó xấu xí.

truyện Vợ nhặt kể về cuộc sống ngột ngạt, bức bối của nhân dân ta trong nạn đói khủng khiếp cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu người. đó là hậu quả của ách thống trị tàn bạo hàng chục năm của thực dân Pháp và chính sách “nhổ lúa, trồng đay” tàn bạo của phát xít Nhật. Cũng như nhiều tác phẩm khác viết về nạn đói, Cây bút kim đầy lòng trắc ẩn đối với những số phận bất hạnh. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, tác giả tố cáo tội ác man rợ của thực dân Pháp và phát xít Nhật; đồng thời phản ánh khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và niềm tin vào tương lai tươi sáng của người lao động.

tóm tắt nội dung như sau: anh chàng xấu xí đáng thương, với vài câu chuyện cười và vài bát bánh, nhặt được người vợ đang chết đói một nửa. họ trở thành vợ chồng giữa bóng tối đói khát. đêm tân hôn trôi qua trong im lặng trong bóng tối lạnh lẽo, với tiếng khóc yếu ớt của những ngôi nhà đói mang theo gió. bữa cơm cưới chỉ có rau chuối, cháo loãng và muối, mẹ chồng đãi con dâu món chè nấu cám. Câu chuyện của những người cha và những người con xoay quanh việc Việt Minh tổ chức phá kho thóc của Nhật để chia cho người nghèo. hình ảnh những người đói và vẫy cờ đỏ…

Tiêu đề của người vợ đã thu hút sự chú ý của người đọc ngay từ đầu. người vợ nhặt vợ đi tiếp mà không cưới xin gì. cái tên truyện lạ lùng đã nói lên trọn vẹn cảnh ngộ và số phận của nhân vật. Câu chuyện về người anh trai bất ngờ tìm được vợ phản ánh tình cảnh bi đát và thân phận tủi nhục của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp xảy ra vào mùa xuân năm 1945.

Thành công đầu tiên của truyện Người đàn bà mà anh sưu tầm được là tác giả đã dựng nên một tình huống độc đáo: một người xấu xí, nghèo khổ, độc thân nhưng kiếm được vợ chỉ bằng mấy bát bánh mì. giá trị của con người quá rẻ! tác giả miêu tả tình huống đặc biệt này qua thái độ ngạc nhiên của cư dân khi nhìn thấy ngôi nhà của một người phụ nữ lạ chạy xe đến nhà. Họ bị sốc bởi thời buổi đói kém này, thậm chí không thể tự kiếm ăn, họ vẫn dám kết hôn. Mẹ Trang cũng bất ngờ vì không ngờ con trai mình đã có vợ. Tôi thậm chí không hiểu tại sao mình lại kết hôn dễ dàng như vậy.

nguyên nhân sâu xa là nạn đói khủng khiếp ập đến, người thì chết nên người đàn bà kia đành chấp nhận làm vợ anh. ý thức tố cáo của tác phẩm thật kín đáo mà sâu sắc. tác giả không trực tiếp nói lên tội ác của bọn đế quốc, phong kiến, tuy nhiên tội ác của chúng được bộc lộ một cách ghê tởm và tình cảnh đói khổ của người dân nghèo thật bi đát.

tình huống kỳ lạ trên chính là mấu chốt dẫn đến sự phát triển của nội dung truyện, ảnh hưởng đến tâm trạng và hành động của các nhân vật. bối cảnh lớn của câu chuyện là nạn đói năm 1945, bối cảnh nhỏ là một khu ổ chuột gần chợ. ở đầu tác phẩm, tác giả vẽ nên một bức tranh hiện thực với những gam màu u ám, những hình ảnh u ám.

Gần đây, mỗi chiều anh đi làm về, lũ trẻ chạy theo anh, một số từ đằng trước, một số khác từ đằng sau, một số cù anh, một số khác kéo, một số khác lê chân không chịu buông … cả xóm nơi anh ở. . khuấy động một lúc vào mỗi buổi chiều. nhưng giờ đây niềm vui nho nhỏ ấy đã không còn: không ai buồn đón con đi học về … chúng ngồi ủ rũ ở những góc phố, chẳng buồn nhúc nhích … nụ cười học trò thường ngày cũng vụt tắt: trong hoàng hôn, bước từng bước mệt mỏi. , chiếc áo sơ mi nâu khoác hờ trên một cánh tay, cái đầu hói cúi về phía trước. có vẻ như những lo lắng về một ngày chiến đấu đang đè nặng lên lưng chú gấu to lớn của anh ấy …

Đâu đâu cũng có thể thấy cảnh tượng: những gia đình từ các vùng Nam Định, Thái Bình, đắp chiếu, ôm nhau kéo nhau vào đám mây xanh xám như những bóng ma, ngổn ngang quanh các lều chợ. người chết như xác lá. không phải sáng nào người dân thị trấn đi chợ, đi làm đồng không thấy ba bốn xác người nằm la liệt bên vệ đường. không khí chỉ còn lại mùi hôi thối của rác rưởi và mùi hôi thối của xác chết. thật là một cảnh tượng khủng khiếp! Thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói chưa từng có, khiến hàng triệu người chết đói. mọi nơi, mọi nơi đều phủ một màu từ địa ngục.

Trang, nhân vật chính của câu chuyện là một cư dân nghèo và xấu xí, sống một mình với mẹ già trong căn lều bên sông. Xưa nay cuộc đời sống trong tủi nhục trăm bề. họ bị dân làng khinh thường và phải làm những công việc bị coi là hèn hạ như hầu đồng, trộm cướp … dân làng dù nghèo đến đâu cũng không chịu gả con gái cho hàng xóm vì cho rằng đó là điều xui xẻo. hơn nữa, anh ấy vẫn xấu:… mắt nhỏ… hàm rộng… khuôn mặt thô ráp của anh ấy luôn hiện lên những suy nghĩ buồn cười và dữ tợn… cái đầu cạo trọc của anh ấy hướng về phía trước… lưng anh ấy rộng như lưng gấu… đó là lý do tại sao anh ấy già rồi mà tôi vẫn có thể không lấy được vợ.

Trang gặp người phụ nữ đó chỉ hai lần trong dịp đưa cơm lên tỉnh. thời gian đầu đôi bên chỉ nói đùa và luyên thuyên vài câu. Lần sau khi chúng ta gặp cô ấy, anh ấy không nhận ra cô ấy vì cô ấy đã thay đổi quá nhiều. bà nhắc đi nhắc lại thì ông mới nhớ và mỉm cười xin lỗi rồi ngỏ ý muốn ăn trầu. anh ta đề nghị với tôi một cách dở khóc dở cười: ăn gì thì ăn, đừng ăn giàu. anh vui vẻ đãi cô một bữa bánh đúc (quà của người nghèo) đầy ắp của cô. Thấy cô ăn như chưa bao giờ được ăn, anh thấy thương cô liền nói với cô: “Đùa thế thôi mà về với anh, em lên xe lấy hàng rồi anh về đi.” . ” nhà.

cụm từ nửa đùa nửa thật. Đùa thì đùa cho vui, nhưng đúng là trong sâu thẳm, Tràng cũng muốn có vợ. tiếc rằng vì nó quá nghèo mà không ai có thể lấy nó. Vào thời điểm đó, nó không phải là bình thường để độc thân ở tuổi đó, và đó là bất hạnh. lời nói của anh vừa bông đùa vừa chua chát: không đời nào có vợ được … anh muốn có vợ từ lâu rồi, nhưng ít nhất cô ấy phải là người bình thường, khỏe mạnh chứ không phải loại chết đói. , chết khát, kẻ mất trí?

truong nói đùa rằng không ngờ cô ấy về nên bàng hoàng nghĩ: không biết mình có nuôi được cơm này không nữa, thân mình còn đèo bòng. anh nghĩ và lo lắng, nhưng tặc lưỡi: tsk, kệ! có lẽ anh ấy nghĩ mình mạnh mẽ, khỏe khoắn và có công ăn việc làm nên dù có vượt núi vẫn không sợ chết đói. Hơn nữa, sao anh dám để người phụ nữ đó chết đói?

Đó không phải là một trò đùa nữa. không chỉ cứu người mà việc may mắn lấy được vợ phải là một việc nghiêm túc và có trách nhiệm. anh đưa cô đi chợ tỉnh, đãi cô một bữa ăn no nê, mua một giỏ đồ lặt vặt rồi đưa cô về nhà. trong trái tim bây giờ không chỉ có tình yêu mà còn là niềm vui và cảm xúc. nhiều lần anh cố gắng nói với cô vài câu yêu thương nhưng anh không biết phải nói thế nào. phút đầu tiên không bao giờ như vậy. đùa là đương nhiên. một nửa trong trò đùa, một nửa thực là khó khăn. Bây giờ là thật, thật khó nói! nhưng mọi thứ có bình thường và yên bình không? xấu hổ là điều cần thiết.

tuy nhiên, từ tận đáy lòng, một niềm vui bất ngờ cứ trỗi dậy: trong phút chốc, như quên đi mọi cảnh đời u ám tăm tối hàng ngày, quên đi cái đói khủng khiếp đang … đe dọa … Trong trái tim anh lúc đó chỉ có tình yêu với người phụ nữ ở bên. một cái gì đó mới, lạ chưa từng thấy ở con người tội nghiệp ấy … đúng vậy. Đó là niềm vui lớn nhất trong cuộc đời: anh đã có vợ. Tình cảm của anh dành cho người phụ nữ xa lạ này không chỉ là sự thương hại mà còn là sự biết ơn vì cô đã đồng ý làm vợ anh mà không đòi hỏi bất cứ điều kiện gì. nhờ đó mà anh ấy có được một người vợ và cuộc đời của anh ấy đã thay đổi. Từ nay, bạn không còn phải sống một mình nữa.

con ngựa non đã chở người phụ nữ về nhà lúc hoàng hôn. Họ đến ngã tư chợ xóm… hai bên đường bát canh ngược xuôi, tối om, không nhà nào có ánh sáng, lửa cháy. dưới những cây đa, những gốc gạo rậm rạp, những bóng người đói lả lướt như những bóng ma. tiếng quạ kêu trên cây gạo ngoài chợ cứ kêu từng hồi …

hình ảnh tràn ngập không khí chết chóc. cảnh vật ảm đạm, con người đìu hiu, nhà cửa nhăn nhúm, hôi thối, đặc quánh, tối tăm … như những ngôi mộ hoang vắng lạnh lẽo. cuộc sống là ngắn ngủi. cái chết đã đến, đang đến. và những con quạ thỉnh thoảng hú lên vì chúng ngửi thấy mùi xác chết. toàn bộ cảnh quan xấu đang hoang tàn, mục nát. Giọng văn của Kim Lân trong đoạn văn này rất tỉnh táo, khách quan nhưng những cảm xúc đau đớn được kìm nén nên gây ấn tượng mạnh.

Giữa cảnh đói khát tối tăm ấy, một buổi chiều nọ, những người hàng xóm bỗng thấy một người đàn bà khác trở về. đã dẫn người phụ nữ này về làm vợ, xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái để tiếp tục cuộc sống. Trên bờ vực của cái chết, họ tìm kiếm sự sống. giọng tác giả đột ngột trở nên vui nhộn: khuôn mặt anh ta có một vẻ hưng phấn lạ thường. Anh cười một mình và mắt anh lấp lánh. hân hoan trước sự kiện trọng đại bất ngờ trong cuộc đời: anh đã tìm được một người vợ, anh sẽ đưa cô ấy về nhà. đói, chết tràn lan, tôi cũng đói, mẹ già cũng đói mà tự dưng có vợ. câu chuyện kỳ ​​lạ nhưng thú vị!

Thật lạ với thế giới và lạ ngay cả với khu phố nhỏ tồi tàn này. cảnh tượng phía trước, người phụ nữ phía sau lui ba bốn bước với dáng vẻ e thẹn, ngại ngùng, đầu hơi nghiêng, chiếc nón rách nghiêng che khuất nửa khuôn mặt… khiến ai cũng tò mò muốn xem. bọn trẻ thấy lạ trước. cái lạ đã chiến thắng cái đói, trả lại cho anh sự hồn nhiên vốn có. một trong số họ đột nhiên hét lên: anh ơi! chồng diễn viên hài! khiến khán giả vừa cười vừa chửi thề: nhóc! nhưng trong bụng thì rất tốt. đứa bên cạnh là xóm chợ cũng thấy lạ. họ nói … họ hiểu một chút, khuôn mặt họ đột nhiên sáng lên. từ sâu thẳm tâm hồn họ vẫn có một tia vui. họ quan tâm đến ý tưởng có vợ. Họ muốn ăn mừng với bạn. khu phố đang chết dần chết mòn này bỗng bừng lên sức sống.

xem thêm: mở bài về tác phẩm của người vợ sưu tầm

phân tích Vợ nhặt – mẫu 2

kim uni, một nhà văn chuyên viết truyện ngắn, với tài viết về người nông dân. Người nông dân trong tác phẩm của Kim Lân tuy nghèo nhưng luôn tỏa sáng với những phẩm chất: yêu đời, thật thà, giản dị, hóm hỉnh và tài hoa. Vợ Nhặt Là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của ông khi viết về nông dân.

Tác phẩm là một trong những truyện hay nhất trong tuyển tập truyện “Con chó xấu xí” (1962). tác phẩm này vốn là một tiểu thuyết “cư dân”, được viết ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công. tuy nhiên, nó chỉ được viết một nửa và bản thảo sau đó đã bị thất lạc. Năm 1954, hòa bình lập lại, nhân dịp hàng loạt tờ báo văn học nghệ thuật chào mừng cách mạng tháng Tám thành công, kim lan nhắc lại tiểu thuyết “xóm ngụ cư”, dựa theo cốt truyện cũ viết lại thành truyện. Kể từ khi ra đời, tác phẩm đã gây được nhiều tiếng vang trong giới sáng tạo.

Vở kịch lấy bối cảnh năm Ất dậu 1945, năm xảy ra nạn đói khủng khiếp làm chết đói hơn hai triệu đồng bào ta. nạn đói khủng khiếp diễn ra khắp nơi khiến người ta không thể chống lại, tất cả những yếu tố này đều được kim uni tái hiện thành công trong tác phẩm của mình.

trước hết là màu sắc, nó là để khai thác màu xám xanh của da người, màu đen của những con quạ bay trên bầu trời. màu sắc gợi lên sự chết chóc, u ám, khô héo. Xung quanh không gian đó là mùi ẩm thấp của rác và mùi xác chết, mùi pin cháy. kết hợp với tiếng kêu thảm thiết của quạ, xen lẫn với tiếng kêu thảm thiết của gia đình người chết. Nói rõ hơn, con kỳ lân bằng kim loại còn cho người đọc thấy rằng trong mỗi hình ảnh phát sáng có ba bốn xác chết nằm la liệt bên đường. tình huống rất đáng buồn và đáng tiếc. Kim uni nhìn hiện thực bằng con mắt nhạy bén và chân thực, không sợ hãi, phơi bày mọi thứ trong những trang viết của mình, để người đọc thấy rõ sự khủng khiếp của nạn đói năm 1945, nhưng giá trị đích thực của tác phẩm. sản phẩm ở chỗ: từ trong bóng tối của cái đói và cái chết, tác giả tìm thấy ánh sáng của vẻ đẹp tâm hồn con người.

sau khi vẽ bức tranh chung về nạn đói, nhân vật đầu tiên của truyện cổ tích xuất hiện, đồng thời cũng là nhân vật trung tâm của tác phẩm – người đàn ông. vốn là một cư dân, sống ở các địa chỉ khác nhau để kiếm ăn, cư dân thường bị phân biệt đối xử, sống ở ngoại ô của làng, không sống ở trung tâm của làng như những người khác. Không những vậy, họ không được chia đất hay tham gia bất kỳ hoạt động cộng đồng nào trong làng. anh ta bị đặt ở rìa xã hội. Không dừng lại ở đó, gia đình Trang còn rất nghèo, bố mất, chỉ có hai mẹ con sống nương tựa vào nhau, không có ruộng chung nên phải làm công việc bấp bênh để mưu sinh: kéo xe bò thuê.

Có vẻ như số phận càng trớ trêu hơn, khi gia cảnh nghèo khó, là người ở trọ, anh cũng có ngoại hình vô cùng xấu xí. hai mắt gà nhỏ chìm vào bóng tối, hai bên quai hàm xòe ra khiến khuôn mặt càng thêm to. Cơ thể khổng lồ, giống như một người khổng lồ. Vừa đi anh vừa lẩm bẩm suy nghĩ và chỉ biết nhìn lên trời mà cười. Anh ta có đầy đủ vẻ đẹp thu hút các chàng trai, nhưng với các cô gái thì anh ta hoàn toàn không hấp dẫn, cả về ngoại hình lẫn gia cảnh, anh ta đều không thể lấy được vợ.

nhưng trong một lần hát nghêu ngao khi đang làm việc, anh ấy đã lấy được một người vợ một cách bất ngờ và tuyệt vời. trong khi làm việc căng thẳng, dân gian ta thường có những bài hát để xua tan mệt mỏi và tăng động lực làm việc. và ông già cũng hát, lời bài hát rất vui nhộn: “Tôi muốn ăn cơm trắng với giò heo. đến đẩy xe bò với anh. “

Trước khi đưa vợ về nhà, anh ấy rất chu đáo, anh ấy mua cho vợ một chiếc giỏ con mới, anh ấy đưa cô ấy đi ăn uống đầy đủ, anh ấy mua hai xu dầu để thắp sáng nhà. Lão nhân gia thô lỗ, luôn miệng nói cười, hôm nay đột nhiên trở nên tâm lý, phảng phất khác thường. trở lại lĩnh vực của niềm vui, của sự hưng phấn, luôn luôn mỉm cười. khuôn mặt anh lúc nào cũng vui vẻ, rạng rỡ và tự hào về bản thân. cảnh khổ cực, tủi nhục hằng ngày, nàng đã quên hẳn mà chỉ sống với niềm vui, hạnh phúc khi lấy chồng. Bước chân lên thiền viện, anh bỗng xấu hổ, xấu hổ, đứng giữa nhà, chợt thấy sợ hãi nhưng vui và hạnh phúc khi cuộc hôn nhân của anh thành hiện thực. Điều mong chờ nhất là đợi mẹ anh về để giới thiệu với anh bạn gái mới. việc giới thiệu với mẹ cũng hết sức tôn trọng, để con dâu bớt ngại ngùng, xấu hổ. tràng đã thay đổi thành một con người khác, tâm lý nhạy cảm và có tài ăn nói. Có vẻ như hạnh phúc mới này đã mang đến sự thay đổi lớn trong tâm lý và suy nghĩ của anh.

Tham khảo: Ngu van 8 bai chuong trinh dia phuong

hạnh phúc đã đánh thức ý thức về bổn phận của những người đàn ông trong gia đình. Sáng hôm sau, khi thức dậy muộn, anh cảm thấy dễ chịu, mềm nhũn như người bước ra từ giấc mơ, anh ngạc nhiên không biết mình hạnh phúc đến nhường nào. sau khi xem cảnh tượng đang diễn ra trước mắt, anh nhận thấy cảnh vật thay đổi mới lạ, nhà cửa không bừa bộn mà sạch sẽ, không khí gia đình trở nên đầm ấm, hạnh phúc, tình mẹ con. người vợ chung tay dọn dẹp, vun vén nhà cửa. . Tôi cảm động, xúc động và bỗng thấy yêu quý những người xung quanh, đồng thời nhận ra trách nhiệm của bản thân là phải biết chăm lo cho gia đình, vợ con.

và nhận thức đó đã được hiện thực hóa thông qua hành động xăm trổ chạy ra sân, mong muốn được chung tay sửa chữa ngôi nhà. chúng tôi muốn chung tay chào đón một tương lai tươi sáng đến với gia đình mình. đồng thời cũng có khát vọng đổi đời mãnh liệt, biết quan tâm đến xã hội: người thái nguyên bắc giang không đóng thuế mà còn phá kho thóc của cha cho dân đói. hình ảnh những con người đói khát và những lá cờ đỏ vẫy trong chờ đợi, ẩn hiện trong tâm trí. hình ảnh của lá cờ là dấu hiệu của một tương lai tươi sáng. Độc giả tin rằng công ty sẽ theo Việt Minh và theo cách mạng.

xây dựng nhân vật, cây kim trước hết thể hiện cuộc sống khốn khó của nhân dân ta trong nạn đói năm 1945. nhưng đằng sau đó còn là sự thương cảm cho số phận của họ. trân trọng, khám phá và ca ngợi vẻ đẹp của con người Việt Nam trong hoàn cảnh khốn khó: tấm lòng nhân hậu, khát vọng hạnh phúc, niềm tin vào tương lai.

Ngoài nhân vật ấy, chúng ta không thể không kể đến nhân vật người vợ nhặt. Vợ nhặt không rõ lai lịch, không rõ tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp, không tài sản gì khi gặp vợ. bạn có thể thấy rằng, trong nạn đói lớn, thân phận con người trở nên hoàn toàn vô nghĩa. lần thứ hai tôi gặp chị, quần áo xộc xệch, rách rưới như tổ đỉa, thân hình gầy guộc vì đói, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt, ngực gầy xẹp lép, đôi mắt trũng sâu. vẻ ngoài vô cùng thảm hại, do nạn đói đã gây ra trong dân chúng. ngôn ngữ của anh ta cũng rất hay nói, nói lảm nhảm: “dieu! những người như vậy! ”,“ hãy ăn đi ”,“ ha, ngon. thấy thiếu tiền nên bỏ bố ”; rồi “ton-sur-ton chạy lại”, “nhìn mà cười”, “nhỏ chạy tới”, “xưng là nói”, “vặn mình”, “cắm đầu ăn”, “ăn xong dùng đũa đánh”. cho thấy con người rất vô ơn, dường như chết đói có thể bào mòn nhân cách của con người một cách trầm trọng.

nhưng tại sao lại vô ơn bạc nghĩa như vậy lại là một người có ý chí sống vô cùng mạnh mẽ. Khi nhìn ở góc độ con người, tất cả những hành động và cử chỉ thô lỗ, vô duyên của anh ta đều thể hiện khát vọng sống mãnh liệt của anh ta. Hơn nữa, cô ấy còn xuất hiện với vẻ đẹp nữ tính, trên đường về nhà, cô ấy bị trượt chân, ngại ngùng: “cầm một chiếc giỏ nhỏ, đầu hơi cúi xuống; cái mũ rách nát cúi đầu nghiêng nửa khuôn mặt. “Về đến nhà chồng, nhìn thấy cảnh nhà chồng, nén tiếng thở dài, ngồi ở mép giường, vô cùng lễ phép khi gặp mẫu thân. -anh rể sáng hôm sau dậy sớm cùng mẹ dọn dẹp nhà cửa gọn gàng, nhân vật thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của tác giả.

Cuối cùng là nhân vật bà lão, tuy chỉ thoáng qua trong tác phẩm nhưng nó cũng có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng. bà là một phụ nữ nghèo và không nơi nương tựa: những người sống ở các địa chỉ khác nhau xin thức ăn; chồng và con gái mất sớm. cả đời khó khăn, chỉ mong ước lớn nhất là lấy được vợ cho con, nhưng tiền bạc không dành dụm được, trong lúc túng quẫn, người con trai đã tìm được vợ. thấy con cái đưa về nhà, bà cúi đầu lặng lẽ, băn khoăn nhưng vẫn rất mừng cho đôi vợ chồng trẻ, bà đưa ra lời khuyên cho đôi vợ chồng mới. kể cho họ nghe những câu chuyện hay về tương lai, tạo cho họ niềm tin và sự lạc quan. Cô ấy là một người mẹ tốt bụng và rất yêu thương con cái của mình.

Nhặt Vợ Của Kim Lân là một trong những tác phẩm văn học hiện thực hay nhất. tác phẩm thể hiện hiện thực cuộc sống nghèo khổ của người dân đồng thời phản ánh giá trị nhân đạo sâu sắc. tác phẩm thể hiện sự trân trọng, nâng niu những ước mơ làm thay đổi cuộc đời của con người. Không chỉ vậy, tác phẩm còn thể hiện nghệ thuật phân tích tâm lý và miêu tả tài tình của nhà văn Kim Unicorn.

phân tích các tác phẩm do vợ sưu tầm – mẫu 3

Nạn đói khủng khiếp năm 1945 đã khiến nhân dân ta lâm vào tình cảnh vô cùng thê thảm. hoàn cảnh đó được các nhà văn tái hiện một cách chân thực trong các tác phẩm của mình. nhà văn kim uni cũng là một trong số đó. đã khắc họa số phận của những người nông dân qua vở kịch “nhặt vợ” với tấm lòng nhân ái sâu sắc.

nhặt được vợ là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim uni, trước tiểu thuyết “xóm ngụ cư” do ông viết sau cách mạng tháng Tám nhưng chưa hoàn thành và sau đó bị thất lạc bản thảo. Năm 1954, Kim Uni viết lại tác phẩm này dựa trên một phần của câu chuyện cũ và nó đã được in trong tập “Con chó xấu xí” (1962). câu chuyện tố cáo tội ác diệt chủng của bọn thực dân, phát xít, đồng thời khẳng định khát vọng hạnh phúc và niềm tin vững chắc của người lao động vào cuộc sống và tương lai phía trước.

tác phẩm có nhan đề lạ nhưng cũng rất hấp dẫn, gây được sự chú ý của độc giả. theo kim uni, “collection” có nghĩa là thu thập, lựa chọn một cách ngẫu nhiên. người vợ thu là người vợ không theo hôn nhân, không cưới xin, lễ nghĩa, tử tế. Bình thường người ta chỉ nhặt rơm, rác rưởi chứ chẳng ai nhặt vợ cả. trong tình huống này, tình trạng con người rẻ hơn bao giờ hết. Kim Uni đã xây dựng một tình huống truyện bất ngờ nhưng cũng đầy nghịch cảnh và hài hước. Giữa lúc đói kém, không biết có lo được cho mình hay không, anh lại tìm gặp vợ. Chỉ với một vài câu nói đùa, bốn bát bánh, một anh chàng xấu xí tội nghiệp có thể lấy được vợ. và cũng vì hoàn cảnh đói khát đến vô vọng mà anh phải chịu đựng. đó là một bước ngoặt khi đưa thêm một người vào giữa nạn đói. cô dâu đồng loạt xuất hiện trong buổi chiều “hồng nhan”, “xuýt xoa” trước cái nhìn ngỡ ngàng của biết bao bà con lối xóm. thậm chí có người còn lo lắng cho anh: “đất này còn mang nợ đời. Không biết họ có nuôi nhau mà sống được không”?

the

nổi bật giữa ranh giới của sự sống và cái chết là hình ảnh người anh, người phụ nữ lớn tuổi và người vợ đi theo đàn tràng. họ đã hỗ trợ, giúp đỡ nhau để vượt qua sự khắc nghiệt của hoàn cảnh. người anh hùng xuất hiện giữa một không gian u ám, đầy chết chóc bởi “người chết như rơm”, “không khí vẫn còn mùi rác và mùi xác người”. Anh ta được miêu tả là một tên ngốc, vì vậy mà anh ta thường bị những đứa trẻ hàng xóm trêu chọc. Gia đình Trang gặp nhiều bất hạnh vì anh là người dân trong xóm, sống với mẹ già. vì nghèo nên dù đã nhiều tuổi nhưng ông vẫn chưa lập gia đình. không may, ông lão lấy được vợ ngay trong cơn đói kém. Đây là một niềm vui lớn đối với anh ta, làm cho khuôn mặt của anh ta trở nên “khác thường” và “tự cười một mình”, “mắt anh ta lấp lánh”. kết hôn là chuyện hệ trọng của đời người, cần phải chuẩn bị trước, hai người đến với nhau bằng tình yêu của hai trái tim đồng điệu. nhưng vợ chồng ông lão không có hôn nhân đàng hoàng, lễ nghĩa. Họ tình cờ gặp nhau và đến với nhau không phải vì tình yêu. họ gặp nhau và ở bên nhau do nghèo khó.

Sự xuất hiện của người vợ nhặt trong đời đã làm thay đổi tính cách của anh. Từ một người khờ khạo, anh trở thành một người sống có trách nhiệm, biết chăm lo cho gia đình. anh rất ga-lăng trong việc chuẩn bị đón vợ trước khi rước cô ấy về nhà làm dâu. anh chở chị đi chợ tỉnh rồi “bỏ tiền ra mua cho chị cái thúng nhỏ đựng mấy thứ lặt vặt rồi vào quán cơm ăn cho no rồi đẩy xe”. Không chỉ vậy, anh ta còn mua một lượng dầu thắp sáng trị giá hai xu. đại tràng đã chuẩn bị cho mình cả về vật chất và tinh thần cho một cuộc sống mới khá hoàn chỉnh. khi những ánh mắt của bà con lối xóm đổ dồn vào anh và vợ anh nhặt được “anh làm đẹp lắm”. Anh ấy không thể kìm nén được niềm hạnh phúc khi có vợ nên đã thể hiện điều đó qua “khuôn mặt tự mãn” của mình.

Ai đủ can đảm để nhận lấy hạnh phúc của mình giữa cơn đói khát như ông lão? anh giới thiệu đầy đủ cho bà cụ biết về số phận và cái số của mình với vợ: “nhà anh lại vừa làm bạn với em! chúng ta sống với nhau … cũng chỉ là cái số thôi.” Sự kiện kéo theo sự trở về từ chợ đã bỏ anh lại. “bàng hoàng như không”. Nhưng chính sự kiện trọng đại ấy đã khiến lòng anh tràn ngập một nguồn vui và xúc động, anh cảm thấy mình là “đàn ông”, “có bổn phận chăm lo cho vợ con sau này. “. Nó đến rất thất thường, bất ngờ nhưng cũng vô cùng thiêng liêng. Đàn đã vượt qua thực tại đói khát để đón nhận hạnh phúc bình dị nơi trần thế. Nó đã trưởng thành hơn, chín chắn hơn trong suy nghĩ và hành động để có thể chăm sóc tốt cho mình gia đình.

XEM THÊM:  Soạn bài Điệp ngữ | Soạn văn 7 hay nhất

Việc chị có vợ không chỉ khiến bà con lối xóm ngạc nhiên mà ngay cả bà già, mẹ chị cũng phải kinh ngạc. rất ngạc nhiên khi có một người phụ nữ “đứng đầu giường con trai mình” và “chào anh với em”. đó cũng là tâm lý chung của các bà mẹ khi thấy mình rơi vào trường hợp như vậy. sau khi nghe lời giới thiệu của người vợ nhặt, “lòng người mẹ nghèo vẫn thấu hiểu bao điều, xót xa, xót xa cho số phận của đứa con thơ” như “hai hàng nước mắt giàn giụa”. anh lo lắng liệu “họ có thể nuôi nhau qua cơn đói khát này không”. bà hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh của bạn gái mới, nhờ vậy mà con trai bà đã có vợ. Chỉ cần vợ chồng hòa thuận, làm ăn chung vui là được. bà thông cảm cho cảnh ngộ của vợ ông. đó là sự quan tâm, đùm bọc lẫn nhau của những người cùng cảnh ngộ. bà cụ thực sự là một người mẹ có tấm lòng bao dung và vị tha cao cả.

Anh ấy có niềm tin vào tương lai và có ý chí sống mạnh mẽ. điều đó được thể hiện trong suy nghĩ, lời nói và hành động của họ. đã an ủi con cháu bằng câu: “nếu may mắn thì ông bà chiếu cố”, “thế là ba giàu, khó ba đời” để khuyến khích các con nỗ lực làm ăn, chăm lo. từ tương lai. sáng hôm sau, chị cảm thấy “nhẹ nhõm, sảng khoái khác hẳn mọi ngày, gương mặt u ám sáng hẳn lên”. qua bữa sáng anh ấy kể chuyện vui, chuyện vui sau này. Cô ấy nói với anh rằng khi có tiền cô ấy sẽ mua một vài con gà và khen món canh ngon. thực chất đó là món cháo cám đắng, được bà khen là ngon để tự an ủi mình, cũng như an ủi con cháu và giấu đi những giọt nước mắt ăn năn. chính cô đã thổi niềm tin và cuộc sống mới vào đôi bạn trẻ. niềm lạc quan và niềm tin vào tương lai tươi sáng của bà cụ đã trở thành ánh sáng, là điểm tựa tâm hồn cho những đứa trẻ.

Ngoài ông già và bà lão, nhà văn Kim Uni đã xây dựng thành công nhân vật người vợ nhặt. Đây là điển hình cho số phận của một người phụ nữ trong nạn đói năm 1945. Thậm chí không có một cái tên nào cho người phụ nữ đó. Nhân vật này được tác giả gọi là “thị”, một đại từ nhân xưng thường dùng cho những người phụ nữ khác và điều đó ngầm chỉ ra số phận chung của họ trong nạn đói. Kim uni đã khắc họa vẻ ngoài của cô bằng tất cả nỗi đau của người trong cuộc. “rách quá”, “gầy nhô ngực”, “quần áo tả tơi như tổ đỉa, đã gầy lại càng gầy, trên khuôn mặt xám như điếu cày chỉ còn thấy hai con mắt”, khiến cho trông thật tuyệt. tìm. thị trấn không có việc gì, ngồi ở cửa kho thóc nhặt hạt rơi vãi, ai có việc gì gọi thì làm. cho bài hát: “nóng lòng muốn ăn dăm bông này với cơm trắng! lại đây và đẩy xe với tôi, meo meo!” nhưng cô ấy đã “chạy lùi và đẩy xe vào tràng”. đây cũng là cái cớ để hai người gắn kết cuộc đời mình.

Ở con người, có một chút “nhắng nhít” khi cố gắng đánh bại ông già. Thị hoàn toàn quên mất việc cần một người phụ nữ “sà xuống”, “cúi đầu ăn bốn bát bánh mà không nói tiếng nào”, rồi “ngậm đũa vào miệng”. tuy “trào lộng” là vậy, nhưng ẩn sâu trong người vợ thu là nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Thị chỉ theo anh về nhà khi biết anh chưa lập gia đình. trên đường về, cô ấy bò, bẽn lẽn, xấu hổ, “chân này giẫm lên chân kia”. khi trở lại ngôi nhà dài, cô chỉ đơn giản là “ngồi ở mép giường” và lễ phép chào bà lão. cô có sự ngỡ ngàng của bạn gái mới khi về nhà chồng. đứng trước “ngôi nhà hoang nằm cheo leo trong vườn cây um tùm”, chị thấy hụt hẫng nhưng cũng “nén tiếng thở dài”.

Người vợ của người đón đã có một sự thay đổi lớn vào sáng hôm sau. “đoan trang, thục nữ”, thị cùng bà lão dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị bữa cơm đầu tiên đánh dấu cuộc đời làm dâu của mình. dù món ăn có vị đắng nhưng thị vẫn “thản nhiên bỏ vào miệng” mà không một lời than thở. chấp nhận cuộc sống nghèo khổ đó. niềm tin vào cuộc sống đã khiến cô theo chồng đi lấy chồng. Nhờ có người anh trai và bà cụ, tính mạng của anh đã được cứu sống. Qua vở kịch “Nhặt vợ”, Kim Lân đã thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc. tác phẩm thể hiện niềm thương cảm, xót xa cho kiếp người, đồng thời lên án tội ác diệt chủng của thực dân Pháp đã gây ra cái chết đói khát của hơn hai triệu đồng bào ta.

phân tích các tác phẩm do vợ sưu tầm – mẫu 4

Nạn đói khủng khiếp và khốc liệt năm 1945 đã khắc sâu trong tâm trí Kim Lân, một nhà văn hiện thực, người có thể coi là một người con của đất nước, một người đi về “thuần phong mỹ tục”. Ngay sau cách mạng, ông bắt tay ngay vào việc viết tác phẩm Khu phố khi hòa bình lập lại (1954), nỗi khắc khoải không ngừng thôi thúc ông viết tiếp câu chuyện đó. Và cuối cùng, câu chuyện “vợ nhặt” đã ra đời.

lần này, Kim uni đã thực sự mang đến cho câu chuyện cổ tích của mình một khám phá mới, một điểm sáng soi sáng toàn bộ tác phẩm. đó là vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của những người nông dân nghèo điển hình như anh chàng nông dân, người vợ xe tải và bà cụ. Truyện cổ tích thể hiện thành công khả năng dựng truyện, kể chuyện và quan trọng hơn cả là Kim Uni được ghi nhận là người có tài khám phá những diễn biến tâm lý bất ngờ.

trong một bài phát biểu, Kim uni từng nói: “Khi viết về nạn đói, người ta thường viết về nghèo đói và bi kịch. khi viết về những con người trong năm đói, người ta thường nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn, nhưng những người này không nghĩ đến cái chết, họ vẫn chờ đợi sự sống, họ vẫn còn hy vọng, họ vẫn tin tưởng vào tương lai. họ vẫn muốn sống, “sống vì nhân dân”. đó là tình người và là niềm hy vọng sống vào tương lai của những con người cận kề cái chết. trong cách kể chuyện, xây dựng tình huống “nhặt vợ” khéo léo kết hợp với khả năng phân tích diễn biến tâm lí nhân vật rất tinh tế và sử dụng thành công ngôn ngữ nông dân, ngôn ngữ giản dị, đời thường nhưng có sự chọn lọc kĩ càng, nhà văn đã tái hiện trước mắt chúng ta là một không gian đói khát thảm hại và buồn bã.

nó rải rác giữa người sống và người chết, những bóng ma lang thang, trong im lặng giữa tiếng khóc và tiếng hét, họ gửi vào không gian đen tuyền đó những mầm sống đang cố gắng vươn tới tương lai, tình yêu chân thành, giản dị nhưng rất tình yêu cao cả và nhà văn đã để những số phận như anh em, vợ chồng và bà lão phơi phới lá cờ đỏ vẫy gọi dân đói phá kho thóc ở cuối truyện cổ tích.

Có thể nói, Kim Lân đã thực sự xuất sắc khi đưa được tình huống “nhặt vợ” của ông lão. hoàn cảnh đó là cánh cửa đóng kín để nhân vật bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn. Hình như trong cái nghèo khó, người ta dễ đối xử tàn nhẫn với nhau, khi cái ăn của người ta không đủ thì làm sao lấy thêm người được? trong hoàn cảnh đó, người ta dễ cấu xé nhau, ích kỷ hơn là buông thả, người ta dễ tàn nhẫn và làm khổ nhau. nhưng nhà văn Kim uni lại phát hiện ra điều ngược lại ở các nhân vật ông lão, người vợ nhặt và bà lão.

chúng tôi sợ hãi trước “xác chết đói ngoài đường”, “người lớn xanh như ma”, trước “không khí vẫn nồng nặc mùi rác và mùi xác chết”, chúng tôi luôn ớn lạnh vì điều đó ” quạ kêu ”nhưng, kỳ lạ thay, chúng tôi không khỏi xúc động trước nghĩa cử cao đẹp mà giản dị này của bà, cụ, vợ. Một thanh niên xóm trọ ấy cũng giống như con ruột, con người – thân hình vạm vỡ, vạm vỡ trông thật ngốc nghếch, thô kệch và xấu xí nhưng lại chứa đựng biết bao tình cảm đẹp đẽ.

“Nạn đói đến với thị trấn từ bao giờ”, nhưng anh vẫn phải thêm một người vợ trong khi anh không biết cuộc sống đang chờ mình ở phía nào. nó thật là liều lĩnh. và người vợ cũng vậy. hai liều đó gặp nhau để tạo thành một gia đình. điều đó thật buồn và thật buồn. và dường như ngay lúc đó, trong con người ấy đã bừng lên sức sống, khát khao yêu thương chân thành. và dường như anh ấy thầm ấp ủ một khát vọng thiết thực về sự ấm áp của tình cảm vợ chồng, về hạnh phúc lứa đôi. Dù hành động của họ là vô tình, không có mục đích, chỉ phù phiếm cho vui nhưng điều đó không gợi mở được tình cảm của một người biết yêu thương, quan tâm, chăm sóc những người cùng cảnh ngộ.

tất nhiên, vợ chồng anh rất bất ngờ, anh “sợ”, “ngỡ ngàng”, “ngỡ ngàng” như không, nhưng chính tình cảm lứa đôi đã tiếp thêm sức mạnh và thắp lại ngọn lửa yêu thương. yêu thương và sống có trách nhiệm với gia đình trong đó. tình cảm vợ chồng êm ấm ấy dường như thay đổi hẳn tính tình. Từ một mẫu người ngây thơ, thô lỗ và cục cằn, anh đã sớm lột xác thành một người chồng thực thụ khi chấp nhận hạnh phúc gia đình. hạnh phúc dường như là một cái gì đó “ôm ấp và vuốt ve toàn bộ làn da như thể một bàn tay đang vuốt ve lưng”. tình yêu và hạnh phúc ấy khiến “trong phút chốc như quên đi tất cả, quên đi cái đói rét ám ảnh, quên đi những tháng ngày đã qua”. và tràng đã lên. những thay đổi của anh ấy rất bất ngờ nhưng rất logic. Những thay đổi này chẳng qua là một tâm hồn nhân hậu, giản dị và đầy yêu thương?

trong người của tràng thức dậy sau khi đón niềm hạnh phúc đó thật khác lạ. Columbus không còn là anh của ngày xưa mà giờ đã là một người con hiếu thảo, một người chồng có trách nhiệm ngay cả trong suy nghĩ. khi nhìn thấy mẹ vợ quét nhà, anh lại cảm thấy khao khát một cảnh gia đình hạnh phúc. “Anh ấy cảm thấy yêu ngôi nhà của mình một cách kỳ lạ”, “anh ấy cảm thấy có trách nhiệm hơn với vợ con của mình trong tương lai”. cô ấy cũng ra ngoài hiên để lau nhà. nghĩa cử ấy của tràng không chỉ là một câu chuyện bình thường mà nó là một sự thay đổi lớn lao. chính tình thương vợ, tình mẹ con chan hòa ấy đã nhen nhóm trong anh niềm khát khao hạnh phúc, niềm tin cuộc đời sẽ đổi thay khi nghĩ đến đồng bào đói khổ và ngọn cờ đỏ lửa. sau đó nó sẽ thay đổi số phận của anh ta, cuộc sống của anh ta, của vợ anh ta và thậm chí là của mẹ anh ta. anh ấy nghĩ vậy.

cái đói ấy không ngăn được ánh sáng của tình người. đêm đen ấy sẽ qua đi và chờ đợi ánh sáng tự động của sự sống biết trước sức mạnh của thời đại. một lần nữa, kim uni không ngần ngại hạnh phúc, gửi gắm niềm tin vào các nhân vật của mình. người vợ nhặt đã làm thay đổi cuộc sống của cái xóm nghèo và tăm tối ấy, làm cho những khuôn mặt hốc hác, đen tối của mọi người trở nên tươi sáng hơn. từ một người mềm yếu trở thành một người vợ tốt bụng và đáng tin cậy là một quá trình biến đổi. điều gì khiến thị trường thay đổi như vậy?

Đó là tình người, đó là tình yêu. dù chợ theo đại tá về, chỉ qua bốn bát bánh thầu dầu và hai câu nói phù phiếm của thực dân, chúng tôi cũng không coi thường. nếu có trách thì cũng chỉ có thể nhắm thẳng vào xã hội thực dân phong kiến ​​đã bóp chết quyền sống của con người. Anh xuất hiện không tên, không quê quán, trong tư thế “vạt áo tơi tả”, cử chỉ có vẻ thảm hại, nhưng chính con người ấy đã gieo mầm sự sống trên đời, thay đổi tất cả, từ hư vô. từ không khí hàng xóm đến không khí gia đình. chợ đã mang đến một luồng sinh khí mới mà chỉ có thể tìm thấy ở những con người chứa đựng niềm tin, khát vọng sống cao đẹp trong tương lai.

chợ được miêu tả đủ nhưng lại là nhân vật không thể thiếu của tác phẩm. Bỏ chợ, Tràng vẫn chỉ là ông già, bà lão vẫn âm thầm chịu đựng, cơ cực. Kim Lân cũng rất thành công khi xây dựng nhân vật này để góp phần ca ngợi sức sống vẻ đẹp của con người, niềm tin vào cuộc sống phía trước trong những ngày còn đói khổ. Và thật bất ngờ, khi nói về khát vọng tương lai, niềm tin vào hạnh phúc, vào cuộc sống, người ta dễ dàng nghĩ đến tuổi trẻ là những người đàn ông có vợ, nhưng Kim uni lại phát hiện ra một vẻ đẹp vô cùng độc đáo: những cảm xúc và khát khao trong cuộc sống được miêu tả rất tỉ mỉ trong nhân vật của bà già.

đối với nhân vật này, kim lan đã thể hiện rõ ràng phong cách miêu tả tâm lý nhân vật. bà lão xuất hiện giữa câu chuyện, nhưng nếu không có nhân vật này thì tác phẩm sẽ không có chiều sâu nhân văn. Bằng việc đưa nhân vật bà lão vào vở kịch, Kim Uni đã cho chúng ta thấy rõ hơn ánh sáng của tình người trong nạn đói. Như mọi khi, các nhà văn muốn nhân vật của mình nổi bật giữa đám đông thường đặt họ vào một tình huống căng thẳng. ở đó, tất nhiên, phải có sự đấu tranh không ngừng không chỉ giữa các nhân vật mà đơn thuần hơn là ở chính nội tâm của mỗi nhân vật. bà già là một ví dụ điển hình. cuộc hôn nhân đã tác động rất lớn đến tâm trí của người mẹ nghèo thương con. anh bất ngờ trước sự xuất hiện của một người phụ nữ trong nhà anh mà bấy lâu nay anh chưa từng nghĩ đến và có lẽ là không bao giờ. ngạc nhiên, ngạc nhiên là bà cụ “cúi đầu im lặng”.

cử chỉ, hành động đó chứa đựng nhiều tâm trạng. nó là một hỗn hợp của nỗi buồn và sự lo lắng và niềm vui và nỗi buồn cứ trộn lẫn và làm cho cô ấy rất lo lắng. sau khi hiểu ra mọi chuyện, bà nhìn con dâu đang “vạch áo tơi tả” mà xót xa. Bà cho rằng “người ta có bước khó thế này thì mới cưới cho con, chứ con mình mới lấy vợ”. và thật là xúc động, bà cụ nói chỉ một câu thôi nhưng sâu sắc và ý nghĩa “thôi thì có duyên với nhau, cũng có phúc”.

phân tích các tác phẩm do vợ sưu tầm – mẫu 5

Kim Lân được mệnh danh là nhà văn của người nông dân, của người Việt Nam bởi trong các tác phẩm của mình, ông luôn hướng đến hình tượng người nông dân. Với lối văn giản dị, mộc mạc mà sâu sắc, thấm đẫm tinh thần nhân văn, tác giả Kim Lân đã gửi đến độc giả một tác phẩm kinh điển thể hiện tình cảm sâu sắc của ông đối với số phận của những người nông dân nghèo khổ trong xã hội cũ.

tác phẩm “nhặt vợ” là một trong những tác phẩm đặc sắc thể hiện văn phong, cũng như góc nhìn cá nhân của tác giả kim uni. vợ tôi sinh ra khi đất nước ta đang trong thời kỳ hai nước vừa bị thực dân Pháp đô hộ, vừa bị phát xít Nhật cai trị, cùng với chế độ phong kiến ​​đang trong thời kỳ suy vi, thối nát, cùng khổ vô ích. . câu chuyện xoay quanh nạn đói kinh điển năm 1945 làm chết hai triệu đồng bào ta. trong một khu dân cư nghèo nơi các gia đình tản cư từ khắp nơi trên thế giới tụ họp về đây, hình thành một khu dân cư mới. ngay tên vở kịch “nhặt vợ” đã gợi cho người đọc nhiều suy ngẫm về nội dung câu chuyện, cho thấy một việc hệ trọng của đời người là hôn nhân nhưng lại được thực hiện một cách rất tình cờ. đường phố và mang nó về nhà.

ở phần đầu của tác phẩm, tác giả kim uni đã vẽ nên hình ảnh nhân vật một người đàn ông được mệnh danh là “đang đi loạng choạng, mỉm cười khi đi, với hàm mở…” chỉ với một vài chi tiết nhỏ. Tác giả Kim Uni khiến người đọc hình dung ra hình ảnh của nhân vật. Nhân vật Tràng là người có ngoại hình thô kệch, xấu xí, góa bụa, mồ côi mẹ, nghèo khó. anh ta không có gì để thu hút phụ nữ. Công việc của Trang là kéo xe bò thuê người chở hàng, một công việc chân tay, buôn bán mồ hôi công sức để kiếm những đồng tiền nhỏ. “Anh ấy bước đi một cách mệt mỏi, chiếc áo sơ mi nâu của anh ấy buông thõng trên một cánh tay. Dường như những lo lắng, vất vả đang đè nặng lên lưng gấu của anh ấy. ”

cái nghèo, cái nghèo bủa vây anh, nhưng trong đầu anh lúc nào cũng hiện lên những suy nghĩ lạ lùng, thỉnh thoảng anh lại ngước lên và mỉm cười với một điều gì đó. anh ấy thực sự là một người đàn ông kỳ lạ. giữa cảnh nghèo đói, cơ cực. một người xấu xí, thô lỗ và tội nghiệp như đám người tưởng phải sống cuộc đời cô đơn mãi vì không có gì thu hút người khác thì làm sao lấy được vợ? nhưng không ngờ cô ấy vẫn có vợ mà tôi lại dễ dàng “lấy” cô ấy như đá.

chỉ bằng những câu nói đùa vu vơ, anh thấy vợ “muốn ăn cơm trắng giò heo thì vào đây đẩy xe bò với anh” vậy mà một cô gái đã ngoan ngoãn đẩy xe cùng anh. và theo anh về nhà làm vợ. Tác giả Kim Uni đã xây dựng một tình huống truyện vô cùng thú vị và đặc sắc làm thay đổi vận mệnh của nhân vật chính. nó làm cho câu có một bước ngoặt mới thú vị và thu hút người đọc. hành động nhặt vợ của một người phụ nữ khiến người ta phải suy nghĩ, bởi lấy chồng là việc rất quan trọng của đời người, bình thường người ta phải làm thật kỹ càng rồi mới nghĩ đến tương lai. cũng thiệt thòi cho người con gái, làm vợ người ta mà không tổ chức lễ cưới, không làm được đôi mâm cỗ để biếu họ hàng, không có giấy đăng ký kết hôn, không có giấy chứng nhận của cả hai. hàng hóa.

Nghèo đói đã đưa những người khốn khổ đến với nhau. họ đến với nhau để tin tưởng lẫn nhau trong những lúc khó khăn, để giảm bớt khó khăn. họ cũng mong rằng khi có nhau, cuộc sống của họ sẽ ít nhiều thay đổi với nhiều niềm vui trong tương lai. hình ảnh người vợ của người vợ như khiến người đọc xúc động: “nàng xách chiếc thúng con, đầu hơi cúi, chiếc nón rách nghiêng nghiêng nửa khuôn mặt. Trông nàng bẽn lẽn, bẽn lẽn”.

khi anh mang nó về nhà, khung cảnh ngoại ô có vẻ thê lương, thê lương và ảm đạm như chính những con người sống trong cái xóm nghèo đó “từng cơn gió từ cánh đồng thổi qua, dừng lại. Hai bên đường lộn ngược, tăm tối, nhà không có ánh lửa, dưới gốc cây đa, dưới gốc lúa, những bóng đói lả lướt như những bóng ma … “, những người hàng xóm tò mò hỏi chuyện người phụ nữ đi rẫy bên cạnh. Họ tò mò vì a nghèo nghèo xấu xí như tràng giang đại hải còn có gái có bồ nhưng có người sống thực tế hơn họ nghĩ rằng trong thời buổi đói khổ không có miếng ăn như ngày nay mà vẫn lấy chồng có thêm cái mồm để. ăn ở nhà giống như gánh nợ vậy.

cứ như vậy, họ đi giữa những lời xì xào và tranh luận, nhưng họ vẫn tiếp tục bước đi cùng nhau và hy vọng vào một ngày mai tốt đẹp hơn. cuộc gặp gỡ giữa mẹ chồng con dâu cũng khiến nhiều người đuổi theo bà già “bà lão ngập ngừng theo con trai vào nhà, giữa sân dừng lại vì thấy một người phụ nữ. bên trong … “

Lúc đầu, bà lão rất lo lắng, nhưng sau đó bà lão cũng nhận ra vấn đề “bà lão cúi đầu im lặng, bà lão hiểu ra. tấm lòng của người mẹ nghèo còn thấu hiểu biết bao cơ hội, vừa xót xa, vừa xót xa cho số phận của đứa con trai. Tiếc thay, người ta lấy chồng xa con trong khi làm ăn tử tế, còn mình thì … “những suy nghĩ đau đớn, chua xót của một người mẹ thương con được tác giả kim lan tái hiện qua những trang viết vô cùng xúc động lay động trái tim người đọc .

Bà lão vui vẻ nhận làm vợ của con trai mình. hình ảnh bữa cơm đầu tiên sau đêm tân hôn xuất hiện khiến nhiều người sởn gai ốc. đó là “nồi cháo cám” với bát muối trắng và hoa chuối xắt vội vàng. một hình ảnh đại diện cho sự nghèo khó, với vẻ ngoài chân thực, mộc mạc. tuy nhiên, trong bữa ăn đó, ba người trong câu chuyện đã ăn rất ngon miệng. Họ cũng bàn tán với nhau về tin đồn Việt Minh phá kho thóc của Nhật và chia cho dân nghèo. Trong bữa ăn đó, ba khốn khổ mơ một ngày được nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng và sống một cuộc đời khác. họ cùng nhau tin tưởng vào tương lai.

tính nhân văn trong tác phẩm của Kim uni cũng rất đặc biệt. đẩy từng nhân vật đến tận cùng của đau khổ, để rồi mở ra con đường tương lai cho họ. hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở cuối tác phẩm, mở ra một tương lai tươi sáng, giải phóng cuộc sống của những con người dưới đáy xã hội. giá trị nhân đạo của tác phẩm được thể hiện rõ nét hơn ở chi tiết này.

những dòng cuối cùng đã kết nối tinh thần nhân đạo sâu sắc của nhà văn kim lan. ông trân trọng và yêu thương từng cá nhân, từng số phận. đồng thời, chúng ta cũng thấy được nghệ thuật dựng hình và xử lý tình huống bậc thầy của nhà văn này.

phân tích các tác phẩm do vợ sưu tầm – mẫu 6

Kim Lan là một nhà văn đến từ miền quê Việt Nam với lối viết chân thực, mộc mạc và hình ảnh những nhân vật làng quê tiêu biểu. Văn của Kim Lân đi sâu vào lòng người đọc bởi sự giản dị, đời thường nhưng chan chứa tình cảm. tác phẩm “nhặt vợ” là một “kiệt tác” của nền văn học hiện thực Việt Nam, tái hiện thành công xã hội nghèo khổ, cơ cực, tù túng của người nông dân. Kim Lân đã xây dựng thành công tuyến nhân vật đại diện cho cuộc sống nghèo khó thời kỳ đó.

Truyện “nhặt vợ” của Kim lan ra đời trong thời kỳ đất nước lâm vào nạn đói năm 1945, đời sống người dân nghèo nàn, kẻ sống người chết lang thang, “kẻ chết như rạ, trời chẳng sáng”. Mỗi sáng người dân thị trấn đi chợ, đi làm đồng không thấy ba bốn xác người nằm la liệt bên vệ đường. không khí chỉ còn lại mùi hôi thối của bụi bẩn và mùi hôi thối của xác người ”. khung cảnh xóm ngụ cư ấy đã diễn tả được cái đói kinh hoàng và cuộc sống khốn khó của người dân. Ngay từ tên tác phẩm, Kim Uni đã dẫn dắt người đọc khám phá những mảnh đời cơ cực, tội nghiệp nhất. là “vợ tiếp khách”, chính tình tiết và tình huống của câu chuyện đã gắn kết những nút thắt tạo nên cuộc đời của mỗi nhân vật.

ở đầu câu chuyện, tác giả phác họa hình ảnh nhân vật ông lão “lảo đảo, cười khi đi, hàm há hốc mồm…” Chỉ với vài chi tiết đó, người đọc cũng có thể hình dung được. bộ mặt xấu xí của một người nông dân nghèo rách rưới. kể từ ngày có nạn đói, lũ trẻ không thèm trêu chọc nữa, vì chúng không còn sức lực. cảnh tượng tang thương, náo động bao trùm cả xóm nghèo. trong khung cảnh hoàng hôn, suy nghĩ của anh được tái hiện “anh bước đi mệt mỏi, với chiếc áo nâu trên cánh tay.

Với một số chi tiết tiêu biểu, Kim Uni đã giới thiệu cho người đọc hình ảnh một người nông dân nghèo khổ, rách rưới, khốn khó. Tác giả đã khéo léo khi xây dựng tình huống truyện độc đáo, mới lạ làm thay đổi cuộc đời của một con người. tình huống “nhặt” vợ. nó được “nhặt” nhưng không được lấy. độc giả nhận thức được bi kịch, bước đi cuối cùng và sự khéo léo của con người trong xã hội ngày nay.

hình ảnh người vợ tảo tần dần hiện ra dưới ngòi bút miêu tả đầy ám ảnh của nhà văn: “nàng xách chiếc giỏ con, đầu hơi cúi, chiếc nón rách nghiêng nửa khuôn mặt. Trông nàng bẽn lẽn, thẹn thùng.” Thật tội nghiệp. , người đàn bà vô giá trị bên cạnh một người đàn ông nghèo khổ, tuyệt vọng là một lẽ tự nhiên. Giữa lúc đưa vợ “nhặt” về nhà, Kim Lân đã dựng nên một khung cảnh thê lương, ảm đạm của xóm nghèo “từng cơn gió từ đồng thổi về, dừng nó lại. “

hai bên đường lộn ngược, tối om, không nhà nào có ánh sáng, lửa cháy. dưới gốc cây đa, cây gạo lông lá có những bóng người đói lả lướt như những bóng ma. tiếng quạ hót trên cây gạo ngoài chợ cứ gọi mãi không thôi. không có gì thê thảm và cô đơn hơn cảnh tranh tối tranh sáng ở một xóm nghèo như thế. mọi thứ dường như bị chết chìm bởi cái đói và cái nghèo. Với cách miêu tả sinh động, Kim Uni đã gieo vào lòng người đọc bao nỗi xót xa, cay đắng đối với những người nghèo khổ, người già cả.

điều đáng chú ý là cách những người hàng xóm hỏi về người phụ nữ đang đi bên cạnh cây đàn tràng. thật ra với họ cũng lạ nên người ta hỏi thì họ cũng hiểu, có lẽ đó là vợ, “nhìn cô ấy mắc cỡ hay sao”. người đàn bà bắt được nàng không còn cay nghiệt, dữ tợn mà trở nên rụt rè khi quyết định xuôi theo dòng chảy về làm vợ. kết hôn bất ngờ, giữa lúc đói kém. có lẽ cái nghèo đã đưa hai người đến với nhau, không phải tình yêu mà là lòng trắc ẩn. chắc chắn độc giả sẽ thông cảm và xót xa cho những mảnh đời cơ nhỡ trong xóm.

Về quê hương, hình ảnh bà lão và người mẹ được Kim Lân khắc họa một cách tài tình và sâu sắc. người đọc sẽ hiểu hơn về tấm lòng của một người mẹ bao dung, nhân hậu. chi tiết “bà lão ngập ngừng theo con trai vào nhà, đến giữa hiên bà dừng lại vì có một người phụ nữ bên trong…” nỗi lo lắng của bà lão bắt đầu xuất hiện. nhưng rồi bà cũng nhận ra, bà cũng hiểu “bà lão cúi đầu lặng lẽ, bà lão hiểu. tấm lòng của người mẹ nghèo cũng hiểu biết bao cơ hội, vừa tiếc nuối, vừa xót xa cho số phận của đứa con trai, người ơi. Cưới con khi làm ăn, còn mình thì… ”Những tâm tư cay đắng của bà lão được Kim uni thể hiện qua một loạt động từ khiến nỗi khổ và cái đói trở lại, tan vỡ và hiển hiện như chưa từng có.

đã nhận lời “thu hoạch vợ” của con trai mình. tình huống khiến người đọc nhớ mãi, hình ảnh khiến người đọc khi nhắc đến tác phẩm này không quên hình ảnh “nồi cám” trong tiệc cưới đầu tiên. hình ảnh “nồi cháo cám” là hiện thân của cái nghèo cùng cực trong một gia đình “không còn giá trị”. Bà cụ hôm nay thay đổi tâm tính, luôn nói những chuyện vui trong nhà, vì muốn mang lại không khí vui vẻ hơn giữa cảnh nghèo khó. hình ảnh “nồi cháo cám” hiện lên vu vơ, đầy cay đắng và nước mắt của người mẹ nghèo. Ngày rước dâu ai cũng muốn có bữa ăn rước dâu với mâm cao cỗ đầy, nhưng nhà nghèo thì “nồi cháo cám” thì chỉ có điều đầy tình thương mới có thể mang lại cho nàng. trẻ em.

phân tích bài Vợ nhặt – mẫu 7

cùng với ngo tat to, vu trong phung, nam cao, nguyen cong hoan, … kim lan cũng là một trong những tên tuổi nổi tiếng của dòng văn học hiện thực Việt Nam viết về đề tài người nông dân trước cách mạng tháng Tám, với một ngòi bút sâu sắc và hiểu biết. tuy nhiên, nó khác với ngòi bút phê phán và tiếng cười chua chát của vu trong phung hay nguyễn công hoan, khác với những cụm từ lạnh lùng và đau đớn của nam cao. Tác phẩm của Kim uni không tập trung phản ánh hiện thực xã hội đương thời hay những đau khổ của thân phận, mà tác giả dựa vào đó để làm nổi bật giá trị nhân văn, vẻ đẹp tâm hồn nhân vật, bộc lộ sức mạnh và ý nghĩa của những tình cảm cao quý như tình bạn, tình yêu, thứ làm thay đổi con người và cuộc sống của họ ngay cả trong những hoàn cảnh khốn khó nhất. Cuộc đời cầm bút của Kim Lân ngắn ngủi, ông không để lại nhiều tác phẩm, trong đó nổi tiếng nhất là Vợ nhặt, một tác phẩm tiêu biểu, tiêu biểu cho khuynh hướng sáng tác của tác giả.

truyện ngắn Vợ nhặt diễn ra trong một bối cảnh khá đặc biệt: nạn đói cuối năm 1944, đầu năm 1945, trong mấy tháng khiến hơn hai triệu đồng từ miền Bắc vào Quảng Trị chết đói, nỗi ám ảnh kinh hoàng được cụ Cao viết lên trong đôi mắt mà “có lẽ đến năm 2000, con cháu chúng tôi vẫn kể cho nhau nghe mà rùng mình”. Trong tác phẩm của Kim Lân, người ta không dùng những lời lẽ cay độc, gay gắt, thô tục hay những sự kiện gay cấn để diễn tả viễn cảnh thảm khốc của nạn đói. tuy nhiên, ông vẫn miêu tả cuộc sống thê thảm và thê thảm của một làng quê trong giai đoạn đau thương nhất của lịch sử dân tộc, bằng những câu văn nhẹ nhàng nhưng rất xúc động. đó là cảnh con người tan hoang, bị xua đuổi, chở đi khắp nơi, dáng vẻ lầm lũi, điêu tàn, con người “xám xanh như bóng ma”, “lác đác khắp lều chợ”, không gian bao trùm tang thương với cảnh vật. của “người chết như lá chết”, “không khí vẫn còn mùi rác rưởi và mùi xác người”. ớn lạnh, ám ảnh với cảnh “người đói đi lại ngơ ngác như bóng ma”, cùng với “quạ trên cây gạo ngoài chợ kêu từng hồi kinh khủng” như tiếng gọi của tử thần, người đi từng bước chậm rãi về phía nghĩa địa, tuyệt vọng và bất lực, những người đó dường như đã biết trước cái chết của mình, thậm chí “khó tin là mình có thể sống được”. đó là khung cảnh bi thương và náo động, được Kim uni tái hiện lại thành từng đoạn xen kẽ, anh ấy không tập trung làm nổi bật mà chỉ chia nhỏ ra thành một vài câu khiến người ta có cảm giác cái chết ở khắp mọi nơi và từng chút một. đã trở thành lẽ thường. trong giai đoạn này. Không ai xa lạ với cảnh người ta chết đói, thỉnh thoảng có người ngã xuống, lúc đầu người ta còn sức đem chôn, lâu sau mới cuốn chiếu bỏ lại đó, cuối cùng thì mình cũng không. t thậm chí có chiếu để cuộn lại, kinh khủng và kinh khủng. Có thể thấy, nhà văn Kim uni không hề trốn tránh hiện thực, mà quan trọng hơn, giá trị của tác phẩm không nằm ở chỗ phơi bày giá trị hiện thực mà ở chỗ, từ trong bóng tối của hiện thực, tác giả đã phát hiện ra ánh sáng của sự sống, ánh sáng của hy vọng, ánh sáng của tình người, của trái tim mà con người đã tỏa ra trong nạn đói ấy. những người bám víu vào sự sống mong manh đang cố gắng sinh tồn, mặc dù họ cũng như những cư dân khác, “khó tin là mình có thể sống sót” là bà cụ.

nhân vật là nhân vật tiêu biểu đại diện cho người dân trong nạn đói năm 44-45, lai lịch của anh ta có thể tóm gọn trong ba chữ “cư dân”, ba chữ này đã nói lên rất nhiều điều. Trang là một người đàn ông có số phận phải tha hương cầu thực, không thể sống ở quê hương nên phải tìm nơi khác kiếm sống, điều này mang lại nhiều đau khổ, bị kỳ thị và phân biệt đối xử với người bản xứ, kết quả là anh ta. không được chia ruộng đất của mình (vốn là tài sản lớn nhất của người nông dân lúc bấy giờ), vô cùng nghèo khổ. Không những vậy, các cư dân cũng không được sinh hoạt trong không gian làng quê mà phải sống biệt lập ở ven làng, ven đê, đồng thời không được tham gia bất cứ sinh hoạt cộng đồng nào của làng. . có thể nói là vô cùng đáng thương, đáng thương. Gia đình Trang nghèo, góa bụa, mồ côi cả đời sống nương tựa vào nhau, đi làm xe bò thuê, công việc không ổn định. Thêm vào đó, Tràng có một ngoại hình xấu xí, với những đường nét thô kệch mà tác giả so sánh là sự đục đẽo chưa hoàn thiện của tạo hóa “hai con mắt gà nhỏ đắm chìm trong bóng chiều, hai bên quai hàm to ra, thân hình to và vênh váo ”cộng với thói quen“ đi lại lảm nhảm những gì mình nghĩ ”nên khi cười, anh thường nhìn lên trời và cười.

Chính vì vẻ ngoài kỳ lạ đó chỉ thu hút đám con trai trong xóm mà không thu hút được sự chú ý của bất kỳ cô gái trẻ nào, dẫn đến việc không lấy được vợ. sau xuất thân và ngoại hình để bộc lộ tính cách nhân vật, chú kỳ lân vàng đã đặt anh vào một sự kiện lịch sử, cũng chính là tình huống của truyện: truyện “nhặt” vợ. đó là lúc anh ấy đang đẩy xe bò, để đỡ mệt, anh ấy hát vài câu cho vui, không có ý làm phiền ai “mấy tiếng nữa anh muốn ăn cơm trắng, lại đây đẩy xe bò với anh”. ai ngờ sau câu nói đó, thị lại cùng hoàng thúc đẩy xe rồi nở nụ cười với hắn khiến hắn vô cùng sung sướng, nhưng tất cả chỉ dừng lại ở đó. Ở lần gặp gỡ thứ hai, Tràng và Thị vẫn chưa có gì gọi là tình yêu mà chỉ là sự sẻ chia, cảm thông giữa những người cùng cảnh ngộ, những lúc càm ràm, ngại chuyện cơm áo gạo tiền, cô đều sẵn sàng giúp đỡ. đến 4 bát bánh và không ngần ngại ăn trong một lần ngồi không nói tiếng nào. rồi cũng mấy câu chuyện và thêm một câu chuyện tiếu lâm “nếu theo anh về quê thì lên xe hoa về nhà” nối tiếp chuỗi ngày ấy, trở thành vợ của chợ thật rồi, không cần đâu. đối với tài xế hay yêu cầu lễ nghĩa, chỉ với 4 bát bánh và một câu nói đùa, hai người đó đã trở thành vợ chồng. đó là một tình huống hết sức bất ngờ, bất ngờ đối với cả người đọc và nhân vật, anh ta lấy vợ một cách hết sức kỳ lạ và thị trở thành một người vợ “thu lượm”. kể từ sau sự kiện “nhặt được” vợ, nhân vật này có nhiều tâm trạng thất thường khác nhau. Tối hôm trước, trước khi đưa vợ về nhà, Tràng vốn là người thô bạo, vụng về nhưng lại trở nên tế nhị, biết cách chăm sóc người khác.

thương người vợ xộc xệch, rách rưới, về nhà chồng chẳng có gì ngoài bộ đồ như tổ đỉa và cái nón rách, anh chở cô ra chợ tỉnh mua một cái thúng đựng ít đồ lặt vặt để biếu. để giúp cô ấy cảm thấy có lỗi với bản thân trong khi đưa cô ấy đi ăn uống đầy đủ thay vì tổ chức lễ cưới. Không những thế, Tràng còn mua thêm hai lạng dầu (một công việc bị coi là lãng phí trong thời đói kém) để thắp trong nhà và đón nàng về làm dâu mới. đó là một hình thức rất cảm động và tinh tế của một người chồng chu đáo và tốt bụng. Trên đường về, anh rất vui, phấn khởi, niềm vui tràn đầy trên khuôn mặt “gương mặt anh có gì đó vui vẻ lạ thường. Anh cười một mình, mắt long lanh”. Kim uni cũng đã dùng một cụm từ rất xúc động để miêu tả tâm trạng của cô lúc này “nhất thời như quên hết những cảnh tăm tối của cuộc sống thường nhật, quên đi cái đói khát đang đe dọa, quên đi những tháng ngày mưu sinh phía trước”. . . có thể thấy trong lòng nơi này lúc này niềm vui, hạnh phúc đã xóa tan mọi khó khăn, đau khổ đang diễn ra và chực chờ phía trước, kể cả cái chết. Về đến nhà, đứng trong không gian chật hẹp hơn, họ chợt thấy xấu hổ, rồi lo sợ, bởi hiểu biết giữa phố thị và quảng trường không đủ để hai người coi nhau như người thân, chẳng kém gì một cặp vợ chồng, họ không có. tình yêu, mối liên kết duy nhất giữa họ là sự cảm thông, lòng trắc ẩn và cô ấy cần thức ăn. Cuối cùng, khi anh giới thiệu mẹ với bạn gái mới, đợi sự đồng ý của cô, anh chuyển sang trạng thái sốt ruột, sốt ruột đi tới đi lui, đợi mẹ từ sân trở về rồi mới đón cô. . khi nói, dấu hai chấm còn thể hiện rõ sự chững chạc, nghiêm túc, tình cảm kính trọng đối với cụ già, cũng như trân trọng niềm vui bất ngờ này.

sau đêm tân hôn, sáng hôm sau tỉnh dậy trong lòng biết bao đổi thay, hạnh phúc bừng tỉnh trong ý thức, trách nhiệm của người đàn ông trong gia đình. anh ta thức dậy muộn, cảm thấy sự hiện diện của sự mềm mại trong cơ thể, lơ lửng như thoát ra khỏi một giấc mơ, cảm thấy ngạc nhiên vì hạnh phúc mà anh ta đang nắm giữ, nhận thấy môi trường xung quanh mới mẻ và khác lạ. nhà cửa lau chùi (đống quần áo rách như tổ đỉa thường vắt vào góc, giờ đem ra sân phơi, hai vũng nước dưới gốc cây ổi khô bình thường giờ đã đầy nước, chất thành đống. từ mùn rác được quét dọn sạch sẽ, …), thứ hai, không khí trong nhà bỗng trở nên ấm áp, vui vẻ lạ thường. anh thức dậy trong một cơn lốc cảm xúc “khung cảnh thật đơn giản, nhưng thật xúc động đối với anh. bỗng thấy yêu và gắn bó lạ lùng với tổ ấm của mình ”, để rồi“ niềm vui vỡ òa trong lòng ”. Từ những tình cảm ấy anh nhận ra trách nhiệm của mình với cuộc đời, với gia đình,“ giờ đây anh mới thấy anh là một con người. . Anh thấy mình có bổn phận phải lo cho vợ con sau này “và biến nó thành hành động” chạy lòng vòng giữa sân. Anh cũng muốn làm gì đó để giúp sửa nhà “, anh muốn chung tay đón nhận một tương lai tốt đẹp hơn khi có vợ, sự thay đổi trong nhận thức đã dẫn đến kết quả là niềm khao khát, khát khao đổi đời được nhen nhóm trong tâm hồn anh khi anh bắt đầu quan tâm đến các công việc xã hội (truyện thái nguyên, bac giang) .japan barns.) anh nghĩ lại lần gặp viet minh mà anh đã tránh mặt, anh chợt thấy hối hận và bối rối, điều đó chứng tỏ nếu được quay lại thời điểm đó, có lẽ Trang sẽ không chần chừ. tham gia các nhà kho và trong tương lai, nếu chúng ta gặp lại cảnh đó, ai zás truong cũng tham gia. vở kịch khép lại với hình ảnh “người chết đói vẫy cờ đỏ” cứ lởn vởn trong tâm trí, mở ra hy vọng mới, niềm tin và giải pháp mới cho cả khán giả và người dân trong nạn đói năm 44-45.

Nhân vật nhặt vợ cũng là một nhân vật quan trọng trong vở kịch. Đây là một người có lý lịch không rõ ràng, không tên, không tuổi, không quê quán, không họ hàng thân thích, thân phận là một con số bất toàn, phản ánh số phận con người rẻ như rạ trước nạn đói năm 1944-1945. Đây không phải là một người phụ nữ có vẻ ngoài hấp dẫn, kim uni đã sử dụng những nét vẽ rất thảm hại để tái tạo lại vẻ ngoài tàn tạ của cô ấy như “quần áo rách như tổ đỉa”, “gầy”, “chỉ có thể nhìn thấy hai mắt trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt”, sau đó ” một bộ ngực nhô cao gầy guộc ”và“ hai mắt sâu thăm thẳm ”. Anh ta không có ngoại hình hấp dẫn, nhưng cách nói chuyện của anh ta cũng không thú vị cho lắm, ngôn ngữ chua ngoa, đanh đá, cẩu thả, lầm lì chỉ một miếng ăn. những cử chỉ, hành động vô ơn, táo tợn đến mức trơ tráo. nhưng đó có phải là bản chất của thị trường hay không? câu trả lời là không, vì thực tế, khi làm vợ lại, cô ấy đã bộc lộ nhiều vẻ đẹp đáng quý. trước hết là vẻ đẹp của khát vọng sống mãnh liệt, được phân tích qua mọi cử chỉ, ngôn ngữ và hành động của anh ta, mọi thứ đều có vẻ phiến diện và ghê tởm. nhưng nếu xoay chuyển góc nhìn của mình một chút về hiện tại nhân văn, rõ ràng cô ấy có những hành động và ngôn ngữ như vậy đều là vì khát vọng được sống, có của ăn của để cứu đói, không muốn chết, đồng thời. bày tỏ mong muốn Nếu cô ấy hạnh phúc, cô ấy cũng muốn có một người chồng mà cô ấy có thể tin tưởng trong những lúc khó khăn và đói khát. người đẹp thứ hai của làng là vẻ đẹp nữ tính được bộc lộ sau khi về làm vợ. trên đường về nhà chồng, cô trở nên e thẹn, e thẹn như bao cô dâu mới trong ngày cưới, cô trượt chân, xấu hổ, lấy nón che mặt vì ngại ngùng trước ánh mắt soi mói của dân làng. Khi bước về nhà chồng, nhìn thấy lán nhà của Trang thị, nàng không giấu được vẻ thất vọng thở dài, nhưng khác với tính cách bốc đồng khiến hắn chú ý ở chợ tỉnh, nàng vẫn im lặng và kiên quyết. cùng chồng vun vén gia đình, không nề hà, thể hiện vẻ đẹp của đức tính chịu thương, chịu khó vốn có của người phụ nữ Việt Nam. Khi gặp và tiếp xúc với mẹ chồng, cô trở nên lễ phép, hỏi han đúng mực và cẩn thận nghe lời khuyên của bà cụ. Sau đêm tân hôn, nàng trở thành một người phụ nữ khéo léo, dậy sớm phơi quần áo, gánh hai thùng nước, quét vườn, trang trí nhà cửa, … quyết tâm làm một người vợ tốt, cùng nhau xây dựng gia đình. trong cách ứng xử của bà cũng trở nên thật tế nhị và thông minh, khi bà cụ bưng nồi “phomai” ra vui mừng, bản thân bà cũng đang mong chờ món chè thơm ngon, nhưng khi ăn một miếng thì “mắt mũi tối sầm”. . – Bà thất vọng nhưng cố giấu sự thất vọng, bà bình tĩnh ăn tiếp, không nhìn ai hay nói câu nào để bà cụ khỏi tủi thân và làm mất không khí vui vẻ của gia đình. Một nét đẹp khác của làng quê là niềm tin vào một tương lai tươi sáng, làng quê đã mang đến cho cả gia đình những thông tin mới, mở ra lối thoát cho bà cụ, và đó cũng là lối thoát chung của người dân ta năm dậu. .

Nhân vật thứ ba trong vở kịch đó là nhân vật bà lão. Đây là một người phụ nữ nghèo khổ, vất vả cả đời, mong ước lớn nhất của cuộc đời là lấy chồng cho con nhưng chưa có được. Tuy nhiên, giữa lúc sản xuất lúa kém, giữa cái đói và cái chết, người con trai lại “lấy” một người vợ khiến bà vừa mừng vừa lo. Trước cảnh lấy chồng, đêm hôm trước, người vợ cả rất bất ngờ và bối rối, trước lời chào của anh, bà cụ chỉ biết im lặng vì không tin được là con trai mình đã có vợ. . sau sự ngạc nhiên đó là những cảm xúc lẫn lộn sau khi hiểu rõ nguồn gốc lý do, khi nghe lời giải thích “anh cúi đầu im lặng”. Bà thấy buồn, thấy thương cho vợ chồng con trai mình, vì khi người ta lấy vợ sinh con là lúc thành lập gia đình, có tiền, làm mấy mâm cơm cúng phố, làng xóm chứ không có nhà. ngay giữa đói kém, sống và chết. Mẹ không chỉ buồn mà còn lo lắng cho tương lai của mình và gia đình, không biết có nuôi được nhau qua cơn đói này hay không. cuối cùng bà lão mừng rỡ vì thấy may mắn gặp đường đói nên dẫn ông về tràng, nếu không ông tràng phải khổ cả đời. sau tất cả những cảm xúc lẫn lộn, cuối cùng bà cụ cũng lấy lại tinh thần, thể hiện tình yêu thương con cái, tấm lòng nhân hậu của mình qua cách cư xử với con dâu. đó là câu nói “thôi thì các người đã có duyên với nhau, em cũng rất vui” chính thức nhận cô làm dâu trong gia đình. Đồng thời, ông cũng đưa ra những lời khuyên, động viên để hướng các con hướng tới tương lai tươi sáng, giấu mọi buồn phiền lo lắng trong lòng để truyền niềm tin và nhiệt huyết. sau đêm tân hôn của các con, cô thay đổi không còn lo lắng, buồn phiền mà tràn đầy hy vọng, “mặt mày ủ rũ sáng lên”, tự tay xăm trổ, dọn dẹp nhà cửa. trong bữa cơm đón dâu mới, cô ấy nói nhiều nhất là nói đủ chuyện vui, nghĩ chuyện làm ăn, chăn gà nuôi gà,… rồi cố gắng kéo dài niềm vui của lũ trẻ bằng cách vội vàng bỏ chạy. một nồi cháo cám gọi là “pho mai”, cố xua đi bóng tối của cái đói và cái chết. nhưng chúng càng rõ ràng hơn, khi vị đắng của cháo cám lan tỏa khắp nơi, làm nghẹt cổ họng của cả ba người.

Chuyện người vợ của kim lan sưu tầm là một truyện ngắn hay và đặc sắc, từ việc phản ánh hiện thực xã hội qua nạn đói khủng khiếp năm 1944-1945, tác giả đã bộc lộ những tư tưởng và giá trị nhân văn sâu sắc. ca ngợi, bênh vực cái đẹp, khát vọng sinh tồn của con người và niềm tin, hi vọng vào cuộc sống tốt đẹp hơn. đồng thời cũng thể hiện sự trân trọng, quý mến những tình cảm giữa người với người như tình bạn, tình yêu, tình làng nghĩa xóm, … không bao giờ bị dập tắt bởi sự khắc nghiệt của cuộc sống, là nguồn tiếp thêm sức mạnh cho con người tiếp tục phía trước.

phân tích bài nhặt vợ – mẫu 8

“Vợ nhặt” là một tác phẩm xuất sắc của nhà văn kim lan, viết về cuộc sống nghèo khổ, vất vả và khát vọng hạnh phúc, tương lai tươi sáng của người nông dân Việt Nam trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Qua đây tác giả cũng thể hiện mình đồng cảm với những số phận bất hạnh của những con người đói khổ trong thời chiến và yêu thương, trân trọng những ước muốn giản dị của họ, từ đó nảy sinh sự cảm thông, thấu hiểu. suy nghĩ trong lòng người đọc.

ngay từ nhan đề “anh nhặt được vợ”, tác phẩm đã khơi dậy trí tò mò và từ đó dẫn dắt người đọc khám phá cuộc sống của những con người đói khổ, thiếu thốn nhất. chuyện lấy vợ là chuyện hệ trọng của đời người nên cân nhắc kỹ lưỡng chứ ở đây nói đến chuyện “nhặt vợ”. cưới vợ có thể gọi là kén vợ? một người được “nhặt” và sau này trở thành vợ nhắc người ta nhặt một món đồ, như thể một thứ gì đó vô tình và ngẫu nhiên nhặt được ngoài đường. chỉ tên tác phẩm, tác giả cũng đã để lại trong lòng người đọc một nỗi ám ảnh. điều gì khiến người ta rẻ như vậy? kim uni đang mượn chuyện nhặt vợ để nói sang chủ đề khác. đây là cái đói và cái khổ của nông dân trước cách mạng. khi đó, chính cái nghèo đã khiến con người ta rơi vào hoàn cảnh đáng thương như vậy.

Tiêu đề cũng đã hé lộ phần nào tình huống đặc sắc của truyện. “nhặt vợ” không phải là một đám cưới phổ biến. hẳn là người như đồ bỏ đi ngoài đường bị ai đó vô tình “nhặt” lên. nhưng đó là sự thật thưa ông. cu Trang chỉ bằng vài câu “vớ vẩn” mà một người phụ nữ đã theo về làm vợ anh. chết tiệt nó có thịt viên, có gì hấp dẫn – xấu xí và điên rồ, và một cư dân nghèo và náo nhiệt. tuy nhiên, cô ấy đã có vợ. lấy chồng, thà tìm vợ giữa cảnh nghèo khổ khốn khó này. tình huống truyện đầy bất ngờ và cười ra nước mắt. Thông qua tình huống này, các nhân vật đều bộc lộ tâm trạng và tính cách nổi bật, giúp người đọc hiểu rõ hơn về nhân vật, hoàn cảnh và số phận của con người.

Nhà văn Kim Lân đã rất tháo vát khi đi sâu phân tích và phân tích tâm lý phức tạp, đan xen của từng nhân vật trong tình huống “nhặt được” vợ. bà con lối xóm “xì xào bàn tán”, có người “cười đến rùng mình”, có người bênh anh: “ôi! đất này cũng rút của nợ đời. Không biết họ có nuôi nhau nổi qua thời này không?”. .

Mẹ của bà lão là người hiểu rõ nhất hoàn cảnh của gia đình bà, vì vậy càng khó tin rằng bà đã có vợ. nhìn thấy một người phụ nữ lạ đang đứng ở đầu giường của con trai mình, bà lão thắc mắc: “Tại sao lại có một người phụ nữ ở đó? Tại sao anh ta lại chào hỏi bạn? Đó là ai vậy?” Sự ngạc nhiên và nghi ngờ của bà lão cũng là điều dễ hiểu vì nghèo như con trai bà, ai mà nỡ lấy bà làm vợ. Hơn nữa, trong cái đói, cái khát này, tôi còn không tự ăn được thì làm sao lo cho vợ con được?

khi anh hiểu ra vấn đề, “trong đôi mắt của bà cụ đã rơi hai hàng lệ.” trong lòng của người mẹ tội nghiệp, cô hiểu biết bao nhiêu là vấn đề. Bà mừng vì dù sao con trai cũng lấy vợ, nhưng buồn vì “người ta phải trải qua giai đoạn khó khăn nghèo khổ này, mới lấy được con trai. và chỉ các con tôi mới được kết hôn .. ”.

đối với tràng, chính hắn cũng rất kinh ngạc. nhìn vợ ngồi giữa nhà mà “anh còn ngờ không phải vậy”. Lòng mẹ lo lắng bao nhiêu thì anh cả lại không cam tâm bấy nhiêu. Lúc đầu, anh cũng “nghẹn ngào” vì nghĩ, nhưng sau đó lại tặc lưỡi “mặc kệ”. Trên đường đưa vợ về nhà, anh thấy mọi người tò mò nhìn mình, “anh rất hài lòng về bản thân, vẻ mặt tự mãn và tự hào về mình”. có vợ quá đột ngột và hạnh phúc đến nỗi sáng hôm sau anh vẫn cảm thấy “trong người bồng bềnh như người thoát ra trong giấc mơ”.

trái ngược với tâm trạng vui vẻ của tràng giang, sự quan tâm của người mẹ, có lẽ người phụ nữ làm vợ lại cảm thấy buồn hơn. kết hôn là điều gì đó thiêng liêng, trao cả cuộc đời mình cho người đàn ông mình tin tưởng. Vì vậy, ai ở đây biết lĩnh vực này tốt và xấu như thế nào. chỉ cần một tiếng hô vô tư và bốn bát vật chủ là “đủ tin cậy” để theo đến nhà người ta. Cái đói đã đẩy con người ta đến chỗ không biết xấu hổ, mất hết tự trọng, nhận ra mình chẳng khác gì đống rơm, ngọn cỏ mà người ta nhặt được một cách vu vơ nơi đầu đường xó chợ. nhưng sáng hôm sau, khi anh nhìn thấy cô, cô đã trở thành một người vợ tốt, một người bạn gái tốt, khác hẳn với vẻ gay gắt ngày đầu gặp mặt.

Tùy theo tâm lý của từng nhân vật, Kim lan đã cho người đọc thấy một hình ảnh sống động, chân thực về nạn đói năm 1945. ở đó, những con người tuy nghèo khổ, tăm tối nhưng tươi sáng và có phẩm chất tốt đẹp. Quan tâm đến một người phụ nữ nghèo hơn mình cho thấy cô ấy là một người rộng lượng và nhân từ. bà mẹ chồng vừa mừng vừa tủi khi nhận nàng dâu mới, không những thế còn kể thêm câu chuyện với hy vọng về một tương lai tươi sáng để xua tan bóng tối của cái nghèo xung quanh.

“Người vợ được hồi ức” đã thắp sáng sức sống, khát vọng về một mái ấm gia đình và sự hỗ trợ, chở che của những người lao động nghèo trước bối cảnh tăm tối ảm đạm này, thắp lên hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn.

Tranger thấy mình gắn bó với ngôi nhà, cảm thấy mình có “bổn phận chăm sóc vợ con sau này” và hình dung ra một tương lai “cùng vợ sinh con đẻ cái” rồi làm nên chuyện. Bà cụ cũng “nhẹ nhõm, tươi tắn khác hẳn mọi khi, gương mặt u ám, sầu muộn như bừng sáng”. anh còn tính “khi nào có tiền thì mua mấy con gà”. […] nhìn từ bên này sang bên kia mà biết ngay là gà ”. ánh sáng của mái ấm hạnh phúc gia đình giữa đói kém, trong bát cháo cám đắng nhưng vẫn khiến chị thấy hạnh phúc và ngọt ngào hơn. Từ đây, cô sẽ cùng chồng chăm sóc, vun vén cho gia đình, mong một ngày số phận sẽ mỉm cười với cô với tấm lòng bao dung hơn.

…………

tải xuống tệp để xem 2 bài viết phân tích toàn diện hơn về còng tay

Tham khảo: Hoàn cảnh sáng tác bài thơ đồng chí

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Phân tích Vợ nhặt hay nhất (19 mẫu) – Văn 12. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.