Trường phái phê bình mới: xưa và nay (2)


Willingham, John R.

Trong bài tựa của chương 1, “Các tình huống kịch tính”, các tác giả phân biệt giữa việc xử lý kinh nghiệm của con người mang tính cách thời sự hoặc lich sử với “hình thức” mà chỉ có thi ca mới có thể ban tặng. Sự phân biệt này củng cố và làm sáng tỏ sự tương phản giữa thi ca và khoa học mà Ransom coi trọng trong những năm đầu của thời nhóm The Fugitives. Brooks và Warren tranh luận rằng “hình thức có vai trò nhiều hơn là ‘chỉ chứa đựng’ chất liệu thi ca: hình thức tổ chức chất liệu; hình thức tạo hình cho chất liệu; hình thức xác định vai trò chất liệu”. Quả vậy, cả hệ thống phê bình của họ trở thành một phần mở rộng của quan niệm trung tâm về “hình thức” thấm đẫm tác phẩm Understanding Poetry.

Brooks và Warren giao trọng trách đọc và diễn giải kỹ lưỡng tác phẩm trực tiếp lên vai sinh viên, buộc họ vật lộn với công việc phê bình để tiến tới nắm được toàn bộ các đặc điểm kỹ thuật bằng hình thức – “ý tưởng chủ đạo của tính thống nhất to lớn của một bài thơ hay”. Các nhà-thơ-tác-giả-phê-bình-sư-phạm cẩn thận đặt ra các vấn đề để tìm tòi quanh các bài thơ để tìm cho ra các đặc thù của thi ca – ngôn ngữ loại suy (ẩn dụ và hình tượng), chủ điểm, sắc thái, cấu trúc về cảm xúc, v.v…; kèm theo là phụ lục sách có mối quan tâm đến “ý đồ” và vận luật của nhà thơ (ở đây không quan trọng mấy như trong lý thuyết của Ransom). Xuyên suốt quyển sách xuất hiện các ví dụ ngắn gọn về thể loại phê bình phân tích, càng lúc càng phức tạp hơn cần có ở sinh viên. Understanding Poetry là một cẩm nang khác mang tính chất Mỹ; và bằng cách nhấn mạnh nhu cầu đối với sinh viên là cuối cùng không còn phụ thuộc vào sách và giáo viên, Brooks và Warren đưa ra rất nhiều bài thơ không kèm theo công cụ phê bình hoặc hỗ trợ sư phạm (có lẽ đây là một hình thức công nhận nỗ lực của Richards) để làm tài liệu, buộc sinh viên hình thành nên những bài phân tích và lý giải của riêng mình. Understanding Poetry không ngừng lấy sinh viên làm trung tâm, giáo viên được giả định đóng vai trò bệnh nhân, đầy thách đố, đầy bí hiểm (như Ransom và Vanderbilt) những người gần như vô tình dẫn dắt người tập sự đến chỗ hiểu biết rồi khám phá ra hình thức.

Tác phẩm Understanding Fiction (xuất bản lần 3, 1971) luôn luôn có vẻ ít sôi nổi hơn, ít trau chuốt hơn, ít khéo léo hơn, thậm chí ít đồng bộ hơn về tính tiên quyết của hình thức hơn quyển trước. Nó là một tuyển tập thì đúng hơn; và các tác giả cũng không gì để nói nhiều về các tính chất của tiểu thuyết bằng khi nói về thi ca. Cường độ và tính chính xác của quyển sách, rõ ràng là thành công duy nhất của nó, tăng cường sự công kích rằng trường phái Phê bình mới đặt cơ sở vào loại thi pháp đầy ca từ và rằng ứng dụng của nó vào các thể loại khác như tiểu thuyết và kịch thường có vẻ khiên cưỡng. Xét cho cùng, các cơ sở mà trường phái Phê bình mới có được là nhờ các cuộc phiếm luận của các nhà thơ và những người yêu thích thi ca, mà trong số đó chỉ có 2 người – Warren và Tate – là đã có viết tiểu thuyết. Tuy nhiên, một lần nữa Brooks và Warren lại hướng dẫn sinh viên của mình (và cả giáo viên của mình) khám phá tác phẩm văn học có nghĩa gì bằng các câu hỏi và các buổi thảo luận nhỏ. Có lẽ điều chứng thực mạnh mẽ nhất cho quyển Understanding Fiction là số giáo trình vô tận sau đó của những người khác biên soạn để giới thiệu cho sinh viên năm I và năm II. Thêm vào đó, những tác phẩm mô phỏng từ ban đầu đến từ các môn đồ nhiệt thành của trường phái Phê bình mới – ví dụ: The Art of modern Fiction (1949) của Robert Wooster Stallman – và từ những người bạn cũ – ví dụ The House of Fiction (1950) của Caroline Tate cùng viết với người chồng của bà lúc bấy giờ, Allen Tate.

Với 2 giáo trình thành công của mình (tiếp theo đó là việc Brooks và Robert B. Heilman hợp tác viết Understanding Drama năm 1948), Brooks và Warren đã biến phê bình thành một điều tự nhiên trên giảng đường, một chiến công ấn tượng đầy viễn cảnh và chưa từng có ở Mỹ. Họ đã tạo ra và hoàn chỉnh một phương pháp tiếp cận văn học hoàn toàn mới mẻ, phân tích hợp lý về mặt sư phạm, hấp dẫn, thực tế, sáng tạo, và đạt mức độ to lớn về tự nghiên cứu. Họ đã làm cho trường phái Phê bình mới trở nên nổi tiếng vào khoảng năm 1940, và họ làm cho việc phân tích đầy trách nhiệm, đầy công phu các tác phẩm văn học trở thành đặc điểm trung tâm của việc nghiên cứu tiếng Anh ở tất cả các năm ở cấp độ đại học. Và họ đã khởi xướng được một ngành học phát triển mạnh về nghiên cứu văn học mà riêng các hội và báo chí học thuật chưa bao giờ làm được.

Vào khoảng giữa thập kỷ 1940, khi binh sĩ rời Chiến tranh thế giới lần 2 trở về tràn ngập các trường đại học và ghi danh vào các khóa nghiên cứu văn học, thì các giảng viên tiếng Anh trẻ tuổi (nhiều người cũng là cựu chiến binh) nhiệt thành xúc tiến và sử dụng các giáo trình của Brooks và Warren cũng như của những người khác cùng trào lưu vào việc phân tích văn học mà họ ủng hộ. Các tạp chí mới xuất bản hàng quý nhiệt thành ủng hộ trường phái Phê bình mới đồng loạt ra đời. Tại Baton Rouge, Brooks và Warren cùng biên tập tờ Southern Review mới mẻ, ra đời năm 1936; Ransom lập ra và biên tập tờ Kenyon Review(1939); còn các tạp chí đã có như Sewanee ReviewSouth Atlantic Qaurterly, và Virginia Quarterly Review đều hoan nghênh tất cả những nhà Phê bình mới cộng tác với mình. Vào năm 1940, hai tờ Southern Review và Kenyon Reviewcùng lập một tạp chí chuyên đề về cuộc cách mạng về phê bình và phương pháp giảng dạy phê bình văn học.

Những lớp hè đặc biệt dạy môn tiếng Anh đã quảng bá các nguyên tắc và phương pháp luận phê bình của nhóm Phê bình mới Miền Nam cho giáo viên và sinh viên đến từ khắp nơi trên nước Mỹ. Sau năm 1945, số người ghi danh vào các khóa học tiếng Anh tăng lên nhanh và sự suy thoái của nền “học thuật” thực chứng – ngữ văn, tiểu sử văn học, sử học, và tìm tòi ảnh hưởng – đã trở thành hỗn độn vào cuối thập kỷ 40. Phê bình, nay không chỉ thống trị trong lớp học mà còn ngày càng thách đố nền học thuật truyền thống, đã sớm xâm nhập vào các tờ báo bảo thủ như PMLAModern Philology và American Literature. Trường phái Phê bình mới đấu tranh với ngữ văn và lịch sử và thường chiến thắng tại các cuộc hội thảo khu vực và quốc gia của các hội học thuật.

Vào những năm 1940, Cleanth Brooks có vẻ là nhân vật tinh hoa của trường phái Phê bình mới, như ngay cả chính ông đã không hài lòng lắm khi công nhận trong một bài viết gần đây (iii). Bên cạnh việc hợp tác viết giáo trình, cùng biên tập tờ Southern Review, viết bài cho các tạp chí xuất bản hàng quý khác, và ngày càng đóng vai trò người phát ngôn của trường phái Phê bình mới tại các cuộc hội thảo chuyên môn và học thuật, Brooks viết 2 văn bản tuyên ngôn cho lối thi pháp mới, đã được đề cập đến là Modern Poetry and the Tradition (1939) và The Well-Wrought Urn (1947). Trong bài trước, ông nóng lòng nối kết bạn bè cũ, nhóm các nhà thơ The Fugitives, với tác phẩm của Richards và Eliot và “truyền thống vĩ đại” của thi ca Anh, và đẩy mạnh cái mà Frank Lentricchia nhận diện là “một lý thuyết duy tâm về văn học sử qua khái niệm của Eliot về ‘tính nhạy cảm thống nhất’.” (10) Các chương sách phát triển và tổng hợp không chỉ những ý tưởng của Brooks mà còn của những người khác mà ông đã tiếp nhận được từ thời còn là sinh viên tại Vanderbilt (tức là từ năm 1925): từ Ransom, ông tiếp nhận cái nhìn về thi ca như là một loại ngôn ngữ phức tạp về kinh nghiệm đầy phức tạp, sự phân biệt giữa khoa học trừu tượng và thi ca cụ thể, và sự châm biếm như một tư thế không thể thiếu; ở Tate, ông tiếp thu thái độ khẳng định đầy tính chất Poesque về sự khéo léo tinh vi và coi khinh phép phúng dụ; và ở Eliot, ông học được các khả năng biểu cảm của ca từ, tính phi cá tính của nhà thơ, và sự dí dỏm như là điều bảo chứng cho tính nghiêm túc (11). Về sau Tate đã phát biểu đầy thán phục về thành tựu đáng kể của Brooks khi viết nên cuốn sách đó. Ông nói quyển sách đó là một sự tổng hợp đáng ngạc nhiên nhưng đầy thuyết phục cả 4 người: Eliot, Richards, Ransom, và bản thân mình, Tate, mà không ai tưởng là có thể làm được và chỉ có Brooks mới thành công (12). Bradbury đã gọi quyển sách là “không thể thiếu được để am hiểu các biện pháp và phương tiện của phê bình theo trường phái hình thức.”(13) Một nửa thế kỷ sau, quyển sách vẫn tạo ấn tượng là một công trình nghiên cứu tốt, và nếu người ta phải chọn trong số các tác phẩm phê bình của nhóm Phê bình mới, thì quyển sách đó là sự phô bày có dáng vẻ nhất của trường phái phê bình có tầm ảnh hưởng lớn vào thế kỷ này của Hoa Kỳ.

Vào năm 1942, khi quay sang viết quyển The Well Wrought Urn (1947), thì Brooks không còn là một người mới đi theo nhóm The Fugitives của Nashville và của nhóm The Agrarians nhưng ông là một nhân tố hệ thống, nhiệt tình, toàn diện của trường phái Phê bình mới. Vị trí của ông, hơi kỳ lạ và cũng hơi có vẻ châm chọc khi không được Ransom ghi nhận trong quyển The New Criticism, trở thành điều có lợi khi, vì cho phép ông tách rời phiên bản chiến lược Phê bình mới của mình với phiên bản của Ransom. Rõ ràng trong quyển The Well Wrought Urn, Brooks có vẻ thoát khỏi sự đòi hỏi của Ransom về “bản thể” của bài thơ, tính hai mặt của cấu trúc và bố cục, hoặc sự trên trước của Donne đối với Shakespeare. Trong khi tối thiểu hóa cái mà Ransom gọi là “tính thống nhất logic” (và cái mà Yvor Winters đã gọi là “ý nghĩa hợp lý”), Brooks nhấn mạnh đến “tính thống nhất tưởng tượng” và cảnh báo về “tính dị giáo trong diễn giải”. Tiêu biểu là ông nhấn mạnh rằng “ngôn ngữ nghịch lý” rõ ràng có xuất hiện trong loại thi ca chín chắn như là phương tiện qua đó một bài thơ đạt được tính thống nhất về cấu trúc (14). Có lẽ nhạy cảm đối với lời công kích rằng các nhà Phê bình mới thờ ơ với hoặc không biết về văn học sử, nên Brooks đã đầu tư công sức cho tác phẩm thứ hai này bằng cách đưa vào các nhà thơ tiêu biểu của từng thời kỳ văn học kể từ thời Trung Cổ như Shakespeare, Milton, Herrick, Pope, Gray, Wordsworth, Keats, Tennyson và Yeats. Mỗi bài thơ ông đem ra xét đều “thành công”, bởi vì phân tích của Brooks rõ ràng là đã tìm ra được tính chất châm biếm, nghịch lý, sự mơ hồ, bối cảnh kịch, và cấu trúc hữu cơ. Ông khẳng định rằng tính thống nhất về cấu trúc nằm ở “sự hợp nhất về thái độ thành một trật tự lớp lang, phụ thuộc vào một thái độ tổng thể và chủ đạo.” (15) Do đó, “thái độ” trở thành yếu tố điểm nhấn đối với tất cả các tính chất khác, là yếu tố tương đương với hình thức, trong việc trình bày đầy tài năng của ông về bối cảnh kịch trong bài Ode on a Grecian Urn của Keats.

Mặc dù với quyển The Well Wrought Urn, lý thuyết Phê bình mới xem như đã hoàn chỉnh, Brooks đã quay sang thiên một cách rõ ràng hơn về văn học sử trong cuốn sách The Poems of Mr. John Milton (1951), do ông và Edward Hardy biên tập và viết lời bình cho từng bài thơ một. Có lẽ là do thận trọng, tác phẩm này rõ ràng là không có các đối thủ chú ý tới. Các đối thủ này vốn hăm hở công kích là giới Phê bình mới không am hiểu về văn học sử nên không thể xử lý vấn đề “học thuật”. Sau đó Brooks chứng minh sự tôn trọng và sự am hiểu của mình về văn học sử với quyển Literary Criticism (1957), cùng viết với William K. Winsart; trong 2 đầu sách của mình viết về Faulkner năm 1963 và 1978, và trong ấn bản nhiều tập các bức thư của Thomas Percy. Việc sử dụng nền học thuật truyền thống đó chỉ làm ngạc nhiên những người không thấy được chiều sâu của những gì các nhà Phê bình mới viết ra hoặc những người chỉ biết đến công trình của các môn đồ ít nổi tiếng hơn. Cả nhóm Nashville đã nghiên cứu văn học sử một cách cật lực và thấu đáo và từ đó đã củng cố thêm các bài phê bình của mình bằng các chi tiết văn học sử khi nào họ muốn; họ chỉ phản đối việc chiếm lĩnh hết cả văn bản bằng văn học sử và việc lấy văn học sử thay thế cho việc đọc kỹ và phân tích sâu.

Trong suốt thời kỳ thống trị kéo dài của trường phái Phê bình mới, ít nhất đối với những người “quan sát” Phê bình mới, Ransom là tiếng nói bảo thủ, nếu không phải luôn là người phát ngôn được ưa chuộng. Hai nhân vật khác của thời kỳ Fugitive – Warren và Tate – càng ngày càng gióng lên tiếng nói của mình. Trong thập kỷ 1930, Warren viết hai bài tiểu luận về các nhà thơ miền Nam: một bài về khả năng châm biếm của Ransom; bài kia so sánh thơ của John Gould Fletcher với Davidson và Ransom. Warren cho rằng Fletcher, một người miền Nam nhưng cũng là người theo chủ nghĩa hình tượng của Amy Lowell, đã viết loại thơ thấp kém vì thiếu đi kỹ thuật châm biếm và do đó không đưa được “cấu trúc” đến cảm xúc nên viết ra một loại thơ “gần như thuần túy là bố cục”. (16) Còn Davidson, tuy không phải là nhà thơ “châm biếm”, đã tạo được hiệu quả “khích động và tuyệt vọng”, nên từ đó phải được xếp vào loại “toan tính châm biếm”. Nhưng thơ của Ransom thành công vì sự bảo đảm về kỹ thuật của mình – như chúng ta có thể dự kiến, nhờ vào kỹ năng châm biếm của mình (17). Sự ưa chuộng châm biến của thời kỳ Fugitive cũ đã trở thành nguyên tắc chủ yếu của trường phái Phê bình mới.

Vào những năm 1940, trong một tiểu luận đối chiếu “thi ca thuần túy” (loại thi ca cố gắng thuần túy bằng cách loại trừ đi, ít nhiều nghiêm khắc, một số yếu tố có thể xác định hoặc phủ định các ý đồ ban đầu) với “thi ca không thuần túy” (loại thi ca cố tình phức tạp hóa bối cảnh bằng cả lĩnh vực kinh nghiệm đầy phức tạp của con người, từ đó dễ gợi ra sự châm biếm), Warren, cũng giống như Brooks trước đó, và nhóm The Fugitives trước Brooks, đã biểu lộ sự tán thành nhiệt tâm của mình với trào lưu Phê bình mới rằng châm biếm là vật bảo chứng tốt nhất cho sự thành thật và tầm nhìn (18). Mãi về sau, Warren cũng đã tỏ ra phần nào nôn nóng chứng minh năng lực của mình về học thuật quy ước; từ đó bài viết dài của ông đính kèm một đợt ấn bản của quyển The Rime of the Ancient Mariner, được Alexander Calder minh họa(19). Tán dương The Rime là “một bài thơ đầy trí tưởng tượng thuần túy”, Warren đã khảo sát tất cả các chi tiết học thuật có trên bài thơ để chứng minh nó đã bị người ta lý giải nhầm là thiếu “ý nghĩa” hoặc tệ hơn là biểu hiện phúng dụ; tuy nhiên, ông lý luận rằng bài thơ “hoàn toàn phù hợp với các quan điểm thần học và triết học cơ bản của Coleridge như được trao cho chúng ta bằng dòng văn xuôi chững chạc, và rằng, không tính đến vấn đề tự giác ở phần nhà thơ ở bất kỳ thời điểm nào, nên chủ đề là ‘có ý đồ’(20). Được trang bị bằng công cụ học thuật hoàn hảo, thậm chí tuyệt vời – các ghi chép về cuộc đời của Coleridge và rất nhiều nguồn tham khảo về quy tắc của Coleridge – Warren đã mở ra một cuộc phân tích chi tiết về hệ thống hình tượng của bài thơ để củng cố phát hiện của mình rằng hành trình của Mariner, không hề mang tính phúng dụ hay vô nghĩa như các học giả không biết gì về Phê bình mới lý giải, thực ra là một “quá trình nghịch lý” được tổ chức chặt chẽ, phong phú của kinh nghiệm sáng tạo (21). Dĩ nhiên bài viết đó thổi bùng lên cơn giận dữ và sự nhạo báng của các “học giả” nhưng lại khiến cho các nhà Phê bình mới thấy họ không phải tự giới hạn mình vào văn bản nhưng hoàn toàn có thể dùng các nguồn “truyền thống” khi chọn cách củng cố những điều mình giải thích.

Như tôi đã từng nhấn mạnh, chính Allen Tate đã thiết lập và củng cố mối liên hệ giữa nhóm The Fugitives ở Tennessee và những người theo trường phái tân thời ở London, Paris và New York. Thơ và các bài văn xuôi khác của ông (ông viết 2 tiểu thuyết và 2 tiểu sử) được mọi người để ý vừa đủ, tuy có hạn chế; nhưng là nhà bình luận và phê bình văn học – thực tế, là nhà văn – ông rất được coi trọng. Là một nhà thơ, ông được người ta nhớ đến chủ yếu là nhờ bài Ode to the Confederate Dead mà cuối cùng ông phải giải thích một cách đầy tai tiếng. Là một nhà phê bình, ông có phần bị hạn chế do những thiên kiến mang tính địa phương và triết học của mình, như trong trường hợp ông công kích bài Bridge của Hart Crane, bài mà Tate thực sự không hiểu và là bài mà ông làm ngơ không áp dụng các nguyên tắc và phương pháp luận của trường phái Phê bình mới (ông nói rằng Crane đơn thuần là liên minh với nhóm văn học đi sai đường – Emerson, Whitman, v.v…)

Tate đã xác định một khái niệm hữu ích của trường phái Phê bình mới – cái gọi là “cao trào” trong thi ca – vốn tương tự như khái niệm của Ransom về sự đối lập giữa “cấu trúc” và “bố cục”, tương tự trọng tâm của Brooks về “nghịch lý” và “châm biếm”, và tương tự sự phân biệt của Warren giữa thi ca “thuần túy” và “không thuần túy”. Nhưng từ ngữ và việc áp dụng từ ngữ của Tate chỉ ra một cách chính xác hơn sự cân bằng đáng có giữa phần “mở rộng” của một bài thơ (tính trừu tượng, diễn giải, nghĩa đen) và “độ tăng cường” của bài thơ (cái cụ thể, hàm ý, tu từ).

Sẽ không có sự lý giải nào về trường phái Phê bình mới và sự đóng góp to lớn của nó (và tôi tin rằng còn tiếp tục) đối với sự nở rộ của nghiên cứu văn học kể từ Đệ nhị thế chiến là hoàn chỉnh nếu không nhắc đến hai sự xuất hiện muộn màng và liên minh chính, William K. Kimsatt và René Wellek, cả hai đều là đồng nghiệp của Brooks sau khi ông chuyển từ Đại học Louisiana đến Yale vào năm 1947. Lỗi lạc trong vai trò một nhà văn học sử, nhà đối chiếu so sánh, học giả và nhà phê bình của các nhà phê bình, Wellek cùng viết với Austin Warren, đã tán thành trường phái Phê bình mới trong quyển Theory of Literature (Lý luận văn học) của mình (1949) – một giáo trình cơ bản cho sinh viên tiếng Anh trong cả 2 thập kỷ – bằng việc tán dương một quan điểm “thực chất”, hoặc theo bối cảnh trong nghiên cứu văn học so với các quan điểm “không cơ hữu”, mang sắc thái tiểu sử, sử học, xã hội học hoặc tâm lý học, rõ ràng thấp kém hơn. Ở đó và tại những nơi khác, Wellek đã dùng uy tín to lớn của mình để làm rõ các thuật ngữ và các vấn đề bằng những cách rõ ràng thuận lợi cho trường phái Phê bình mới.

Cùng với Monroe C. Beardsley trong quyển The Verbal Icon (1954), Wimsatt đã giúp củng cố sự “nhân cách hóa cảm tính” và “nhân cách hóa có ý đồ”, vốn là mối quan tâm thường trực, thường là công khai, của các nhà Phê bình mới. Thêm vào đó, trong tác phẩm Literary Criticism: A Short History (1957), cùng hợp tác viết với Brooks, thì Wimsatt, người đã viết đến 25 trong số 32 chương của quyển sách, khéo léo thuyết phục độc giả chấp thuận rằng kiểu phê bình mang tính hình thức là mục đích cần thiết mà toàn bộ lý thuyết phê bình trước đó muốn nhắm đến. Ông cố gắng củng cố các quan điểm hình thức bằng cách vạch ra mối tương đồng giữa bài thơ với tính chất là sự hòa giải các điểm đối lập trong văn bản với sự hiểu biết giáo điều của Chúa.

Nguyễn Công Lý dịch từ nguyên bản tiếng Anh
The New Criticism: Then and Now của J.R.Willingham
(Còn nữa)

———————-
Chú thích:

(9) Cleanth Brooks & Robert Penn Warren, Understanding Poetry, 4th ed. (New York: Holt, Rinehart and Winston, 1976), trang 18.
(iii) Cleanth Brooks, In Search of the New Criticism, American Scholar 53 (Winter 1983/84): trang 41-53.
(10) Frank Lentrichhia, After the New Crirticism (Chicago: University of Chicago Press, 1980), trang 109.
(11) John M. Bradbury, The Fugitives: A Critical Account (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 1958), trang 231.
(12) Allen Tate, What I owe to Cleanth Brooks, trong The Possibilities of Order: Cleanth Brooksabd His Work, ed. Lewis P. Simpson (Baton Rouge: Louisiana State University Press, 1976), trang 126.
(13) Bradbury, The Fugitives, trang 231.
(14) Bradbury, The Fugitives, trang 240.
(15) Cleanth Brooks, The Well Wrought Urn: Studies in the Structure of Poetry, rev. ed. (London: D. Dobson, 1968), trang 104.
(16) Bradbury, The Fugitives, trang 232.
(17) -nt-, trang 240.
(18) Robert Penn Warren, Pure and Impure Poetry, Kenyan Review 5 (Spring 1943): trang 229-54.
(19) Rovert Penn Warren, ed. The Rime of the Ancient Mariner (New York: Reynal and Hitchcock, 1946), trang 61-148.
(20) Rovert Penn Warren, ed. The Rime of the Ancient Mariner (New York: Reynal and Hitchcock, 1946), trang 65. Warren công kích 2 học giả nổi tiếng về Coleridge thời đó, Earl Leslie Griggs, người tuyên bố rằng bài thơ là “một cuộc hành trình đi vào chốn siêu nhiên chỉ để mà đi,” và John Livingston Lowes, người thấy bài thơ là “ảo tưởng chỉ để ảo tưởng”.
(21) -nt-, trang 1-6.

Leave a Reply