Văn học dân gian là kết quả của quá trình sáng tác tập thể, tồn tại dưới hình thức truyền miệng thông qua diễn xướng. Trong quá trình lưu truyền, tác phẩm văn học dân gian được tập thể không ngừng hoàn thiện. Văn học dân gian gắn bó và phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng.

Văn học dân gian có nhiều giá trị to lớn về nhận thức, giáo dục, thầm mĩ, cần được trân trọng và phát huy.

Nội dung chính soạn bài khái quát văn học việt nam

Bạn đang xem: Soạn bài khái quát văn học việt nam lớp 10

1. Tóm tắt nội dung bài học

Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX gồm hai thành phần: văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm, phát triển qua bốn giai đoạn.
Những đặc điểm lớn về nội dung: chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo và cảm hứng thế sự.
Những đặc điểm lớn về nghệ thuật: tính quy phạm, tính trang nhã, vừa tiếp thu tinh hoa văn học nước ngoài, vừa sáng tạo những giá trị văn học mới mang bản sắc dân tộc

2. Soạn bài Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX chương trình chuẩn

Câu 1: Nêu những điểm chung và riêng của hai thành phần văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm

Điểm chung: Đều là sáng tác của người Việt; đều ít nhiều ảnh hưởng văn học phong kiến Trung Quốc, đều có những thành tựu to lớn.
Điểm riêng:
Văn học chữ Hán
Văn học chữ Hán ra đời từ thế kỉ X.
Dùng chữ nước ngoài (chữ Hán) để sáng tác.
Chịu ảnh hưởng nhiều của văn học Trung Quốc, đặc biệt về thể loại văn học.
Bao gồm cả thơ và văn xuôi.
Văn học chữ Nôm
Khoảng cuối thế kỉ XIII, văn học chữ Nôm mới bắt đầu xuất hiện.
Dùng chữ dân tộc (chữ Nôm) để sáng tác.
Ít ảnh hưởng văn học Trung Quốc, sử dụng các thể loại văn học dân tộc và một số thể loại của Trung Quốc đã được Việt hóa.
Thơ chiếm đa số.
Câu 2: Dựa vào kiến thức được trình bày trong mục II (các giai đoạn phát triển của văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX), lập bảng tổng kết về tình hình phát triển của văn học Việt Nam theo mẫu sau:

Giai đoạn văn học
Nội dung
Nghệ thuật
Sự kiện văn học, tác giả, tác phẩm
Từ TK.X đến hết TK.XIV Chủ nghĩa yêu nước với âm hưởng hào hùng
Văn học chữ Hán với các thể loại văn học tiếp thu từ Trung Quốc đạt được những thành tựu lớn..
Văn học chữ Nôm mới bắt đầu xuất hiện
Dân tộc mới giành được độc lập, văn học ảnh hưởng trực tiếp dân tộc Hán.
Chiến thắng quân Nguyên- Mông.
Các tác giả, tác phẩm chính: Chiếu dời đô (Lí Công Uẩn), Vận nước (Đỗ Pháp Thuận), Sông núi nước Nam (Lí Thường Kiệt), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu)…
Từ TK.XV đến hết TK.XVII Chủ nghĩa yêu nước mang âm hưởng ngợi ca, đến phản ánh và phê phán hiện thực
Văn học chữ Hán tiếp tục phát triển với nhiều thể loại phong phú.
Văn học chữ Nôm có sự Việt hóa các thể loại tiếp thu từ Trung Quốc, đồng thời có sự sáng tạo những thể loại văn học dân tộc.
Chiến thắng quân Minh
Chế độ phong kiến hưng thịnh đến đỉnh cao nhưng cũng có những dấu hiệu suy đổi.
Tác giả, tác phẩm: Nguyễn Trãi với Quân Trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập…; Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn; Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ…
Từ TK.XVIII đến nửa đầu TK. XIX Chủ nghĩa nhân đạo xuất hiện và phát triển tới đỉnh cao
Phát triển mạnh cả về văn xuôi lẫn văn vần, cả văn học chữ Hán lẫn văn học chữ Nôm.
Văn chương nghệ thuật là thành tựu chủ yếu.
Trịnh – Nguyễn phân tranh: Tây Sơn bị triều đại Quang Trung xuất hiện nhưng nhanh chóng sụp đổ. Nhà Nguyễn phục hồi. Nhân dân chịu cảnh chiến tranh liên miên.
Các tác giả, tác phẩm chính: Đặng Trần Côn với Chinh phụ ngâm khúc (Bản dịch Nôm của Đoàn Thị Điểm), Nguyễn Gia Thiều với Cung oán ngâm, thơ Hồ Xuân Hương, bà Huyện Thanh Quan, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái, Nguyễn Du với thơ chữ Hán và kiệt tác Truyện Kiều, thơ Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát
Từ nửa cuối TK.XIX Chủ nghĩa yêu nước mang âm hưởng bi tráng; có tư tưởng cách tân đất nước
Văn học chữ quốc ngữ bắt đầu xuất hiện. Tuy nhiên, văn học vẫn sáng tác theo thể loại và thi pháp truyền thống. Bên cạnh đó, văn học cũng đã có những đổi mới theo hướng hiện đại hóa.
Pháp xâm lược. Các phong trào khởi khĩa chống Pháp thất bại.
Các tác giả, tác phẩm: Nguyễn Đình Chiểu với , , Ngư tiêu y thuật vấn đáp… Nguyễn Khuyến nổi tiếng với chùm thơ mùa thu; Tú Xương với nhiều bài thơ hiện thực trào lộng….
Câu 3: Nêu một số tác phẩm văn học đã học trong chương trình THCS để làm sáng tỏ những đặc điểm lớn về nội dung của văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX.

Các đặc điểm lớn về nội dung gồm: chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo và cảm hứng thế sự.
Các tác phẩm văn học trong đại đã học ở THCS.
Các tác phẩm chứng minh cho chủ nghĩa yêu nước
Nam quốc sơn hà (Lí Thường Kiệt)
Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn)
Bình Ngô Đại Cáo (Nguyễn Trãi)
Các tác phẩm chứng minh cho chủ nghĩa nhân đạo
Thơ văn Nguyễn Du
Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn – Bản dịch chữ Nôm của Đoàn Thị Điểm)
Mời trầu, Bánh trôi nước (Hồ Xuân Hương)
Các tác phẩm trên chứng minh cho cảm hứng thế sự
Qua đèo ngang, Thăng Long hành hoài cổ, Chiều hôm nhớ bà (Bà Huyện Thanh Quan).
Thói đời (Nguyễn Công Trứ)

Câu 4: Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX có những đặc điểm lớn nào về nghệ thuật?

Từ những đặc điểm này, theo anh (chị), cách đọc văn học trung đại có điều gì khác cách đọc văn học hiện đại?

Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX có những đặc điểm lớn về nghệ thuật:
Các đặc điểm lớn về nghệ thuật của văn học trung đại gồm: tính quy phạm và sự phá vỡ quy phạm, tính trang nhã và xu hướng bình dị, tính dân tộc và tiếp thu tinh hoa của văn học nước ngoài.
Suy ra cách đọc văn học trung đại có điều gì khác cách đọc văn học hiện đại
Coi trọng tính quy phạm (nắm vững tính quy phạm như: niêm, luật trong thơ Đường…), nhưng đồng thời đánh giá đúng mức tính sáng tạo ở chỗ phá vỡ tính quy phạm.
Chú ý đến vẻ đẹp trang nhã. Không phải miêu tả, biểu hiện trần trụi mà theo kiểu tượng trưng, ước lệ, cùng nhiều điển cố, điện tích, dùng nhiều mĩ từ. Nhưng đồng thời cũng coi trọng sự bình dị, gần gũi với đại chúng. Bởi một lẽ đơn giản, các nhà văn không sáng tạo ra một thứ ngôn ngữ nghệ thuật riêng biệt với ngôn ngữ dân tộc. Rất nhiều lời ăn tiếng nói hằng ngày, nhiều tục ngữ, thành ngữ, ca dao là thi văn liệu cho sáng tác. Truyện kiều, kiệt tác văn chương trinh đại là một ví dụ điển hình.
Các em có thể tham khảo thêm bài giảng khái quát văn học việt nam từ X đến hết thế kỉ XIX để nắm vững hơn các kiến thức trọng tâm của bài học.

3. Soạn bài giảng Khái quát văn học Việt Nam từ X đến hết thế kỉ XIX chương trình Nâng cao

Câu 1: Vị trí của văn học trung đại Việt Nam trong nền văn học dân tộc.

Gợi ý:

Trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc, văn học trung đại có một vị trí cực kì quan trọng. Từ đây tiếng Việt văn học đã ra đời cùng với hệ thống thể loại ngoại nhập được dân tộc hóa và các thể loại nội sinh thuần Việt. Đó cũng là thời kì hình thành các truyền thống tư tưởng và nghệ thuật quan trọng nhất, làm nền tảng vững chắc cho sự phát triển phong phú của văn học dân tộc về sau.
Câu 2: Văn học trung đại Việt Nam phát triển qua bốn giai đoạn. Hãy nêu một cách khái quát nhất thành tựu văn học của từng giai đoạn.

Gợi ý:

Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV: văn học giai đoạn này đã đặt nền móng toàn diện và vững chắc cho văn học Việt Nam, từ chữ viết đến thể loại, từ nội dung đến hình thức, từ phương thức tiếp thu, kế thừa tinh hoa văn hóa nước ngoài, văn hóa dân gian trong nước đến việc Việt hóa và bước đầu sáng tạo các giá trị văn học.
Văn học giai đoạn này có những áng văn giá trị: Thiên đô chiếu (Lí Công Uẩn), Dụ chư tì tướng hịch văn (thường gọi tắt là Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn), Việt điện u linh tập (Lí Tế Xuyên), Lĩnh Nam chích quái lục (Trần Thế Pháp),…
Văn học Việt Nam từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII: văn học giai đoạn này chuyển mạnh theo hướng dân tộc hóa từ ngôn ngữ đến thể loại, từ nội dung đến hình thức.
Văn học giai đoạn này có những tác phẩm: Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi), Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba (Thân Nhân Trung), Thánh Tông di thảo (tương truyền của Lê Thánh Tông), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), Bạch Vân quốc ngữ thi (Nguyễn Bỉnh Khiêm),..
Văn học Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX: văn học viết vẫn phát triển và đạt đến độ rực rỡ nahats: phong phú về nội dung, đa dạng về thể loại và đạt được nhiều thành tựu đỉnh cao về nghệ thuật.
Văn học gia đoạn này có các tác phẩm như: Hoa tiên (Nguyễn Huy Tự), Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều của Nguyễn Du), Sơ kính tân trang (Phạm Thái), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều),…
Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX: ngoài văn học chữ Hán và chữ Nôm, ở giai đoạn này, văn học viết bằng chữu quốc ngữ bắt đầu ra đời ở Nam Bộ.
Câu 3: Văn học trung đại Việt Nam có những đặc điểm cơ bản gì? Cho biết nội dung các đặc điểm ấy và nêu ví dụ chứng minh.

Gợi ý:

Gắn bó với vận mệnh đất nước và số phận con người: do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, ngay từ khi mới ra đời, văn học trung đại Việt Nam đã gắn bó với vận mệnh đất nước và con người. Tác phẩm chủ yếu của văn học thời kì này là những bài ca yêu nước, những áng văn thể hiện nỗi băn khoăn day dứt trước số phận con người. Chủ đề nổi bật của văn học trung đại Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước, tư tưởng nhân đạo và chủ nghĩa anh hùng. Ví dụ: Dụ chư tì tướng hịch văn (Trần Quốc Tuấn), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi), Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)…
Luôn hấp thụ mạch nguồn văn học dân gian. Văn học dân gian của bất cứ dân tộc nào cũng là sự kết tinh tư tưởng, tình cảm, trí tuệ và tài hoa của nhân dân. Ví dụ: Viện điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái, Đại Việt sử kí toàn thư, …
Tiếp thu tinh hoa văn học Trung Hoa trên tinh thần dân tộc, tạo nên những giá trị văn học đậm đà bản sắc Việt Nam.
Trong khuôn khổ thi pháp trung đại, văn học Việt Nam luôn vận động theo hướng dân tộc hóa và dân chủ hóa.
4. Hỏi đáp về bài bài giảng Khái quát văn học Việt Nam từ X đến hết thế kỉ XIX
Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em.

I. Các thành phần của văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX

Câu 1 (trang 19 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

Các đặc trưng cơ bản của văn học dân gian Việt Nam là:

– Tính truyền miệng

+ Truyền miệng là phương thức lưu hành và tồn tại của văn học dân gian, tạo nên điểm khác biệt cơ bản của bộ phận văn học này với văn học viết.

+ Đặc trưng của quá trình sáng tác và lưu truyền từ người này sang người khác không bằng chữ viết mà bằng lời nói, thông qua sự ghi nhớ qua nhiều thế hệ và các địa phương khác nhau.

+ Nói truyền miệng là nói đến quá trình diễn xướng dân gian với các hình thức như : nói, kể, hát, diễn, … các tác phẩm văn học dân gian hoặc và kết hợp nội dung lời thơ, văn với các làn điệu để tạo nên tác phẩm trình diễn chèo, tuồng, cải lương, …

– Tính tập thể

+ Quá trình sáng tác tập thể diễn ra như sau: ban đầu, tác phẩm do một cá nhân khởi xướng; sau đó, những người khác tiếp tục lưu truyền, sửa chữa, thêm bớt, hoàn thiện và làm phong phú cả về nội dung lẫn hình thức cho tác phẩm.

+ Kể cả khi đã được ghi chép lại, các tác phẩm văn học dân giân vẫn tiếp tục được truyền miệng, chỉnh sửa và hoàn thiện.

+ Mỗi tác phẩm dân gian sau khi ra đời đều là tài sản chung của tập thể, mỗi người đều có quyền sử dụng, sửa chữa, bổ sung để thêm hoàn thiện, hấp dẫn.

⇒ Tính truyền miệng và tính tập thể là những đặc trưng cơ bản, chi phối, xuyên suốt quá trình sáng tạo và lưu truyền tác phẩm văn học dân gian, thể hiện sự gắn bó mật thiết của văn học dân gian với những sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng.

– Tính thực hành

+ Phần lớn các tác phẩn văn học dân gian đều được ra đời trong những sinh hoạt như lao động tập thể, vui chơi ca hát tập thể, hội hè… .

+ Những sinh hoạt cộng đồng có vai trò chi phối cả nội dung và hình thức của tác phẩm văn học dân gian.

+ Các tác phẩm văn học dân gian có vai trò phối hợp hoạt động, tạo nhịp điệu cho sinh hoạt cộng đồng (những bài hò : hò chèo thuyền, hò đánh cá,…).

Câu 2 (trang 19 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

Định nghĩa và ví dụ các thể loại văn học dân gian.

1. Thần thoại

+ Hình thức văn xuôi tự sự

+ Thường kể về các vị thần nhằm giải thích các hiện tượng tự nhiên; thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên và phản ánh quá trình sáng tạo văn hóa của người Việt cổ.

+ Ví dụ: Thần trụ trời, Nữ thần Mặt trăng, Thần mặt trời, …

2. Sử thi

+ Hình thức văn xuôi tự sự (có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần nhịp, kiểu văn xuôi, văn vần hoặc kết hợp cả hai).

+ Xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hoặc nhiều biến cố lớn lao diễn ra trong đời sống cộng đồng của nhân dân thời cổ đại; qua đó thể hiện sự ngưỡng mộ, tôn vinh của nhân dân đối với những người có công với cộng đồng.

+ Ví dụ: Sử thi Đẻ đất đẻ nước của người Mường, Sử thi Đăm Săn của dân tộc Ê – đê, …

3. Truyền thuyết

+ Hình thức văn xuôi tự sự

+ Kể về sự kiện và nhân vật lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử) cụ thể theo xu hướng lí tưởng hóa; qua đó thể hiện sự ngưỡng mộ và tôn vinh người có công với đất nước, dân tộc hoặc cộng đồng dân cư của một vùng. Bên cạnh đó, truyền thuyết cũng vừa đề cao, vừa phê phán các nhân vật lịch sử.

+ Ví dụ: truyền thuyết Hùng Vương; An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy; Bánh chưng bánh dày….

4. Cổ tích

+ Hình thức văn xuôi tự sự

+ Cốt truyện và hình tượng được hư cấu có chủ đích, kể về số phận của những con người bình thường trong xã hội có phân chia đẳng cấp, thể hiện tinh thần nhân đạo và lạc quan cảu nhân dân lao động.

+ Ví dụ: Thạch Sanh, Tấm Cám, Cây khế…

5. Truyện cười

+ Hình thức văn xuôi tự sự (dung lượng ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ)

+ Kể về những sự việc, hiện tượng xấu, trái tự nhiên trong cuộc sống làm bật lên tiếng cười, nhằm mục đích giải trí hoặc phê phán xã hội.

+ Ví dụ: Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày, …

6. Truyện ngụ ngôn

+ Hình thức văn xuôi tự sự (rất ngắn gọn, kết cấu rất chặt chẽ)

+ Truyện thông qua các ẩn dụ để kể về những sự việc liên quan đến con người, từ đó rút ra những kinh nghiệm và triết lí sâu sắc.

+ Ví dụ: Treo biển, Trí khôn, …

7. Tục ngữ

+ Hình thức: Câu/lời nói có tính nghệ thuật (ngắn gọn, hàm súc, phần lớn có hình ảnh, vần, nhịp)

+ Đúc kết những kinh nghiệm thực tiễn, thường được dùng trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của nhân dân.

+ Ví dụ: Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, Gần mực thì đen gần đèn thì sáng, Nuôi lợn ăn cơm nằm/Nuôi tằm ăn cơm đứng,…

8. Câu đố

+ Hình thức: Bài thơ hoặc câu nói có tính có vần

+ Mô tả vật bằng những hình ảnh, hình tượng khác lạ để người nghe tìm lời giải thích nhằm mục đích giải trí, rèn luyện tư duy và cung cấp những tri thức về cuộc sống.

+ Ví dụ: “Không miệng mà lại biết kêu /Không tội mà lại bị treo lên xà”. Đáp án: (cái chuông)

9. Ca dao

+ Hình thức: thơ trữ tình (thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng)

+ thể hiện thế giới nội tâm con người.

+ Ví dụ: “Anh đi anh nhớ quê nhà,

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.

Nhớ ai dãi nắng dầm sương,

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”.

10. Vè

+ Hình thức: Văn vần có lời thơ mộc mạc.

+ Phần lớn nói về những sự kiện, sự việc của làng, nước mang tính thời sự, nhằm thông báo và bình luận.

+ Ví dụ: ‘‘Vè thách cưới’’, ‘‘Vè bão năm Tỵ’’, ‘‘Vè sai đạo’’, ‘‘Vè thầy Thông Chánh’’…

11. Truyện thơ

+ Hình thức: thơ, văn vần

+ Phản ánh số phận và khát vọng của con người về hạnh phúc lứa đôi và sự công bằng trong xã hội.

+ Ví dụ : Truyện Kiều (Nguyễn Du), Truyện Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu), …

12. Chèo (Các hình thức diễn xướng dân gian)

+ Hình thức: kịch hát dân gian kết hợp với yếu tố trữ tình và trào lộng

+ Ca ngợi những tấm gương đạo đức phê phán đả kích mặt trái của xã hội.

+ Các thể loại sân khấu dân gian khác : tuồng, cải lương, múa rối, …

+ Ví dụ: Chèo Quan Âm Thị Kính, Suý Vân giả dại, …

Câu 3 (trang 19 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

Có thể tóm tắt nội dung các giá trị của văn học dân gian như sau:

– Văn học dân gian là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc:

+ Vốn tri thức này thuộc đủ mọi lĩnh vực trong đời sống : tự nhiên, xã hội và con người.

+ Vốn tri thức dân gian phần lớn là các kinh nghiệm lâu đời được nhân dân đúc kết từ thực tế, mang lại bài học cho thế hện sau.

– Văn học dân gian có giá trị sâu sắc về đạo lí làm người:

+ Những giá trị quan trọng nhất được biểu hiện ở văn học dân gian là tinh thần nhân đạo và lạc quan

+ Góp phần hình thành những phẩm chất tốt đẹp, tâm hồn, nhân cách cho con người Việt Nam.

– Văn học dân gian có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần quan trọng tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc.

+ VHDG là những bài học, kinh nghiệm quý giá được chắt lọc, mài giũa qua không gian và thời gian, trở thành những mẫu mực xứng đáng để học tập.

+ Giúp thế hệ sau hiểu biết thêm về đời sống tinh thần phong phú của cha ông.

II. Soạn bài Khái quát văn học dân gian Việt Nam

Câu 1 (Trang 111 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Điểm chung:

+ Phát triển trên cơ sở văn tự của người Hán

+ Tích cực phản ánh những vấn đề của đời sống xã hội, tâm tư, tình cảm của người trung đại

+ Đều có những thành tựu rực rỡ kết tinh được những tác phẩm xuất sắc

Khác nhau:

– Bộ phận văn học chữ Nôm ra đời muộn hơn

– Thành tự của văn học Nôm chủ yếu là thơ (văn học chữ Hán có thành tựu lớn ở cả hai mảng văn thơ, văn xuôi

Câu 2 (trang 111 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Khái quát văn học Việt Nam thời trung đạiKhái quát văn học Việt Nam thời trung đại

Câu 3 (Trang 112 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Nội dung yêu nước: Sông núi nước Nam, Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Thuật hoài…

Nội dung nhân đạo: Chuyện người con gái Nam Xương, Truyện Kiều, Bánh trôi nước

– Nội dung thế sự: Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh, Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc…

Câu 4 (Trang 112 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Nghệ thuật văn học thế kỉ X- hết thế kỉ XIX có những đặc điểm lớn:

Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm, khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị, tiếp thu và dân tộc hóa tinh thần tinh hoa văn học nước ngoài.

– Văn học cổ nói nhiều tới chí khí, đạo lí trong phép ứng xử hàng ngày của con người

– Văn học hiện đại đi sâu vào thế giới, sự biến chuyển nội tâm nhân vật

– Văn học cổ:

+ Xem trọng tính quy phạm (nắm vững tính quy phạm như niêm, luật rong thơ Đường, đánh giá đúng mức tính sáng tạo khi phá vỡ quy phạm

+ Chú trọng tới vẻ đẹp trang nhã, đánh giá đúng mực xu hướng bình dị hóa, gần gũi với đại chúng, nhân dân lao động…

+ Chú ý đến tính dân tộc (hình thức, nội dung)

Hỗ trợ giải đáp




Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *