Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
269 lượt xem

Sơ đồ tư duy bài truyện kiều lớp 9

Bạn đang quan tâm đến Sơ đồ tư duy bài truyện kiều lớp 9 phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Sơ đồ tư duy bài truyện kiều lớp 9

hướng dẫn lập sơ đồ tư duy của chị em thuy kiều một cách ngắn gọn và dễ hiểu nhất. kèm theo các bài viết phân tích đoạn trích chị em thuy kiều và bàn về nhân vật thuy kiều hay nhất. chúng ta hãy vào bài viết ngay bây giờ

đọc đoạn trích Chị em Thủy Kiều

1. vị trí đoạn trích

Bạn đang xem: Sơ đồ tư duy bài truyện kiều lớp 9

đoạn trích từ đầu phần 1: cuộc họp và sự tham gia

2. thiết kế

– đoạn 1 (4 câu đầu): giới thiệu đôi nét về hai chị em Thủy kiều

– đoạn 2 (4 câu sau): gợi vẻ đẹp kiêu sa

– đoạn 3 (tiếp 12 câu): tả cảnh đẹp mê hồn

– đoạn 4 (4 câu cuối): nhận xét chung về cuộc đời của hai chị em

3. giá trị nội dung

– bài thơ này miêu tả vẻ đẹp của hai chị em thùy kiều và thùy mị. Bằng ngòi bút tài hoa, Nguyễn Du đã giúp người đọc hình dung ra những chuẩn mực vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội xưa, đây cũng có thể coi là chuẩn mực vẻ đẹp trong văn học trung đại.

– không chỉ miêu tả những hình mẫu, chân dung của thủy kiều, thủy chung trong tác phẩm mà còn thể hiện dụng ý nghệ thuật sâu sắc của tác giả. Dù “mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười” nhưng với mỗi nhân vật, cách miêu tả của Nguyễn Du dường như đã dự báo được số phận khác nhau của hai chị em. điều đó không chỉ thể hiện phong cách miêu tả nhân vật khá sắc sảo của Nguyễn Du mà còn thể hiện quan niệm về “tương tài” của ông.

4. giá trị nghệ thuật

nghệ thuật nổi bật của đoạn trích là nghệ thuật tiêu biểu cho nhân vật lí tưởng bằng những ước lệ tượng trưng: lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm nổi bật vẻ đẹp của con người, không miêu tả chi tiết cụ thể mà miêu tả để gợi, dùng đòn bẩy để làm nổi bật vẻ đẹp của thuy kieu

sơ đồ tinh thần của chị em Thủy Kiều

kiểu máy số 1

Sơ đồ tư duy Chị em Thúy Kiều

kiểu máy số 2

Sơ đồ tư duy Chị em Thúy Kiều ngắn gọn

sau khi học xong sơ đồ tư duy về chị em Thủy Kiều, các em hãy cũng bài giải trên để phân tích đoạn trích Chị em Thủy Kiều để làm rõ những luận điểm của tác giả:

phân tích đoạn trích ngắn gọn về chị em Thủy Kiều

Nguyễn Du là một thiên tài văn học và được coi là nhà thơ văn hóa lớn của Việt Nam. Trong suốt cuộc đời cầm bút của mình, ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị, trong đó tiêu biểu là tác phẩm “Đường tân thanh” mà người Việt gọi là “Truyện kiều”. trong chương trình ngữ văn 9 tập 1 có đoạn trích “Chị em thủy chung” là một trong những đoạn trích đặc sắc thể hiện tài năng nghệ thuật miêu tả và khắc họa chân dung con người của Nguyễn Du, góp phần tạo nên thành công cho tác phẩm.

đoạn trích được tìm thấy ở đầu tác phẩm, giới thiệu về lịch sử gia đình họ Kiều. giới thiệu các thành viên trong gia đình ở nước ngoài, tác giả tập trung miêu tả tài năng của thủy văn và thủy kiều.

Trước hết, bốn câu thơ mở đầu là sự miêu tả khái quát về hai chị em ở nước ngoài – họ đi:

“người đầu tiên trong số hai người phụ nữ này,

thuy kieu là em gái của thuy van

bộ xương tâm linh,

Tham khảo: Lặng lẽ sa pa liên hệ với tác phẩm nào

mỗi người trông mười phần ”

nguyen du đã sử dụng lối viết thông thường và ẩn dụ để giới thiệu khái quát về hai chị em qua nhiều khía cạnh như: xuất thân, vị trí trong gia đình, và nhan sắc (riêng – chung) của hai chị em. em. Họ là hai người con gái đầu lòng của nhà họ Vương, trong đó Thúy Kiều là chị cả, Thúy Vân là út. Hai chị em tuy có những nét đẹp khác nhau nhưng đều có chung một vẻ đẹp thanh tao, quý phái, thuần khiết: dáng vẻ thanh tao như cành mai; thái độ tinh thần trong sáng như tuyết (linh hồn). đó là một vẻ đẹp hoàn mỹ, toàn diện từ trong ra ngoài, từ ngoại hình đến tâm hồn đều “mười phân vẹn mười”. như vậy, chỉ với bốn dòng đầu ngắn gọn, tác giả đã khái quát được những thông tin cần thiết của nhân vật, đồng thời làm nổi bật vẻ đẹp của hai chị em. từ đó dẫn dắt cảm xúc của toàn bài thơ, giúp người đọc thấy được cảm hứng ngợi ca con người trong bài thơ.

Trong bốn câu thơ tiếp theo, nguyễn du tập trung vào những nét chân dung cụ thể và vẻ đẹp của các nhân vật:

“vâng, nó trông rất trang trọng

trăng tròn có đầy đủ các tính năng của nó

hoa cười với một viên ngọc trai trang nghiêm

mây mất nước, tóc và tuyết nhường chỗ cho màu da ”

ngay dòng đầu tiên, nhà thơ đã tóm gọn vẻ đẹp và phong cách của văn bằng hai chữ “trang trọng”. cô là một vẻ đẹp quý phái, quý phái, từ tốn và nghiêm túc. Tiếp tục sử dụng hình thức ước lệ, nhà thơ ví von vẻ đẹp của văn bằng những hình ảnh đẹp nhất của thiên nhiên và vũ trụ như “trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc”. Có thể nói, dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Du, chân dung mỹ nhân của Vân hiện lên một cách lộng lẫy, toàn diện từ khuôn mặt, đôi lông mày, nụ cười đến lời nói, mái tóc, làn da. tất cả chúng hiện lên một cách sống động, cụ thể như một hình ảnh, sắc nét trước mắt người đọc. Đó là chân dung một thiếu nữ có khuôn mặt tròn đầy nhân hậu như ánh trăng đêm rằm; lông mày thanh tú, sắc sảo như mày ngài (mày ngài mắt phượng); miệng cười tươi như hoa nở; giọng nói khi phát âm trong trẻo, ngọc ngà; tóc đen sáng hơn mây; da trắng mềm hơn tuyết. đó là vẻ đẹp bên ngoài của van với vẻ đẹp duyên dáng, hài hòa trong khuôn khổ của lễ giáo phong kiến ​​phải được thiên nhiên, tạo vật chấp nhận: “xuất tuyết”, “mất mây”. từ đó giúp người đọc thấy được tính cách, số phận của nhân vật: tính cách trầm lặng, điềm đạm; cuộc sống: bình yên không sóng gió.

XEM THÊM:  TRUYỆN KIỀU | Nguyễn Du

sau khi xây dựng chân dung và vẻ đẹp của nhân vật thủy chung, nhà thơ tập trung miêu tả vẻ đẹp của kiều so với vẻ đẹp của van:

“Kieu cay và mặn hơn

so với tài năng thì hơn ”

Người đẹp ngoại quốc khác biệt và vượt trội hơn cả về tài năng và nhan sắc. đó là sự “mài giũa” trí tuệ; “mặn” vào tâm hồn.

trước hết là nhan sắc – dáng vẻ của kiều. họ vẫn sử dụng phương pháp ước lệ tượng trưng để lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm thước đo vẻ đẹp của con người qua chùm ảnh: “thu thủy, xuân sơn, hoa, liễu”, nguyễn du đã làm được. . nhưng khi tả kiều, tác giả không miêu tả chi tiết như ở văn mà ngược lại, tác giả tập trung vào một điểm nhìn, đó là đôi mắt “nước suối và núi xuân”: đôi mắt sáng và sâu như vùng biển mùa thu; lông mày duyên dáng như núi mùa xuân. đây là cách vẽ “điểm nhãn” cho nhân vật. vì đôi mắt là cửa sổ tâm hồn của con người. và qua đôi mắt kiều ấy, ta thấy được tâm hồn trong sáng, sâu lắng và cuốn hút đến lạ lùng của nhân vật. vẻ đẹp của kiều là vẻ đẹp vượt ra khỏi chuẩn mực của tự nhiên và khuôn phép của người phụ nữ thời phong kiến, nên: “hoa ghen – liễu hờn”, thậm chí nghiêng mình trước kinh thành và đất nước:

<3

một hoặc hai hướng nước nghiêng về phía sau ”

nghệ thuật nhân hoá (hoa ghen – liễu hờn) kết hợp với nghệ thuật điệp ngữ (thành ngữ: nghiêng nước nghiêng thành) có tác dụng gợi vẻ đẹp kiều diễm; và nó có tác dụng dự đoán vận mệnh và cuộc đời của bạn. vì vẻ đẹp ấy gợi lên xung đột, bất hòa (khác với phù phiếm: hơn thua – nhường nhịn: hòa thuận, hòa thuận) nên cuộc đời của bạn chắc chắn sẽ đầy gian nan, vất vả: “thanh lau hai lần, thanh nhàn hai lần.

sau đây là mỹ nhân tài sắc vẹn toàn. Nếu như trong miêu tả văn, nhà thơ chỉ chú trọng miêu tả cái hay, cái đẹp mà không chú ý đến cái tài, cái đẹp thì ở tả cái nhà thơ chỉ miêu tả một phần cái đẹp, phần còn lại dành nhiều cho cái tài. >

“Độ sắc bén đòi hỏi một tài năng vẽ hai”

đề cập đến một câu thơ mà nhà thơ đã tuyên bố cả vẻ đẹp và tài năng. vâng về nhan sắc thì kiều diễm số một, nhưng về tài năng thì không ai dám đứng thứ hai trước nàng. có thể nói, tài năng của kiều nữ có một không hai trên thế giới. vì họ được trời phú cho trí thông minh, nên người nào cũng tài giỏi ở bất cứ lĩnh vực nghệ thuật nào: cầm – trịch – thi – họa. tất cả đều đã đạt đến trình độ lý tưởng hóa theo quan niệm thẩm mỹ của lễ giáo phong kiến: “trộn nghề thơ với mùi hát”. đặc biệt tài năng của chàng Việt kiều được thể hiện rõ nét trong cây đàn: “cung đàn buôn ngũ âm / Nghề riêng ăn đứt đàn hạc”. anh ghi nhớ các cấp độ và chơi đàn hạc (đàn luýt cổ) một cách dễ dàng. hơn thế nữa, còn hay cho việc sáng tác nhạc: “bài hát nhà tay cầm càng thăng hoa”. mỗi khi đánh đàn, anh hát bài “bạc mệnh” khiến người nghe xót xa, xót xa. tiếng hát là tâm hồn, là tiếng đàn đã đồng hành cùng cuộc đời của người con xa xứ, thể hiện tâm tư buồn, xúc động và cuộc đời đầy trắc trở, bất hạnh.

Tóm lại, chân dung của Kiều là bức chân dung về tính cách và số phận. vẻ đẹp của kiều nữ là một vẻ đẹp khác biệt với người khác nên khiến thiên nhiên phải ghen tị. Kiều tài năng vượt trội hơn người khác nên chắc chắn rằng theo một quy luật chung của số mệnh, “tài đi liền với chữ tai” hay “chữ tài thì có phận ghét nhau”, thế nên người đời. của kiều là kiếp trai tráng. cuộc sống của những người mặt đỏ là bất hạnh, thất thường và tàn nhẫn.

ở đây chúng ta thấy được tài năng độc đáo của nguyễn du trong việc nhập vai nhân vật. Từ vẻ đẹp của bức chân dung, nhà thơ thể hiện những linh cảm về tính cách, cuộc đời và số phận của nhân vật. và mặc dù ở đầu đoạn trích, tác giả giới thiệu thủy kiều là chị, em là thủy, nhưng sau đó, nhà thơ lại miêu tả chân dung nhân vật Vân trước, kiều sau. đó là một dụng ý nghệ thuật của nhà thơ khi tạo ra thiết bị “đòn bẩy”. điều đó có tác dụng nhấn mạnh và làm nổi bật vẻ đẹp độc đáo, nổi bật ở cả nhan sắc, tài năng và tình yêu của nhân vật thuỷ chung. do đó, mặc dù chúng ta sử dụng cùng một quy ước biểu tượng khi mô tả hai nhân vật, chúng ta thấy mức độ khác nhau ở mỗi người. nhà thơ chỉ dùng bốn câu để tả hoa văn, còn lại dành mười hai câu để tả kiều; tác giả khi tả văn chỉ chú trọng tả vẻ đẹp nhưng khi tả kiều thì “nhan sắc phải xin một, tài phải vẽ hai”. tuy nhiên, mỗi nhân vật đều có vẻ rất sống động, cụ thể, chân thực, mang vẻ đẹp, tính cách và số phận khác nhau.

bốn dòng cuối là lời bình của tác giả về cuộc đời của hai chị em Thủy Kiều:

“rất thanh lịch trong chiếc quần màu hồng

mùa xuân xanh sắp đến vào tuần tới

trong im lặng và khi bức màn buông xuống

Xem thêm: Sản đối với các tác phẩm âm nhạc là

bức tường đầy ong và bướm. ”

sau khi dựng chân dung hai chị em ở nước ngoài, van, nguyen du đã nhận xét chung về cuộc đời của hai người. họ sống trong một gia đình giàu có và rất khá giả và nằm trong độ tuổi sắp cho phép họ lập gia đình. thành ngữ “vén màn” chỉ lối sống thấp hèn, đây là lối sống của thiếu nữ xuất thân trong một gia đình giàu có, sống trong bốn bức tường, ít giao tiếp với bên ngoài để học nữ công gia chánh. . Hình ảnh “ong bướm” là hình ảnh ẩn dụ chỉ những người đàn ông tán tỉnh phụ nữ mà không có ý tốt. Và với những người như vậy, chị em ở nước ngoài không quan tâm.

XEM THÊM:  Những Đoạn Thơ Hay Trong Truyện Kiều, Năm Mươi Câu Kiều Hay Nhất

Tóm lại, sử dụng lối viết ước lệ, dùng vẻ đẹp của thiên nhiên để miêu tả vẻ đẹp của con người, nguyễn du đã khắc họa thành công vẻ đẹp của hai chị em nhà văn – kiều. Qua ông, ta có thể thấy được cảm hứng khơi gợi vẻ đẹp, tài năng con người và linh cảm về một kiếp người đầy tài hoa bạc mệnh trong Nguyễn Du.

bản đồ tinh thần phân tích tính cách của Thủy Kiều

sau khi hoàn thành sơ đồ tư duy nhân vật thủy chung, bạn hãy cũng sử dụng lời giải chính để phân tích chi tiết hơn về nhân vật Thủy kiều để hiểu rõ hơn về nhân vật chính được nhắc đến trong đoạn trích

p>

phân tích ngắn gọn về nhân vật Thủy kiều

nguyễn du là thiên tài thơ văn của dân tộc ta. truyện kiều là một kiệt tác văn thơ cổ của dân tộc sáng ngời nhân loại. Về nghệ thuật, bài thơ này là một mẫu mực xuất sắc về ngôn ngữ, tả cảnh, tả người, tả tình, tự sự. cung cấp cho nhân dân ta rất nhiều văn học. quan tâm. bài thơ giới thiệu chị em thủy kiều là một trong những bài thơ hay và đặc sắc nhất trong các truyện thơ. Thủy kiều là nhân vật trung tâm của bài thơ, một thiếu nữ xinh đẹp, tài năng đã được nhà thơ khắc họa một cách duyên dáng và xinh đẹp.

hai chị em không tỳ vết mang vẻ đẹp thanh tao, trinh nguyên như “mai”, như “tuyết”, mỗi người đều có vẻ đẹp riêng, hoàn hảo, hoàn hảo:

bộ xương, thần tuyết,

mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.

vẻ đẹp của thùy văn là vẻ đẹp của một cô gái “đoan trang”, “khác trang nghiêm” – rất quý phái: khuôn mặt “đầy đặn” sáng như trăng, mắt phượng, mày ngài, miệng cười. tươi như hoa, giọng trong như ngọc … còn gì đẹp hơn màu tóc, nước da của nàng? – “tuyết rơi mất màu tóc mây nhường chỗ cho màu da”. nhà thơ đã sử dụng những ước lệ tượng trưng để gợi tả vẻ đẹp mỹ miều, tạo nên những hình ảnh ẩn dụ gợi cảm. tả kiều văn trước, tả thủy kiều sau là một dụng ý nghệ thuật của nguyễn du nhằm khẳng định kiều diễm là một vẻ đẹp tuyệt trần:

kieu cay và mặn hơn,

so với tài năng thì hơn.

<3 đôi mắt đẹp trong veo như làn nước mùa thu, lông mày thanh tú xinh đẹp như dáng núi mùa xuân; một vẻ đẹp xanh tươi khiến “hoa dại mất, liễu kém xanh”. phong cách sáng tác cá nhân của nhà thơ rất đa dạng và đa dạng: ông kết hợp các biện pháp nghệ thuật huyền diệu với ẩn dụ, nhân hoá, thậm chí sử dụng nhuần nhuyễn các chất liệu thơ cổ để tạo nên bài thơ. hình bóng của người đẹp được phác thảo bằng hai ba dòng phá vỡ quy ước nhưng lại rất đỗi thiêng liêng, để lại cho người đọc nhiều cảm xúc và sự trân trọng:

ngõ mùa thu, bức tranh xuân.

ghen tuông mất hoa, liễu kém xanh.

một hoặc hai vùng nước nghiêng.

Hóa học như một sự ưu đãi dành cho tất cả những người nước ngoài “nhan sắc phải yêu một, tài năng ắt có hai”. thông minh bẩm sinh “trời phú”, tài năng xuất chúng: có tài làm thơ, vẽ đẹp, đàn giỏi; anh ấy cũng xuất sắc ở môn nghệ thuật nào, cũng trở thành một “nghề”, “nuốt chửng” cả thế giới:

thông minh vốn dĩ là thần thánh,

<3

sàn cồng thương,

nghề nghiệp của anh ấy ăn nên làm ra ở hồ.

nguyen du đã không tiếc lời ca ngợi thủy chung bằng hàng loạt từ ngữ biểu thị giá trị tuyệt đối: bản chất vốn có, dung hòa với nghề, đầy hương sắc của chính nghề mình.

Khi miêu tả tài năng của mình, nữ sĩ không chỉ nói đến sự cao cả của hiện tại mà còn gợi mở một dự báo về tương lai của nàng, nhan sắc xinh đẹp “hoa ghen… liễu hờn…” với bài ca dao “bạc mệnh. “mà anh sáng tác” còn não nề hơn “như gợi lên trong tâm hồn ta một nỗi ám ảnh” chí mạng “mà nhà thơ khẳng định:” trời xanh, thói quen má hồng hờn ghen “. Trải qua gần hai thế kỷ, việc khắc họa vẻ đẹp này qua bài thơ của chị em Thúy Kiều đã để lại tình cảm nồng hậu trong trái tim hàng triệu người Việt Nam. đó là sự mô phỏng sự lo lắng của đứa con gái đầu lòng của nhà vua. đó là tài năng thực sự của nguyen du trong nghệ thuật đại diện cho mọi người.

đức hạnh là gốc của con người. thủy kiều không chỉ có tài mà còn có đức. anh ta nhận được một nền giáo dục trong khuôn khổ của lễ nghi, của gia đình. tuy sống trong cảnh “hồng nhan bạc mệnh”, đã đến “tứ tuần” nhưng là một thiếu nữ có văn hóa, phẩm hạnh:

bóng tối và rèm cửa,

bức tường đầy ong và bướm.

nói tóm lại, thủy kiều là một nhân vật xinh đẹp xuất thân từ trường thành. nhà thơ nguyễn du với cảm hứng nhân đạo và tài thơ của mình đã miêu tả thủy chung trong những bài thơ lục bát hay nhất. anh đã dành cho nhân vật rất nhiều tình cảm và sự trân trọng sâu sắc. sự kết hợp tài tình giữa các ước lệ tượng trưng, ​​sử dụng sáng tạo các phép tu từ, đặc biệt là ẩn dụ so sánh, ngôn ngữ thơ tinh tế, súc tích, giàu tính biểu tượng và sức gợi để khắc họa vẻ đẹp thi ca rực rỡ nhất của nền văn học cổ nước nhà. Thủy kiều có “xuất thân” ngoại lai, nhưng dưới ngòi bút tài tình của thi hào Nguyễn Du hiện lên với bao phẩm chất tốt đẹp, đậm đà bản sắc dân tộc. vẻ đẹp nhân văn toát lên từ hình tượng thủy chung chính là vẻ đẹp văn chương của bài thơ này.

Xem thêm: Nghệ thuật kể chuyện

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Sơ đồ tư duy bài truyện kiều lớp 9. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *