Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
434 lượt xem

Thuyết minh về Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều. | baivan.net

Bạn đang quan tâm đến Thuyết minh về Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều. | baivan.net phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Thuyết minh về Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều. | baivan.net

bài mẫu 1: thuyết minh về lịch sử nguyễn du và kiều bào.

truyện còn mang giá trị nhân đạo sâu sắc. Trước hết, chúng tôi tôn trọng mọi người về ngoại hình, phẩm chất, tài năng, khát vọng, ước mơ và tình yêu đích thực. đồng thời lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống của con người.

bảng tính

nếu văn học Trung Quốc tự hào về văn hào tấn, văn học nga tự hào về văn hào macxim gooky thì Việt Nam cũng tự hào về đại thi hào Nguyễn Du. ông đã để lại cho nền văn học nước nhà một tác phẩm văn học rất nổi tiếng là truyện kí. Với tính giáo dục sâu sắc, tài năng văn chương kiệt xuất và giá trị nhân đạo sâu sắc, truyện Kiều và Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thực sự trở thành niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

Nguyên du (1765-1820), tên chữ là Thanh hiền, quê ở làng Tiền Điện, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan, có truyền thống văn học. Cha ông là Nguyễn Nghiễm, cũng là người giỏi văn chương. ông đỗ tiến sĩ và trở thành tể tướng. mẹ cô là Trần thị tân, người con gái ở Bắc Kinh cũng biết đọc và biết viết. Người anh cùng cha khác mẹ của ông là Nguyễn Khản làm quan từ thời Lê Trịnh.

Anh ấy xuất thân trong một gia đình danh giá, nhưng cuộc đời của anh ấy lại đầy rẫy những đau thương. Năm 13 tuổi, ông mồ côi cha mẹ, phải sống với anh trai là Nguyễn Khản. Năm 15 tuổi, nguyễn hãn bị vu cáo, phải nương nhờ họ hàng xa. Đặc biệt, cuộc đời của ông gắn liền với những sự kiện lịch sử của giai đoạn thế kỷ X, đầu thế kỷ 20, thời kỳ mà giai cấp thống trị thối nát, tham lam, không quan tâm đến dân, giết nhau để tranh giành. sức mạnh.

lưu lạc nhiều nơi trong hoàn cảnh đó, năm 1802, Nguyễn Ảnh lên ngôi, Nguyễn Du phải miễn cưỡng ra làm quan. Ông được cử sang Trung Quốc hai lần, nhưng lần thứ hai vào năm 1820, chưa kịp đi thì ông lâm bệnh và mất tại Huế. Dù cuộc đời đầy biến cố nhưng bù lại ông đã có được kiến ​​thức sâu rộng và lòng cảm thương cho những số phận bi thảm của con người. ông là đại thi hào của dân tộc với nhiều tác phẩm có giá trị trong đó có ba tập thơ chữ Hán gồm thanh thế thi tập, bắc hành tạp lục, nam trung tạp ngữ và tác phẩm tiêu biểu nhất là truyện kí.

câu chuyện về kiều trước đây được gọi là “duong tan thanh”. Truyện Kiều được Nguyễn Du sáng tạo từ truyện “Kim văn kiều truyện” của Trung Quốc. tuy nhiên, khác với “đoạn trường tân thanh”, truyện kiều được viết theo thể thơ lục bát, gồm 3.254 câu thơ và được chia thành ba giai đoạn: gặp gỡ và hứa hôn, chia tay và lưu lạc, và đoàn tụ.

Câu chuyện kể về cuộc sống của một người nước ngoài. Thuý Kiều là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, được nuôi dưỡng trong một gia đình trung lưu lương thiện nhà họ Vương, có ba chị em Thuý Kiều, Thuý Vân và Vương Quan. Trong một lần đi du xuân, Kiều gặp Kim Trọng, hai người yêu nhau rồi tự do hẹn hò trong bí mật. gia đình kim trong bị tai nạn, chú mất, kim trong phải về quê chịu tang chú, hải ngoại cũng gặp tai nạn, hải ngoại phải bán thân chuộc cha.

kieu bị lừa bởi những người buôn bán là sinh viên, cô bác học lập trình và lạc vào chốn lầu xanh. Kiều gặp chú ruột và được về làm vợ lẽ, nhưng thái giám lại là vợ của người chú ghen tuông, nàng đã trúng tiếng sét ái tình. trốn khỏi nhà mụ mụ rơi vào trong tay bạc hà, hạnh phúc lang thang mặt đất xanh lần thứ hai. Tại đây, Kiều gặp Từ Hải, người anh hùng “đội trời đạp đất”. tuy nhiên, Việt kiều vướng vào âm mưu cúng bái, kể từ khi chết biển, Việt kiều bị ép gả cho một ông quan quê. Vì quá nhục nhã và đau đớn, anh đã ném mình xuống sông tiền. sau đó, cô được sư thầy cứu giúp và quyết định đi tu. kim trong, sau tang thu thuy van, nhung anh van khong phai la kieu. Sau 15 năm lưu lạc ở nước ngoài, nàng được đoàn tụ với gia đình và Kim Trọng, nhưng nhất quyết không lấy Kim Trọng mà trở thành tri kỷ của chàng.

Giá trị nội dung thể hiện qua giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm. truyện Kiều phản ánh hiện thực xã hội đương thời với bộ mặt tàn bạo của giai cấp thống trị. sức mạnh của đồng tiền và số phận của những người bị áp bức, nạn nhân của đồng tiền, đặc biệt là phụ nữ. cuộc đời đẫm nước mắt của một cô gái tài hoa bạc mệnh ở nước ngoài cũng bắt đầu bằng quyền lực và sự vô nhân đạo của đồng tiền.

câu chuyện còn mang giá trị nhân đạo vô cùng sâu sắc. Trước hết, chúng tôi tôn trọng mọi người về ngoại hình, phẩm chất, tài năng, khát vọng, ước mơ và tình yêu đích thực. đồng thời lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống của con người.

mặt khác, truyện kiều còn thể hiện niềm thương cảm sâu sắc đối với số phận, nỗi khổ của con người, nhất là người phụ nữ, trân trọng tài năng và vẻ đẹp của những con người tài hoa bạc mệnh.

Về giá trị nghệ thuật, Nguyễn Du đã thể hiện sự tài hoa, sáng suốt trong nghệ thuật tự sự, tả nhân vật, tả cảnh và sử dụng ngôn ngữ. Truyện Kiều là một kiệt tác nghệ thuật, với lối viết của một nghệ sĩ thiên tài, ngôn ngữ tiếng Việt trong Truyện Kiều đã đạt đến sự giàu đẹp. Với cách sử dụng ngôn ngữ trần thuật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật miêu tả và dựng cảnh ngụ tình, Nguyễn Du đã tái hiện thành công hình ảnh một xã hội tàn bạo, bất công chà đạp lên những người nghèo khổ, đặc biệt là người phụ nữ. do đó lên án các thế lực của cái ác. đồng thời, nó cũng bảo vệ vẻ đẹp ngoại hình, tài năng, nhân phẩm và khát vọng chân chính của con người về tự do, hạnh phúc và chân lý.

Thành công về mặt nội dung và nghệ thuật là vậy, Truyện Kiều đã trở thành tác phẩm tiêu biểu của đời thơ Nguyễn Du và nền văn học dân tộc. Truyện của nguyễn du và kiều nữ sẽ sống mãi trong lòng độc giả, mãi mãi với dân tộc.

bài mẫu 2: trình bày về Trạng nguyên và truyện Kiều.

từ sự thấu hiểu và cảm thông, “truyện kiều” còn là tiếng kêu oan, là bản cáo trạng đanh thép chống lại các thế lực buôn người, quan lại phong kiến ​​và thế lực đồng tiền … từ đó, những bài thơ này đã nuôi ước mơ về một tự do. tình yêu, một bài hát về ước mơ công lý trong xã hội.

bảng tính

Nguyễn du tên tự, biệt hiệu là thanh hiền, sinh năm dậu (1765). Quê cha ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. đây là vùng đất của những con người tài hoa, vùng đất của những làn điệu dân ca ví dặm. quê hương đại thi hào bắc ninh – cái nôi của truyền thống dân ca và văn hóa quan họ. nguyễn du lớn lên ở thăng long, một vùng tinh hoa. Như vậy, Nguyễn Du đã tiếp thu văn hóa của nhiều vùng miền khác nhau.

Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan lớn dưới triều vua chúa và chúa trinh. Đó cũng là một gia đình có truyền thống yêu thích văn học, rất am hiểu về thơ cổ điển và rất hâm mộ ca hát. và nguyễn du được thừa hưởng trí thông minh, được lớn lên trong môi trường văn hóa và văn học.

Nguyễn Du sinh ra và lớn lên trong xã hội phong kiến ​​Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 19. Đây là thời kỳ khủng hoảng trầm trọng, loạn lạc bốn phương, các cuộc nổi dậy của quần chúng nổ ra, triều đại Tây Sơn thay đổi núi non. Nguyễn du chứng kiến ​​lịch sử trong một xã hội phong kiến ​​khủng hoảng trầm trọng, chứng kiến ​​thân phận con người và hiện thực mục ruỗng, từ đó nảy sinh lương tâm cá nhân. Vì vậy, thơ Nguyễn Du trước hết là nói về cuộc đời cát bụi của mình, sau đó là bênh vực, bênh vực quyền sống của con người.

Thuở nhỏ, Nguyễn Du sống ở Thăng Long, trong một gia đình quyền quý. Tuy nhiên, năm 10 tuổi, anh mất cha và 13 tuổi, anh mất mẹ. Sau đó, ông sống tại nhà của anh trai mình là Nguyễn Khản. Vì vậy, Nguyễn Du biết rõ cuộc sống giàu sang, sang trọng của giới quý tộc phong kiến ​​và có lòng thương người hát rong, gái điếm. từ năm 1789 đến năm 1802, một thiên tai xảy ra và gia đình phải ly tán. Chính cuộc sống khó khăn, gian khổ, mười mấy năm sống trong cảnh thôn nữ thanh bình đã tạo cho nhà thơ một hiện thực phong phú, gợi cho nhà thơ nhiều suy ngẫm về xã hội và con người, nhất là những người ở dưới. nó là cơ sở để các nhà thơ tìm hiểu và làm chủ nghệ thuật dân gian, từ đó hình thành nên phong cách của ngôn ngữ du mục, đặc biệt là trong “truyện cổ tích”. Từ năm 1802, Nguyễn Du đã từng là một Thượng thư bất đắc dĩ của nhà Nguyễn, ông được cử sang Trung Quốc nhiều lần, được tiếp xúc với một nền văn học, một đất nước mà ông biết qua sử sách, thơ văn và văn học. do đó, tư tưởng về xã hội và thân phận con người được nâng lên một tầm chung mới, mang tầm vóc con người.

do đó, tất cả các yếu tố trên đều là yếu tố khách quan, giống như cơ sở, tiền đề. điều tối quan trọng là bản thân người đó. Anh biết vượt qua những bi kịch của cuộc đời bằng ý chí và nghị lực, tiếp thu những tinh hoa của gia đình, anh nguyễn du dùng cả trái tim và khối óc để cảm nhận những gì đang diễn ra xung quanh mình.

nguyễn du là một tác giả có nhiều thành tựu xuất sắc về văn học, ở tất cả các thể loại ông đều đạt đến độ hoàn thiện trên bình diện cổ điển. Về thơ chữ Hán, Nguyễn Du có ba tập thơ: “thanh minh thi tập”, “nam trung tạp ngâm” và “bắc hanh tạp lục”. Riêng về thơ, Nguyễn Du có hai kiệt tác là “Truyện Kiều” và “Văn tế Thập nhị nhân duyên”. Ngoài ra, ông còn có một số sáng tác mang đậm phong cách dân gian như “Đoạn trường thọ hai cô gái” và bài thơ “Xếp chữ của thanh niên trong nón xóm”.

và nhắc đến sự nghiệp văn chương của đại thi hào, chúng ta không thể không nhắc đến “truyện kí” – một kiệt tác văn học đã xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới. Đây là một câu chuyện thơ mượn cốt truyện của một câu chuyện tình đau thương của Trung Quốc và biến nó thành một bài ca đau lòng về những con người có số phận éo le, nói lên “những gì chúng ta nhìn thấy” trong giai đoạn đầy biến động của lịch sử. Với việc sử dụng thể thơ lục bát dân tộc, tác phẩm còn có sự hòa quyện nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình. Nguyễn du đã lược bỏ những chi tiết thủ đoạn, độc ác và một số chi tiết dung tục, đồng thời miêu tả sâu sắc tâm lý nhân vật như đoạn “lầu son gác tía” hay khi người bác từ biệt tiểu kiều. tác giả đã sử dụng ngôn ngữ chọn lọc và tinh tế; kết hợp ngôn ngữ bình dân và ngôn ngữ bác học, sử dụng kinh điển và kinh điển. Vì vậy, việc Nguyễn Du mượn cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân là hoàn toàn phù hợp với quy luật của văn học, nhưng điều đáng nói là bằng tài năng của mình, Nguyễn Du đã biến một cốt truyện bình thường trở thành một kiệt tác.

“sử kiều” là tiếng kêu đau lòng cho số phận con người. Tiếng kêu thương xót ấy chủ yếu xoay quanh thân phận của nàng Thủy Kiều, một người con gái tài hoa bạc mệnh nhưng đã phải chịu cảnh “thanh lau hai lần”. ngoài sự thấu hiểu và cảm thông, “truyện kiều” còn là tiếng kêu phẫn uất, lời tố cáo mạnh mẽ trước những thế lực buôn người, quan lại phong kiến ​​và thế lực đồng tiền… từ đó, những vần thơ này đã nuôi dưỡng ước mơ về một tình yêu tự do. , một bài hát về ước mơ công lý trong xã hội.

XEM THÊM:  Dòng nào nói đúng về cốt truyện của truyện kiều

Để đạt đến tầm vóc của một nhà thơ lớn, một danh nhân văn hóa thế giới là do nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất vẫn là cái tài và cái tâm của người nghệ sĩ. và kiệt tác “truyện kiều” sẽ sống mãi nhờ những giá trị nội dung và nghệ thuật độc đáo của nó.

bài mẫu 3: bài văn thuyết minh về Trạng nguyên và lịch sử xứ sở.

không chỉ ngậm ngùi, nguyễn du còn biết trân trọng, ngợi ca cái đẹp, đi đôi với khát vọng sống, ước nguyện về tình yêu hạnh phúc. Tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du đã vượt qua một số hạn chế của hệ tư tưởng, tôn giáo phong kiến ​​để vươn tới sự khẳng định lòng tự trọng của con người

bảng tính

Nguyên du là một đại thi hào dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, một nhà nhân đạo kiệt xuất với “con mắt nhìn thấu lục đạo” và “tấm lòng nghĩ mãi ngàn đời” (mộng liên tang chính tuyến). .

nguyễn du, tên chữ tương, biệt hiệu là thanh hiền, quê quán tại thôn tiên điện, huyện nghi xuân, tỉnh hà tĩnh. Ông sinh năm 1765 (Ất Dậu) trong một gia đình nhiều đời, nhiều người làm quan lớn dưới triều Lê, Trịnh. cha ông là nguyễn nghiêm, làm tể tướng được 15 năm. Mẹ là Trần Thị Tân, một người phụ nữ quê Kinh Bắc có tài ca hát.

Quê hương của Nguyễn Du là vùng đất địa linh, nhân kiệt, học giả, trọng tài. Gia đình Nguyễn Du có truyền thống khoa bảng, có nhiều tài văn chương. gia đình và đất nước là “mảnh đất màu mỡ” nuôi dưỡng thiên tài nguyễn du.

Thuở nhỏ Nguyễn Du sống trong nhung lụa. Năm 10 tuổi, mồ côi cả cha lẫn mẹ, cuộc đời bắt đầu gặp nhiều thăng trầm trong thời kỳ loạn lạc của dân tộc suốt 3 năm: Sống với Nguyễn Khản (người anh cùng cha khác mẹ là Tể tướng của phủ chúa Trịnh), Nguyễn Khản bị giam cầm, bị bầy đàn tiêu diệt, phải chạy trốn. Năm 19 tuổi, Nguyễn Du thi đỗ tam giáp, làm quan đến chức vô biên ở Thái Nguyên. Chẳng bao lâu sau khi nhà lê sụp đổ (1789), nguyễn du lánh nạn về quê vợ ở thái bình, sau đó vợ mất, ông về quê cha, thỉnh thoảng đi bắc ninh về quê mẹ, nhất thời không nhà cửa. người dân sống ở thủ đô thăng long.

Trong hơn mười năm bôn ba trên đất Bắc, nguyễn du đã sống gần gũi với mọi người và thấm đẫm biết bao ấm lạnh, nhất là những người dân lao động, phụ nữ, trẻ em, ca hát, ăn uống … anh em … dưới đáy. “mọi người. chính nỗi bất hạnh lớn lao của cuộc đời đã hun đúc nên thiên tài Nguyễn Du, một nhà nhân đạo lớn.

Bất đắc dĩ, theo lời mời của triều Nguyễn, Nguyễn Du trở thành Thượng thư. Năm 1813, ông được thăng chức Tham tri phủ sứ, được cử sang Trung Quốc làm chánh sứ. năm 1820 được cử đi lần thứ hai, nhưng chưa kịp ra đi thì đột ngột qua đời vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thân (18 tháng 9 năm 1820). Trong thời gian làm quan nhà Nguyễn, Nguyễn Du sống trầm lặng, ít nói và có nhiều bí mật không biết kể cho ai nghe.

tường thành của nguyễn du khá phức tạp và có những mâu thuẫn: trung thành với triều Lê, không hợp tác với triều đại tây sơn, miễn cưỡng làm quan của triều nguyễn. anh là người có lý tưởng và hoài bão, nhưng trước gió bụi cuộc đời tẻ nhạt, nguyễn du coi mọi việc (tu theo đạo Phật, trường sinh bất lão, câu cá, săn bắn, v.v.) là điều viển vông nhưng anh lại rơi vào nhịp sống trì trệ của mình. trước khi dâu bể. Nguyễn Du thấy mình giữa giông tố cuộc đời trong một giai đoạn lịch sử bi tráng. đó là bi kịch của cuộc đời ông, nhưng đó chính là điều khiến tác phẩm của ông chứa đựng một chiều sâu chưa từng có trong nền thơ ca Việt Nam.

Nguyễn Du có ba tuyển tập thơ chữ Hán: thanh dương thi tập, nam trung tạp ngâm và bac hanh ta luc, tổng cộng 250 bài thơ, nguyễn du có kiệt tác đoạn trường tân thanh (truyện kiều) và văn học. tế các loại chúng sinh (văn tế cô hồn) và một số sáng tác mang tính đại chúng như: tế sống hai cô gái sống lâu; đến thác len trai ở phường nón.

ở đầu câu chuyện của bạn nguyen du tâm sự:

“đang trải qua một mớ hỗn độn

những điều khiến bạn đau lòng khi xem. ”

Chính “những điều đã thấy” đã làm cho tác phẩm của Nguyễn Du có khuynh hướng hiện thực sâu sắc, trong khi “nỗi đau lòng” đã khiến Nguyễn Du trở thành một nhà thơ nhân đạo kiệt xuất.

nguyễn du là một nhà thơ “trong lao động, mở rộng tâm hồn để đón nhận mọi ồn ào náo nhiệt của cuộc đời” (nam cao). thơ chữ Hán của thanh hiền giống như nhật ký của cuộc đời, nhật ký của tâm hồn. thế nào là cuộc sống lây nhiễm, bệnh tật, đến thực tế lịch sử … đều được nguyễn du ghi lại một cách chân thực (đêm thu: thản nhiên làm thơ; ngồi …). nguyễn du chỉ ra sự đối lập giàu nghèo ở sở xây dựng hay giả thái bình ca buôn bán … nguyễn du phản đối việc gọi vong hồn cụ Nguyễn về với xứ sở bình dị vì “cát bụi của đất nước là sai cho dân. quần áo. côn trùng “nanh vuốt”, “độc dược”, “xé thịt người ngọt ngào nhai” … đất nước của huyền bí hay đất nước Việt của nhân tố cũng chỉ là hiện thực: ác gầm khắp nơi, người tốt không có chỗ đứng. Truyện Kiều mượn bối cảnh của triều đại Ming (Trung Quốc), nhưng trên hết nó là một bản cáo trạng mạnh mẽ ghi lại những “điều đã thấy” của Nguyễn Du về thời đại mà nhà thơ đang sống. chất hiện thực trong sáng tác của nguyễn du.

Tác phẩm của nguyễn du mang tư tưởng nhân đạo, hơn hết là sự quan tâm sâu sắc đến thân phận con người. Truyện Kiều không chỉ là lời buộc tội mà còn là khúc ca về tình yêu tự do trong sáng, ước mơ về tự do và công lý. nhưng toàn bộ câu chuyện hầu hết là tiếng khóc xé lòng cho thân phận và nhân phẩm của con người đang bị chà đạp, đặc biệt là phụ nữ.

“nỗi đau cho phụ nữ

từ xui xẻo cũng là một từ phổ biến ”

Không chỉ riêng truyện kiều mà hầu hết các sáng tác của nguyễn du đều chứa đầy những nỗi niềm, day dứt: từ đọc tiểu thanh cho đến ca dao đất long thành, từ việc chạm kiến ​​đến viết chữ thập của họ. Nguyễn Du thậm chí còn vượt qua cả những cột mốc biên giới, vượt qua ranh giới giữa ta và địch, thậm chí vượt cả âm dương cách biệt để lấy lòng tiếc thương những người chết trận, phơi “xương trắng” nơi “cửa quỷ”.

không chỉ ngậm ngùi, nguyễn du còn biết trân trọng, ngợi ca cái đẹp, với khát vọng sống, khát vọng tình yêu hạnh phúc. Tư duy nhân đạo của Nguyễn Du đã khắc phục một số hạn chế của hệ tư tưởng, tôn giáo phong kiến ​​để khẳng định lòng tự trọng của con người. đó là tư tưởng sâu sắc nhất mà ông mang đến cho nền văn học Việt Nam vào thời đại của mình.

nguyen du đã có những đóng góp to lớn về tư tưởng và cả những đóng góp quan trọng về nghệ thuật.

Thơ chữ Hán của nguyễn du giản dị mà tinh tế và tài hoa. Thơ văn của nguyễn du thật sự là một đỉnh cao chói lọi. Nguyễn du đã sử dụng nhuần nhuyễn hai thể thơ dân tộc: thơ lục bát (truyện kiều) và song thất lục bát (văn tế thập loại chúng sinh). của nguyễn du, thơ lục bát và bài song thất lục bát đã đạt đến mức hoàn mỹ, mẫu mực và kinh điển.

Nguyễn Du đã có đóng góp to lớn và rất quan trọng vào sự phát triển giàu đẹp của ngôn ngữ văn học Việt Nam: tỷ lệ từ ngữ trong tiếng Việt giảm đáng kể, câu thơ tiếng Việt thông tục, thanh thoát, đẹp đẽ nhờ vần điệu gọn gàng, ngắt nhịp đa dạng, đồ thị con phong phú và biến đổi. Thơ văn Nguyễn Du xứng đáng là đỉnh cao của văn học trung đại Việt Nam. đặc biệt, truyện Kiều của Nguyễn Du là một “chuyện lớn” về chữ quốc ngữ.

Tôi xin mượn lời của nhà thơ trong bộ ba cùng thành tố để thay cho lời kết:

“bài thơ của ai đã làm rung chuyển bầu trời

âm thanh như nước vang lên hàng ngàn từ

một ngàn năm sau, nhớ nguyen du

tình yêu như lời ru của mẹ bao ngày tháng ”.

bài văn mẫu 4: bài văn mẫu về Trạng nguyên và truyện Kiều.

nhắc đến đại thi hào Nguyễn Du, chúng ta không thể không nhớ đến thiên cổ ký “truyện kiều”. ở đó hội tụ tất cả tài năng, tấm lòng và tầm vóc của nhà thơ. những giá trị đích thực của tác phẩm vẫn bất diệt với nền văn học Việt Nam.

bảng tính

nhà phê bình hoai thanh đã từng nhận xét về tác giả nguyen du và “truyện kiều”: “tuy nguyen du tạo ra nhân vật yêu kiều, nhưng yêu kiều là có thật đối với nguyên du, nhưng nguyên du từ lâu đã sống trong tâm hồn. Tình yêu đã hòa vào kiều như một ”, giúp ta thấy được kiệt tác“ truyện kiều ”ghi dấu tâm huyết và tài năng của nhà thơ.

biệt hiệu của đại thi hào nguyễn du là thanh hiền, tên chữ như một nguyên tố. ông xuất thân trong một gia đình quý tộc lớn, giàu truyền thống khoa bảng. cơn lốc lịch sử đã đánh sập tòa tháp tím và đẩy anh vào một cuộc sống bất ổn, bị đày ải suốt mười lăm năm. cuộc sống đó đã bóp nghẹt những lý tưởng kiên định khiến anh sống cuộc sống như những người bình thường. một người thanh liêm, sống trong thanh liêm, coi thường bọn quan lại chỉ lo vinh hoa, phú quý mà không màng đến dân, nước, nay lại là người trực tiếp chứng kiến ​​nỗi thống khổ của nhân dân nên ông rất có tâm. đời sống. vương quốc những đòn đời khiến nhà thơ đồng cảm sâu sắc với mọi kiếp người tha hương, tạo nên chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm “truyện kiều” sau này. kiến thức uyên bác là cơ sở để kiệt tác “Truyện Kiều” trở thành viên ngọc sáng trong nền văn học Việt Nam về giá trị nghệ thuật.

mộng liên du cho rằng: “những câu chữ miêu tả như có máu chảy ở đầu bút, nước mắt thấm xuống trang giấy, khiến ai đọc được cũng phải trầm ngâm, thương tâm, đau đớn như đứt ruột”. ban đầu tác phẩm có nhan đề là “Đoạn trường tân thanh”, nhưng người ta gọi là “truyện kí”. lịch sử thơ ca lấy nội dung từ tiểu thuyết “kim văn kiều truyện” nhưng những sáng tạo của đại thi hào. Câu chuyện kể về mười lăm năm lưu lạc và tủi nhục của một người nước ngoài, sau khi trở thành người của gia đình, bán mình để chuộc cha và em trai. Chủ nghĩa nhân đạo cao cả của Nguyễn Du đã biến một câu chuyện tình đau thương thành một khúc tráng ca, với những điều xui xẻo, nhưng những gì mắt thấy, tai nghe trong xã hội thời bấy giờ cũng đi vào trang viết của nhà thơ. “truyện kí” ca ngợi tình yêu tự do và ước mơ công lí. Tình yêu của Kim Kiều dám vượt qua những giới hạn của lễ giáo phong kiến ​​khắt khe để cùng thề thốt, rung động đầu đời trong sáng, chân thành, không vụ lợi. kieu’s image:

“xăm qua lối đi trong vườn một mình”

chúng tôi cũng rất ngạc nhiên bởi nguyen du đã nuôi dưỡng tinh thần chủ động đó. Giữa căn phòng trần gian, nhà thơ khắc họa nhân vật Hai không chỉ thể hiện khát vọng công bằng xã hội, mà nhân vật này phần nào phản ánh lí tưởng sống bị tù đày của nhà thơ. Từ Hải là một ngôi sao sáng qua cuộc đời ở nước ngoài, giúp cô thực hiện những cuộc trả thù, báo thù thích đáng. đọc “truyện kiều” như vang lên những tiếng kêu đau đớn cho thân phận con người. nguyen du đã từng nói:

XEM THÊM:  Văn hóa của màn kết truyện Kiều , Người xứ Nghệ Kiev

“Người kim cổ ghét các vấn đề tự nhiên

may rủi để tự chiếm đoạt ”

người ta quan niệm: “chữ tài đi liền với chữ tài” nên phim xoay quanh cuộc đời của một cô gái tài sắc nhưng luôn phải chịu nhiều sóng gió. liêu trai khóc thương cho mối tình kim kiều “đứt gánh tình duyên”, người bạn tâm giao của bạn hai và người phụ nữ ở nước ngoài. Nước mắt cay đắng nói lên khi nhân phẩm bị chà đạp, thân thể con người bị đánh đập dã man. sâu xa hơn là tiếng khóc vang lên đòi quyền sống cho các dân tộc trước nỗi đau của thế giới. nguyễn đình thi nhận xét: “lịch sử” là một thanh sắt đánh thẳng vào sự bất công, độc ác và dối trá … “, có thể coi là lời tố cáo mạnh mẽ vạch trần sự tha hóa, băng hoại của xã hội bấy giờ. bẩn thỉu, bị chi phối bởi thế lực tiền bạc của những kẻ bán tơ, buôn người như tú bà, bạc mệnh, bạc mệnh, quan chấp chính … tên những kẻ chà đạp lên quyền sống của con người.

“Truyện Kiều” có sức sống lâu bền nhờ những giá trị nghệ thuật đặc sắc. Với trình độ học vấn sâu sắc của mình, Nguyễn Du đã xây dựng thành công một nhân vật sống động và cá tính. Cô gái ngoại quốc không phải là một nhân vật minh họa, nhưng cô ấy có một đời sống nội tâm, và những lý tưởng cao đẹp của Từ Hải cũng được khắc ghi. Với thể thơ lục bát truyền thống, đại thi hào đã biến một cuốn tiểu thuyết thành một bài thơ trang nhã và cổ điển. điểm nhìn trần thuật của tác giả cũng thay đổi linh hoạt, đưa vào từng nhân vật khiến tác phẩm không bị khô cứng. ngôn ngữ của “truyện kiều” có sự pha trộn nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ hàn lâm và dân gian, tạo nên tính biểu cảm và rõ ràng.

Nói đến đại thi hào Nguyễn Du, chúng ta không thể không liên tưởng đến cây bút cổ tích “Truyện Kiều”. ở đó hội tụ tất cả tài năng, tấm lòng và tầm vóc của nhà thơ. những giá trị đích thực của tác phẩm vẫn bất diệt với nền văn học Việt Nam.

văn mẫu số 5: bài văn thuyết minh về nguyễn du và lịch sử xứ kiều.

Về nghệ thuật, có thể nói lối viết ngụ ngôn, tâm lí nhân vật, nghệ thuật trần thuật, … đã đạt đến đỉnh cao. Với lối viết của một nghệ sĩ thiên tài, chữ Việt trong Truyện Kiều đã đạt đến sự giàu đẹp. vì vậy, nhiều câu thơ đã trở thành mẫu mực được nhiều nhà thơ học tập và được nhiều độc giả yêu thích.

bảng tính

“Cuộc sống tươi đẹp hơn trước gấp trăm lần

lật trang ra nước ngoài vẫn còn nguyên cảm xúc thơ mộng

những vần thơ sống mãi với non sông đất nước

trong tương lai bất kể khi nào ”

(viếng mộ nguyễn du – hoàng trung thông)

Trong nền văn học Việt Nam, Nguyễn Du được coi là một trong những ngôi sao sáng nhất. Bằng ngòi bút tài hoa, trái tim đa cảm và đôi mắt “nhìn thấu sáu phương”, ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương vô giá, tiêu biểu nhất là Truyện Kiều, một kiệt tác của nền văn học Việt Nam.

Nguyên du (1766 – 1820), hiệu là phần tử, bí danh là thanh hiền, quê ở làng Tiền Điện, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông xuất thân trong một gia đình đại quý tộc nổi tiếng khoa bảng, nhiều người đỗ đạt cao, làm quan lớn trong triều. Vì vậy, ở vùng Hồng Lĩnh (quê hương của Nguyễn Du), người ta thường truyền tụng câu ca dao:

“Mỗi ngày sẽ trở nên cay đắng

sông rum cạn nước, dòng họ này hết quyền ”

Ngoài ra, dòng họ Nguyễn Du còn có truyền thống văn học nghệ thuật lâu đời. ông nội là Nguyễn Quynh, một nhà triết học chuyên nghiên cứu về kinh. Thân sinh là Nguyễn Nghiễm, nhà sử học, nhà thơ, tể tướng thời Lê sơ. Thân mẫu là Trần Thị Tần (vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm), một người đẹp, tài hoa, hát hay, quê gốc ở làng Quan họ Bắc Ninh. Chính vì vậy mà ngay từ khi còn nhỏ, Nguyễn Du đã đắm chìm trong ca dao Bắc Bộ. Nguyễn Khản, anh cùng cha khác mẹ của Nguyễn Du, giữ một chức vụ quan trọng trong phủ trinh. ông giỏi thơ cổ điển, thích làm nhạc, và thành thạo nghệ thuật xây dựng và trang trí. Do có niềm đam mê đặc biệt với ca hát, nên ở Phủ Nguyên Khẩn, một gánh hát người Dao ngày đêm luôn có các ca sĩ hát bội. Có lẽ từ đây, hình ảnh cô gái điếm xinh đẹp, tài năng nhưng kém may mắn đã trở thành chân dung khắc sâu trong tâm trí Nguyễn Du.

Nguyên hanh, nguyễn thiển, cháu của nguyễn du cũng là những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng thời bấy giờ. trong “ngũ đại an nam” được ca tụng thời bấy giờ, nguyễn du và nguyễn thành là hai cái tên xuất hiện trong đó.

nguyễn du là người thông minh, học rộng, hiểu nhiều, nhưng cuộc đời nhiều biến cố. Từ khi sinh ra đến khi mười tuổi sống tốt với gia đình, đến năm mười một tuổi thì cha mất, sau đó hai năm mẹ mất, cuộc sống bắt đầu khốn khó, lục đục khắp nơi: có lúc tại ông. nhà anh trai. quê hương là nguyễn khánh, có khi thì tin tưởng anh rể là doan nguyễn tuấn, có khi thì nhận làm con nuôi gia đình quan lại.

Sống và lớn lên trong một thời kỳ thay đổi của lịch sử và xã hội, người thanh niên Nguyễn Du dù có tài năng nhưng vẫn bị cuốn vào “vòng xoáy của tạo hóa”. khi làn sóng tay sơn bùng nổ, vì tư tưởng trung quân, ông đã lui về ở ẩn sau khi kháng chiến không thành. Khi triều Nguyễn được thành lập, Nguyễn Du làm quan, nhưng lòng vẫn day dứt, trăn trở về cuộc đời và “việc gì thấy đó”.

Nguyễn Du mất ngày 10 tháng 8 âm lịch (16 tháng 9 âm lịch năm – 1820).

nguyễn du là một người tài hoa, uyên bác, am hiểu Nho giáo cũng như Phật giáo và Đạo giáo. điều đó được thể hiện rõ ràng trong các sáng tác văn học và thơ ca của ông bằng cả chữ Hán và chữ Nôm.

trong suốt cuộc đời cầm bút của mình, tuy để lại một số tác phẩm văn học không nhiều nhưng mỗi tác phẩm, nguyễn du cũng để lại một dấu ấn đặc biệt trong lòng người đọc. về chữ Hán, ông có ba tập thơ: thanh hiền thi tập, nam trung tâm tạp, bắc hành tạp lục (những ghi chép khác nhau trong chuyến hành trình về phương Bắc). Về phần kịch bản, các tác phẩm tiêu biểu nhất bao gồm: trượng tân thanh (tên truyện kiều do quần chúng đặt cho tác phẩm), hồn chiêu (văn của mười hạng chúng sinh). , nghĩa nữ nhi hiến tế, thác nước, lời con, …

truyen kieu (danh: 傳 翹), tên gốc là doan truong tan thanh (Hán văn: 斷腸 新 聲), là một bài thơ kinh điển trong văn học Việt Nam, được viết bằng thể thơ lục bát của văn học Việt Nam. Nguyên du, gồm 3254 câu, dựa theo tiểu thuyết kim văn kiều truyện của thanh tam tài tử, Trung Quốc.

Nội dung truyện được chia thành ba phần: gặp gỡ và hứa hôn, cải tà quy chính, đoàn tụ.

Thủy kiều là một người con gái tài sắc vẹn toàn, con gái đầu lòng của một gia đình trung lưu lương thiện. Trong một lần đi chơi xuân, Thúy Kiều gặp Kim Trọng, một chàng thư sinh có “nhân hậu”. giữa hai người nảy nở một tình yêu đẹp, sau đó hai người đính hôn.

Khi Kim trong trở về quê dự đám tang của chú mình, gia đình Thủy kiều đã bị kết tội bán lụa một cách oan uổng. Chàng quyết bán mình thanh mai trúc mã đòi tiền chuộc vua cha, yêu cầu Thuý Vân đền tội cho Kim Trọng. thủy kiều bị mã sinh, tu ba, sở khanh lừa gạt, đẩy xuống lầu xanh. sau đó cô dâu được người chú chuộc về nhưng vợ của cô cô là người độc ác và hay ghen, cô dâu bị dày vò cả về thể xác lẫn tinh thần. Việt kiều về nương náu trong sự giác ngộ của sư thầy nơi cửa Phật. cảm giác gửi cho cô, anh không mong đợi cô “học với bạn cùng trang lứa”. vì bị hồ ly lừa, de hai bị giết chết, thủy chung bị ép lấy quýt. Thúy Kiều đau đớn chết đuối trên sông Tiền Đường và được nhà sư cứu giúp lần thứ hai. lần thứ hai kiều bào nương nhờ cửa phật.

Kim trong sau nửa năm để tang, chú của anh trở về và tìm thấy một người Việt ở nước ngoài, biết rằng anh đã bán mình để cứu cha mình, đau đớn không thể chịu đựng được. Theo lời khuyên của Kiều, cha mẹ Kiều đã cho Thúy Vân lấy Kim Trọng. Dù đã kết duyên với Thúy Vân nhưng Kim Trọng vẫn gắn bó ân tình với Kiều, sau bao lần tìm kiếm, hỏi han khắp nơi, cuối cùng mọi người cũng gặp được Thúy Kiều, gia đình hải ngoại được đoàn tụ. ngày thống nhất, thủy chung nói muốn kim kiều đoàn tụ, nhưng kiều muốn “sắt son đổi tình đổi lấy lá cờ”. Cuối cùng, cả hai đều ước rằng “tình yêu đôi lứa cũng là duyên phận của những người bạn”.

Truyện Kiều được coi là một trong những tác phẩm hay nhất của văn học trung đại Việt Nam. giá trị của tác phẩm được thể hiện cả ở nội dung và phương diện nghệ thuật.

Về nội dung, tác phẩm mang tính hiện thực và nhân văn sâu sắc. Truyện Kiều đã vẽ nên một bức tranh chân thực và sống động về một xã hội đương đại, nơi mà đồng tiền và nhân phẩm bị chà đạp lên.

Hơn nữa, truyện Kiều còn mang đậm giá trị nhân đạo khi lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo đã chà đạp lên quyền sống của con người. Từ một tiểu thư khuê các, Kiều trở thành món hàng để thiên hạ mua bán, rồi hai lần rơi xuống lầu xanh. cuộc đời thủy chung là một bản cáo trạng mạnh mẽ tố cáo xã hội phong kiến ​​vô nhân đạo đã đẩy con người, đặc biệt là người phụ nữ đến bước đường cùng. tuy nhiên, trong hình ảnh hiện thực đen tối ấy, vẻ đẹp của nhân cách con người vẫn tỏa sáng rực rỡ. chàng là thuỷ chung “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, chàng là người trung thành, thủy chung, chàng hiệp sĩ của biển cả, …. thông qua câu chuyện và các nhân vật của mình, nguyễn du gửi gắm khát vọng hạnh phúc của mình. , khát vọng tự do của chính mình. mặt khác truyện kiều còn thể hiện sự đồng cảm, xót thương của tác giả đối với số phận con người, nhất là những người phụ nữ trong xã hội đương thời.

Về nghệ thuật, có thể nói lối viết ngụ ngôn, miêu tả tâm lí nhân vật, nghệ thuật trần thuật, … đã đạt đến đỉnh cao. Với lối viết của một nghệ sĩ thiên tài, chữ Việt trong Truyện Kiều đã đạt đến sự giàu đẹp. vì vậy, nhiều câu thơ đã trở thành mẫu mực được nhiều nhà thơ học tập và được nhiều độc giả yêu thích.

Từ mấy trăm năm nay, truyện kiều luôn tồn tại trong đời sống của người Việt, một số nhân vật trong truyện đã trở thành điển hình như: Sở, tửu, … bình về truyện nguyễn du và truyện kiều, tác giả của mộng liên hoa trong lời tựa truyện đam mỹ đã viết: “tả như máu chảy ở đầu bút, nước mắt thấm vào trang giấy, khiến ai đọc cũng phải mê mẩn, cảm động.” tội nghiệp, những yếu tố đau đớn quằn quại như dùng trái tim đã khổ rồi, cách kể khéo léo, tả cảnh cũng vậy, trò chuyện thành lập, nếu không có con mắt nhìn thấu sáu giới, một tấm lòng biết nghĩ cho. ngàn đời không thể có được như vậy một cây bút. ”

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Thuyết minh về Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều. | baivan.net. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *