Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
292 lượt xem

50 mẫu Phân tích biện pháp tu từ, ẩn dụ trong Truyện Kiều | Văn mẫu lớp 9

Bạn đang quan tâm đến 50 mẫu Phân tích biện pháp tu từ, ẩn dụ trong Truyện Kiều | Văn mẫu lớp 9 phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ 50 mẫu Phân tích biện pháp tu từ, ẩn dụ trong Truyện Kiều | Văn mẫu lớp 9

tổng hợp hơn 50 bài văn mẫu phân tích các biện pháp tu từ, ẩn dụ trong truyện hay được chọn lọc từ những bài văn hay của các em học sinh lớp 9 trên cả nước giúp các em học sinh lớp 9 có thêm tài liệu tham khảo từ đó biết cách viết bài phân tích các phép tu từ, ẩn dụ trong truyện kiều một cách dễ dàng hơn .

nhan đề : Giáo sư đăng thanh viết cho ông: “ nguyễn du có biệt tài sử dụng các phép tu từ của văn học dân tộc, đặc biệt là ẩn dụ i.” phân tích một số câu, một số đoạn trong truyện Kiều để làm sáng tỏ nhận xét trên

Bạn đang xem: Phép ẩn dụ trong truyện kiều

bài giảng: lịch sử của kieu – mrs. nguyễn dung (giáo viên việt nam)

lược đồ phân tích biện pháp tu từ ẩn dụ trong truyện Kiều

1, mở đầu:

– giới thiệu tác phẩm: “Truyện kiều” là tác phẩm truyện thơ du mục được viết theo thể lục bát, là kết tinh của vẻ đẹp văn hóa thơ ca của dân tộc.

– Về việc nguyễn du áp dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ: ước lệ tượng trưng, ​​miêu tả ngụ ngôn là những biện pháp tu từ ẩn dụ được sử dụng để xây dựng nhân vật và cảnh vật trong văn học Trung Quốc. Nguyễn du đã nâng giá trị của biện pháp tu từ ẩn dụ này lên ngưỡng hoàn hảo và toàn diện. bốn đoạn văn đã học chỉ cho chúng ta thấy điều đó.

2, nội dung:

a, biện pháp tu từ ẩn dụ trong đoạn trích Chị em thủy chung

– sử dụng hình ảnh thiên nhiên như một ẩn dụ cho vẻ đẹp của thủy mặc, thủy chung.

+ “xương thép, tuyết tinh”: tính tình bộc trực như cành mai, phong thái ưu nhã như hoa mai, thần thái trong sáng, thánh thiện như tuyết.

+ bốn câu thơ sau miêu tả thủy chung: “khuôn trăng” – khuôn mặt đẹp nhân hậu như trăng rằm; “hoa cười ngọc thốt nốt”: nụ cười tươi như hoa, giọng nói trong như ngọc; “mây rụng tóc, tuyết nhường da”: tóc mềm hơn mây, da trắng hơn tuyết.

+ tả kiều: “nước thu, nét xuân sơn / liễu hờn kém xanh”: dùng hình ảnh nước thu, nét núi xuân để nói về vẻ đẹp hút mắt ở nước ngoài. sắc đẹp đến mức hoa liễu ghen tị.

⇒ sử dụng thiên nhiên như một ẩn dụ để chỉ vẻ đẹp của con người, đặc biệt là phụ nữ, tác giả sử dụng nghệ thuật truyền thống và thể hiện tinh thần cầu tiến và tôn trọng phụ nữ.

b, phép tu từ ẩn dụ trong cảnh mùa xuân

– Hình ảnh ẩn dụ “tổ yến” để nói lên vẻ đẹp và niềm vui của khách đến dự lễ hội.

– Hình ảnh hoán dụ “ngựa”, “áo” để chỉ người đi trẩy hội, cùng với phép so sánh “như nước”, “như nêm” tạo nên một hình ảnh sôi động, náo nhiệt, huyên náo. .

c, phép tu từ ẩn dụ trong đoạn trích Mã giám khảo mua kiều

– ẩn dụ: “thềm hoa cách hoa một bước”, “thôi hoa thẹn thùng thấy mặt dày”, lấy hoa để nói về thủy chung trong ngày bán ra thanh mai trúc mã.

⇒ miêu tả nỗi đau lòng, sự bất đắc dĩ nhưng vẫn thể hiện được vẻ đẹp của đạo.

d, biện pháp tu từ ẩn dụ trong đoạn trích Kiều bên thềm cầu

– “kiều trên lầu cầu” sử dụng biện pháp tả cảnh để nói về tâm trạng của nàng thú:

+ ẩn dụ: “người dưới trăng sao” nói lên mối tình đáng quý, đẹp đẽ nhưng dang dở đầy bất hạnh của hai con người; “người tựa cửa mai”, “vườn mai”, “gốc vong” nói về cha mẹ của thủy chung, thể hiện lòng hiếu thảo của thủy chung. hình ảnh cửa bể, cánh buồm, đỉnh nước, hoa trôi, cỏ trong, mây trên mặt đất, gió và sóng là những ẩn dụ cho thân phận, số phận cô đơn, trôi nổi, bấp bênh của kiều nữ. .

+ hoán dụ: “son phấn” – nói về danh dự, nhân phẩm, sự trong trắng của thủy chung, cũng là nói về chính kiều. trong nỗi nhớ, nỗi đau của tình yêu, thủy chung luôn day dứt về nỗi đau nhân phẩm.

+ cụm từ “buồn trông” được lặp lại 4 lần: diễn tả nỗi sợ hãi, cô đơn và tuyệt vọng của thủy kiều.

Tham khảo: Soạn bài truyện kiều lớp 10 tập 2

3, chấm dứt:

– Các biện pháp ẩn dụ ít nhiều sử dụng từ ngữ để miêu tả ngoại hình và tâm trạng của nhân vật.

– nguyễn du hỗn hợp hùng biện hiệu quả.

phân tích các biện pháp tu từ ẩn dụ trong truyện kiều – văn mẫu 1

“Truyện kiều” của nhà thơ dân tộc Nguyễn Du là một kiệt tác của văn học cổ Việt Nam. Tuy mượn đề tài và cốt truyện từ tác phẩm “Kim-văn-kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) nhưng bài thơ này dài 3254 dòng, mang đậm đà bản sắc dân tộc, chan chứa tình yêu thương bao la. “động đất” (tạm thời).

Về mặt nghệ thuật, bài thơ này là mẫu mực và đỉnh cao của ngôn ngữ thơ và cách xây dựng nhân vật. đọc “truyện kiều”, ta cảm nhận được sâu sắc. “Nguyễn Du có biệt tài sử dụng các phép tu từ trong văn học dân tộc, đặc biệt là phép ẩn dụ mà giáo sư Đặng Thanh Lê đã nhận xét.

Bằng cách tả cảnh, tả người và tình, với cá tính sáng tạo của một thiên tài, Nguyễn Du đã vận dụng nhiều biện pháp tu từ trong văn học dân tộc, đặc biệt là ẩn dụ để câu thơ trở thành một bài thơ đầy hình ảnh và biểu cảm.

>

nguyễn du có biệt tài sử dụng tài hùng biện của văn học dân tộc

Mùa xuân đã đến với niềm vui tại lễ hội thanh niên “đi xe đạp”. ba chị em ở nước ngoài cũng “sắm bộ du xuân”. qua các con phố, dòng người kéo dài vô tận:

Ở phép tu từ hoán dụ (ngựa, áo), so sánh (… như nước … như nêm) và phép đối (2 vế của câu 8 là đối lập), nhà thơ đã tái hiện khung cảnh bữa tiệc. .spring gay xon xao du luan, nguoi ham mo va nhan duoc su quan tam cua nguoi ham mo.

XEM THÊM:  Lão Hạc | Truyện ngắn Nam Cao | Nam Cao | SachHayOnline.com

đây là hai lời thú nhận từ kim:

“tiêu chảy” (ẩn dụ) dùng để chỉ người khiêm tốn, khiêm tốn. khiêm tốn trang nghiêm, nhún vai. “hoa sen” (ẩn dụ) dùng để chỉ người cao quý và được kính trọng. “hoa sen đến …” (nhân cách hoá): lời tỏ tình tế nhị. Người đàn ông hào hoa và si tình thể hiện tình yêu với một người phụ nữ xinh đẹp, thể hiện trái tim khao khát tình yêu. cách thể hiện tình yêu đẹp và đầy cảm hứng.

“úp mặt xuống đất” là bài thơ tả cảnh ngụ ngôn đặc sắc trong “truyện kiều. Tác giả sử dụng khéo léo các biện pháp tu từ như điệp ngữ, ẩn dụ, hoán dụ., .. … để viết nên những vần thơ tuyệt diệu. Từ “buồn trông” được tìm thấy ở đầu câu sáu, được lặp lại liên tiếp bốn lần gợi lên trong lòng người Việt Nam ở nước ngoài một nỗi buồn trĩu nặng, dai dẳng và day dứt. , xa lạ và sương mù với con tàu và cánh buồm, nước ngọt và hoa trôi, cỏ dầu và mây, đất, … gió thổi và tiếng sóng – là những hình ảnh ẩn dụ và hoán dụ để miêu tả cuộc đời của một kẻ lang thang trôi nổi, phiêu bạt trong cuộc đời giông bão vô định, với tâm trạng sợ hãi, cô đơn và tuyệt vọng.:

nguyễn du có tài … đặc biệt là ẩn dụ

ẩn dụ là một ví dụ bí mật. xưa nay nhiều người vẫn đánh giá cao bài thơ tả tài sắc của hai chị em ở nước ngoài. chân dung “hai mỹ nữ” rất đẹp, một vẻ đẹp tươi tắn và xinh đẹp:

Thủy kiều và thủy vân mềm mại như “mai”, thần thái trong trắng như “tuyết”; từ ngoại hình, gương mặt đến tâm hồn, họ đều đẹp “mười phân vẹn mười”. hai hình ảnh ẩn dụ “bộ xương, tuyết linh” là nét vẽ tài hoa, có giá trị thẩm mỹ tinh tế.

bốn câu thơ sau tả vẻ đẹp tuyệt trần. khuôn mặt đầy đặn xinh đẹp như trăng rằm, lông mày thanh tú đẹp như “mày ngài”, miệng cười tươi như “hoa”, giọng nói trong trẻo như “ngọc”, tóc mềm đẹp hơn “mây”, da trắng mịn hơn “tuyết” “. trăng, hoa, ngọc, mây, tuyết, … đại diện cho vẻ đẹp của thiên nhiên trước khuôn mặt, nụ cười, giọng nói, mái tóc, màu da … của một mỹ nhân. mặc dù cách miêu tả đó mang tính chất ước lệ, nhưng ngòi bút của “thần” tố dường như đã viết nên những vần thơ với hình ảnh ẩn dụ hấp dẫn lạ thường:

nếu van là hoa hậu thì kiều là vẻ đẹp tuyệt trần, mặn mà, sắc sảo và hoàn mỹ. Nguyễn Du đã sử dụng phép ẩn dụ – nhân hóa để miêu tả vẻ đẹp mộng mơ của Thúy Kiều. đôi mắt của cô ấy trong như nước mùa thu. lông mày đẹp như núi mùa xuân … vẻ đẹp ấy khiến hoa “ghen”, hoa liễu “ghét”:

những câu thơ, những hình ảnh ẩn dụ ấy – con người là bông hoa nghệ thuật luôn tươi thắm với thời gian tỏa hương trong tâm hồn con người. nó cũng cho thấy sự ưu ái của nhà thơ đối với cái đẹp trên đời.

Nguyễn Du không chỉ tiếp thu thơ văn, kinh điển của văn học Trung Quốc mà còn nghiên cứu ca dao, dân ca, học lời người trồng dâu, trồng cây gai trên đồng ruộng để tạo vần điệu. thơ độc đáo.

“hạt mưa” là hình ảnh so sánh ẩn dụ trong ca dao, dân ca nói về thân phận và số phận của người con gái ngày xưa: “Thân em như hạt mưa rơi, hạt rơi hang, hạt ra đồng. cày ”. .. đối mặt với cảnh gia đình biến đổi, cô ấy suy nghĩ và hành động:

“hạt mưa, tấc cỏ, ba suối” là hình ảnh ẩn dụ mang ý nghĩa tượng trưng, ​​nói ít nhưng gợi nhiều, súc tích, tượng trưng và truyền cảm. Kiều là một thiếu nữ giàu đức hi sinh, hiếu thảo, quyết tâm bán mình chuộc cha ra khỏi chốn lao tù.

nghệ thuật sử kiêu hùng “đa dạng, phong phú, đặc sắc, những câu trích dẫn trên khẳng định nhận xét của Giáo sư dang thanh lê” là đúng.

Tính ước lệ và tính tượng trưng là đặc trưng của thơ ca cổ. khi tả cảnh, tả người và tình … nguyễn du cũng sử dụng bút pháp ước lệ, tượng trưng, ​​nhưng với cá tính sáng tạo của một nghệ sĩ thiên tài, câu thơ kiều mang đầy nhạc tính, hình ảnh ngọc phả “trữ tình”, những món đồ thổ cẩm, rất sống động và tinh tế. đặc biệt là những cụm từ mang hình ảnh ẩn dụ đã in sâu vào tâm trí mỗi chúng ta: “tiếng nói thân thương như lời mẹ ru những ngày…” (đến huỵch)

“Truyện Kiều” đã mang lại niềm vui cho văn học cổ Việt Nam. tên tuổi của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du sống mãi trong lòng nhân dân ta với những tình cảm trân trọng, tự hào.

phân tích các biện pháp tu từ ẩn dụ trong lịch sử xứ kiều – mẫu 2

Nguyễn Du là một nghệ sĩ bậc thầy, ông không chỉ có biệt tài sử dụng thể thơ lục bát dân tộc để sáng tác nên những truyện kiều bất hủ. nhưng để tạo nên thành công trong công việc không thể không kể đến tài năng vận dụng linh hoạt các biện pháp nghệ thuật trong các tác phẩm của mình, đặc biệt là nghệ thuật ẩn dụ. Trong khuôn khổ của một nghiên cứu ngắn gọn, chúng tôi chỉ xem xét nghệ thuật ẩn dụ ở hai khía cạnh: nghệ thuật ẩn dụ trong việc miêu tả người và nghệ thuật ẩn dụ trong việc miêu tả cảnh vật.

Tham khảo: Giáo viên Văn của Galileo bật mý 4 mẹo hay để nhanh chóng học thuộc và nhớ lâu một bài thơ

trước hết, nghệ thuật ẩn dụ để tả người của nguyễn du cũng đã đạt đến trình độ điêu luyện và xuất thần. với rất ít nét phác thảo, nhưng đã làm nổi bật vẻ đẹp của bức chân dung tinh thần của hai siêu phẩm: “xương khác tuyết linh / Mỗi người một vẻ” . và để từ đó lần lượt hiện ra chân dung của hai cô gái:

XEM THÊM:  Truyện Kiều: Có phải là Tuyệt Tác Văn Học Việt Nam ? - Góc trời viễn xứ

và trang trọng hơn nhiều

Mây mất trên tóc, tuyết đọng trên da

tác giả đã vẽ nên một bức chân dung tuyệt đẹp bằng nghệ thuật so sánh ẩn dụ và ngôn ngữ thơ chọn lọc, trau chuốt: khuôn mặt đầy đặn, thân thiện, trong sáng như vầng trăng; lông mày sắc nét như con trai của anh; nụ cười tươi như hoa; giọng nói rõ ràng; tóc đen sáng hơn mây, da trắng mịn hơn. Về phần thuy kiều, đừng đi vào chi tiết mà hãy tập trung vào đôi mắt đầy cảm xúc của anh ấy:

“ngõ mùa thu với bức tranh xuân”

hoa ghen tị đẹp hơn liễu xanh. ”

Đây là nghệ thuật đánh dấu một đặc trưng của văn học trung đại. tác giả không đi vào miêu tả chi tiết đối tượng như thủy văn, chi tiết từng bộ phận trên gương mặt mà chỉ lấy một số điểm ấn tượng, xúc động nhất để làm nổi bật vẻ đẹp của nhân vật. đối với cô ấy, đó là đôi mắt và đôi lông mày của cô ấy. đôi mắt nàng nhưng làn nước trong veo của mùa thu gợi lên đôi mắt long lanh, thông minh nhưng đa cảm, đa cảm, ẩn hiện dưới hàng lông mày như nét kiều. và đôi lông mày thanh tú như dáng núi xuân tươi tắn, tràn đầy sức sống. hệ thống hình ảnh ẩn dụ được sử dụng để gợi tả vẻ đẹp của kiều: “thu kiều”, “xuân sắc”, “hoa”, “liễu”. Nếu thiên nhiên để tả Vân là một thế giới tự nhiên chỉnh thể, hoàn chỉnh, ổn định thì Thúy Kiều lại gắn với thiên nhiên sống động, biến đổi. hơn nữa, trước vẻ đẹp của nàng thủy chung, thiên nhiên phải “hận”, “ghen”, vì thế cũng sắp đặt trước một số phận đầy sóng gió. Như vậy, kết hợp với lối viết giàu sức gợi và nghệ thuật ẩn dụ tài tình, Nguyễn Du đã tạc nên trước mắt ta hai vẻ đẹp kiêu sa, đặc biệt là vẻ đẹp của người phụ nữ đoan trang. Thủy kiều đẹp ngoài tiêu chuẩn của tự nhiên, đó là vẻ đẹp của thiên hạ, chim sa, cá lặn, nhưng đồng thời, sau bức chân dung ấy, nó thể hiện một số phận đầy sóng gió, khổ nạn.

Không chỉ vận dụng thành thạo nghệ thuật ẩn dụ để tả người mà nguyễn du còn rất tài năng và khéo léo trong việc vận dụng ẩn dụ vào tả cảnh thiên nhiên. đó là khung cảnh của lễ hội mùa xuân sôi động, tươi vui, nam thanh nữ tú đổ xô đi trẩy hội:

gần xa, tôi rất vui cho bạn

chị em mua sắm trang phục mùa xuân

nguyễn du mượn hình ảnh đàn chim yến để tả cảnh thanh niên nam nữ, từng đoàn người nô nức đi chơi xuân như cánh én, chim bay hót véo von. và ấn tượng nhất là nghệ thuật ẩn dụ trong tám dòng cuối của đoạn trích Từ kiều bên thềm cầu, ở đây nghệ thuật ẩn dụ đã đạt đến mức tài tình.

“Chiều buồn nhìn cánh cửa tan nát,

Con tàu của ai đang ra khơi?

buồn khi thấy nước mới rơi,

Những bông hoa trôi ở đâu?

buồn bã khi nhìn vào mỏ dầu,

mây trên mặt đất có màu xanh lam.

buồn khi nhìn gió thổi vào mặt.

tiếng sóng vỗ xung quanh ghế ngồi ”

từ “buồn trông” ở đầu mỗi câu tạo giọng điệu buồn, mở ra bốn cảnh, mỗi cảnh là một tâm trạng khác nhau của kiều. nỗi buồn ấy ngày càng da diết, tích tụ đều đặn nhờ nghệ thuật tăng cấp. kết hợp với những ám chỉ chúng là những hình ảnh so sánh ẩn dụ độc đáo, giàu giá trị biểu cảm. Con tàu cô đơn ấy chẳng phải là ẩn dụ cho cuộc đời chìm nổi của người đàn bà xa xứ đó sao? Không chỉ vậy, hình ảnh con thuyền còn tượng trưng cho ước muốn được gặp lại, đoàn tụ cùng gia đình. hình ảnh ẩn dụ “hoa nở” là biểu tượng cho thân phận nông nổi, nhỏ bé, mong manh của người Việt Nam ở nước ngoài. Kiều cũng giống như cánh hoa kia, trôi theo dòng đời, chẳng biết đích đến sẽ là gì, chẳng biết sẽ về đâu. câu hỏi tu từ “biết đi đâu về đâu” như một lời than thở, nhấn mạnh sự vô định khi không có quyền quyết định số phận của đời mình. do đó càng làm tăng thêm nỗi buồn do thân phận nghèo khó, lệ thuộc. và cảnh thiên nhiên càng trở nên dữ dội, màu xanh nhạt nhòa, khô héo, sóng điện ập đến bủa vây cô gái tội nghiệp, tội nghiệp. đoạn độc thoại lặp đi lặp lại của “vẻ buồn” cùng với hình ảnh ẩn dụ độc đáo càng làm sâu sắc thêm nỗi buồn sâu lắng, day dứt, day dứt của thủy chung.

với ngôn ngữ cô đọng, súc tích kết hợp với các biện pháp nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật ẩn dụ, nguyễn du đã làm cho tác phẩm của mình giàu sức sống, mang nhiều ý nghĩa để người đọc hệ thống khám phá. nghệ thuật ẩn dụ trong tác phẩm truyện kiều đã đạt đến trình độ điêu luyện, truyền tải những giá trị tư tưởng nhân văn của nhà thơ như.

xem thêm các bài văn mẫu phân tích và tóm tắt tác phẩm lớp 9:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.